|
Sau mỗi con chữ trong các quy định, là quyền và lợi ích chính đáng của người dân
|
||
|
Ngay sau khi có hiệu lực, với những nội dung tiến bộ, Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã góp phần tích cực trong việc tạo ra môi trường đầu tư, kinh doanh ngày càng thông thoáng cho mọi thành phần kinh tế ở nước ta. Tuy nhiên, trong luật cũng chứa những điều khoản gây tranh cãi rất gay gắt. Xin đơn cử:
1.“Và” hay “hoặc”: chữ nào? Ngay sau khi có hiệu lực, với những nội dung tiến bộ, Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã góp phần tích cực trong việc tạo ra môi trường đầu tư, kinh doanh ngày càng thông thoáng cho mọi thành phần kinh tế ở nước ta. Tuy nhiên, trong luật cũng chứa những điều khoản gây tranh cãi rất gay gắt. Xin đơn cử: Khoản 4 Điều 16, Khoản 5 Điều 18 và Khoản 5 Điều 19 quy định, hồ sơ đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn phải có: chứng chỉ hành nghề của giám đốc hoặc tổng giám đốc (doanh nghiệp tư nhân chỉ có giám đốc) và cá nhân khác đối với công ty kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có chứng chỉ hành nghề. Điều đó có nghĩa là, với những lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh đòi hỏi phải có chứng chỉ hành nghề thì giám đốc (hoặc tổng giám đốc) và cá nhân khác trong công ty phải có chứng chỉ này. Trong khi đó, theo quy định cũ, thì việc kinh doanh những ngành nghề này chỉ cần một chứng chỉ hành nghề (của giám đốc hoặc của cá nhân quản lý khác). Vì vậy, với yêu cầu chứng chỉ hành nghề trên, các điều khoản này của Luật Doanh nghiệp năm 2005 được coi là đi ngược lại với mục tiêu tạo ra môi trường đầu tư thông thoáng, bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế ở Việt Nam, cho dù trong thực tế, nhà làm luật cũng hiểu vấn đề giống như các quy định cũ. Tuy nhiên, trong những dự thảo đầu tiên, với cách viết rất “tây” là: “Chứng chỉ hành nghề của giám đốc (hoặc Tổng giám đốc) hoặc/và cá nhân khác đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có chứng chỉ hành nghề”. Cách viết này có vẻ không phù hợp lắm với văn phong Việt nên Quốc hội không chấp nhận. Nhưng cuối cùng, Luật Doanh nghiệp năm 2005 lại có từ “và” như ta đã thấy. Lại có ý kiến giải thích rằng, do sơ suất trong việc soạn thảo văn bản, nên đã có sự nhầm lẫn giữa chữ "hoặc" thành chữ "và". Song, chữ “và” trong văn bản luật này là quá rõ ràng, dù giải thích thế nào thì cũng rất khó chấp nhận. Trong thực tế, ở rất nhiều hội nghị, nhiều diễn đàn khác nhau, giới doanh nghiệp, giới luật sư và những người có nhu cầu kinh doanh ở lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh cần phải có chứng chỉ hành nghề đang rất băn khoăn, lúng túng và gặp rất nhiều khó khăn trước yêu cầu “quá cao” và không cần thiết này. 2. Cũng lại chữ “và” Theo Khoản 1, Điều 66 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai, thì từ ngày 01/01/2008, người sử dụng đất phải có giấy chứng nhận (giấy hồng, giấy đỏ) mới được thực hiện các quyền chuyển đổi, cho thuê... “Trường hợp trước ngày 01/11/2007, người sử dụng đất đã nộp hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận theo đúng quy định của pháp luật mà chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận và người sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất được quy định tại các Khoản 1, 2, 5 điều 50 Luật Đất đai thì vẫn được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất” (Khoản 2 Điều 66 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP). Trên thực tế, nhiều khi người dân đã làm đủ các loại thủ tục giấy tờ theo hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng sau khi họ xếp hàng mãi, đơn của họ vẫn không được thụ lý. Lỗi này đổ cho ai? Cho đến nay, TP. Hồ Chí Minh có khoảng 62 loại giấy trắng và còn khoảng trên 80.000 căn nhà có "giấy trắng". Trong đó, có hơn 20.000 "giấy trắng" đang được thế chấp tại các ngân hàng. Vì vậy, quy định tại Điều 66 Nghị định 84 đã gây hoang mang cho những người đang sở hữu “giấy trắng” mà chưa chuyển sang được “giấy đỏ”. Vì vậy, từ nhiều tháng qua, các quận, huyện của TP. Hồ Chí Minh đã đề xuất UBND TP xin gia hạn thêm thời gian giao dịch "giấy trắng". Bởi nếu chấm dứt giao dịch "giấy trắng" sẽ gây ra sự xáo trộn lớn, nhất là vào thời điểm cuối năm, nhiều người dân có nhu cầu mua bán, thế chấp nhà đất để vay vốn làm ăn. Điều này làm cho UBND TP. Hồ Chí Minh hết sức lúng túng và chưa tìm ra hướng giải quyết. Trong khi đó, có rất nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này. Ông Nguyễn Khải, Vụ trưởng Vụ Đất đai, Bộ Tài nguyên và môi trường khẳng định: Khoản 2 Điều 66 Nghị định 84 có mở thêm hai đối tượng ngoại lệ, không bị mốc thời gian trên chi phối. Đó là, những trường hợp đã nộp đơn xin cấp giấy chứng nhận trước ngày 01/11/2007 mà chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận; và người sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất như quy định tại các Khoản 1, 2, 5 Điều 50 Luật Đất đai. Như vậy, người có “giấy trắng” theo Khoản 1, 2, 5 Điều 50 của Luật Đất đai có thể yên tâm về hiệu lực lâu dài của nó. Sở Tài nguyên và môi trường TP. Hồ Chí Minh cũng có quan điểm tương tự và cho rằng, việc thống nhất các loại giấy tờ nhà, đất là đúng đắn nhưng phải thống nhất như thế nào để không ảnh hưởng đến quyền lợi của dân. Nghị định 84 không yêu cầu người dân phải đi đổi “giấy trắng”. Tuy nhiên, theo một cán bộ ở Sở Xây dựng TP Hồ Chí Minh thì giải thích của Bộ, Sở Tài nguyên và môi trường là không hợp lý. Bởi nếu thực hiện theo Điều 66 trên, “giấy trắng” phải được đổi. Khoản 2 Điều 66 chỉ quy định một trường hợp “du di” là đang xin đổi “giấy trắng” trước ngày 01/11/2007, nhưng chưa được cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Đây là hai điều kiện cần và đủ cho một trường hợp. Nếu Khoản 2 Điều 66 cho “giấy trắng” được thoải mái giao dịch sẽ mâu thuẫn với Khoản 1 Điều 66 (tức sau ngày 01/01/2008, người sử dụng đất phải có giấy chứng nhận mới được giao dịch). Có lẽ, các tranh cãi giữa những cơ quan trên chỉ xoay quanh chữ “và”. Mà rõ ràng, chiểu theo đúng Điều 66, hiểu như vị cán bộ Sở Xây dựng TP. Hồ Chí Minh là đúng với nguyên nghĩa của từ “và”. Còn cách hiểu của các cơ quan ngành tài nguyên và môi trường sẽ thuộc trường hợp “hoặc”. Hai ví dụ trên nêu ra cho thấy, những rắc rối, phức tạp, những phiền hà gây cho dân; những thắc mắc, tranh cãi dường như chỉ quay quanh hai từ “và” hay “hoặc”. Chỉ là những chữ cái đơn giản, hết sức đơn giản, nhưng nó lại tốn không ít giấy mực tranh cãi về cách áp dụng; đặc biệt, nó có thể ảnh hưởng đến hiệu lực của cả một văn bản quy phạm pháp luật và nghiêm trọng hơn, nó ảnh hướng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức có liên quan. Ông cha ta đã từng nói: bút sa gà chết. Nói hạn hẹp là như vậy, nhưng có lẽ, chữ nghĩa không đùa với bất kỳ một ai, nhất là những chữ ấy do cơ quan nhà nước quy định, được đóng dấu đỏ, được ban hành để nhân dân cả nước thực hiện. Đã ghi ra thì phải hiểu đúng tinh thần của văn bản; không thể nói ý của nhà nước là thế này, nhưng viết nhầm thành thế kia được. Mỗi cơ quan, cán bộ nhà nước phải có trách nhiệm với từng chữ, từng từ mình viết ra để dân thi hành. Nếu không, hậu quả sẽ vô cùng đáng kể. ở trường hợp thứ nhất, nếu Nghị định của Chính phủ hay Thông tư của Bộ có sửa thành chữ “hoặc” hay trong thực tiễn cứ áp dụng là “hoặc” mà không phải là “và”; trong trường hợp thứ hai, người ta vẫn hiểu là “hoặc” để cho “giấy trắng” vẫn có hiệu lực sau 01/01/2008, thì bất luận trong hoàn cảnh nào, các cách làm như trên đều vi phạm pháp luật - điều không thể chấp nhận được khi cả xã hội ta đang nỗ lực xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Phương án duy nhất là sửa luật, sửa nghị định - một việc làm rất tốn kém và với quy trình làm luật ở Việt Nam thì nó cũng không dễ thực hiện nếu chỉ để sửa chữa một chữ trong cả luật hay nghị định. Nhưng phải thẳng thắn mà nói, quyền lợi của nhân dân cao phải hơn tất cả, dù tốn kém mấy cũng phải sửa cho được để tình trạng vi phạm pháp luật của cả cơ quan nhà nước, của doanh nghiệp và người dân không diễn ra và quan trọng hơn, là kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Hiện nay, chúng ta đang sửa đổi, bổ sung Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996, vì vậy nên chăng khi sửa đổi luật này, chúng ta cần có những quy định hợp lý về thủ tục rút gọn cho việc sửa đổi một hoặc một số rất ít điều đơn giản trong văn bản quy phạm pháp luật để việc sửa đổi được kịp thời, tránh lãng phí. Hơn nữa, mỗi khi ban hành luật, nghị định, chúng ta cần cân nhắc cụ thể vấn đề được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật. Ví dụ, đối với lĩnh vực “giấy trắng”, “giấy đỏ” như Nghị định số 84/2007/NĐ-CP đã đề cập, thì khi ban hành quy định này, ta phải khảo sát thực tế, phải thấy rằng không chỉ ở TP. Hồ Chí Minh mà ở rất nhiều vùng đất nước, “giấy trắng” vẫn còn tồn tại phổ biến trong các giao dịch của nhân dân, không thể ngày một, ngày hai mà có thể giải quyết xong được, nhất là khi đất đai là lĩnh vực rất phức tạp, nhạy cảm và cán bộ, công chức hoạt động trong lĩnh vực này còn thiếu, còn yếu như ở nước ta hiện nay. Vì vậy, chúng ta không thể chủ quan duy ý chí để bắt một chủ trương, chính sách nào đó của Nhà nước đi vào cuộc sống ngay tức khắc nếu điều kiện chủ quan, khách quan không cho phép ta. Và cuối cùng, vấn đề này có lẽ đã được bàn luận rất nhiều nhưng chưa có giải pháp thoả đáng, đó là trách nhiệm của những người có thẩm quyền trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Chúng ta thường thấy, một người tham ô, họ có thể bị buộc thôi việc, bị truy cứu trách nhiệm hình sự; lãnh đạo để cơ quan mình xảy ra nhiều sai phạm thì có thể phải tự từ chức. Nhưng rất tiếc là những người ban hành các văn bản quy phạm pháp luật không phù hợp với thực tế, có thể ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của hàng ngàn, hành triệu công dân lại chẳng bị sao. Đây là một vấn đề đáng để suy nghĩ về tính trách nhiệm. Nhưng có lẽ, sẽ rất khó để đưa ra kết luận - vì theo quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, văn bản quy phạm pháp luật thể hiện công sức của bao cơ quan với tính tập thể rất rõ ràng: cơ quan soạn thảo, thẩm định, thẩm tra và thông qua. Hơn nữa, quy trách nhiệm cho ai đây, nhất là nhiều khi xã hội luôn biến đổi không ngừng mà nhà làm luật không thể lường trước, dự báo được tất cả các vấn đề?
|
|
|||










