Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Chủ nhật, 25/06/2017, 01:56(GMT+7)
 
Ý kiến từ cơ sở

Việc thi hành một số quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND

 

 

Sau bốn năm thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND năm 2004 (gọi tắt là Luật), công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) ở địa phương đã có nhiều chuyển biến tích cực cả về nội dung và hình thức. Quy trình ban hành, tính hợp pháp, tính khả thi của VBQPPL được chú trọng; qua đó góp phần loại bỏ dần tình trạng ban hành VBQPPL tùy tiện ở một số địa phương. Nhận thức, sự quan tâm các cấp, các ngành đối với vai trò, vị trí của công tác ban hành VBQPPL ở địa phương có nhiều đổi mới so với trước đây. Tuy nhiên, bên cạnh những hiệu quả đã đem lại cho hoạt động xây dựng thể chế ở địa phương trong thời gian qua, hiện nay vẫn còn có một số quy định của Luật chưa được thực hiện hoặc được thực hiện mang tính hình thức.

1. Quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng

Quy định về đăng báo địa phương đối với VBQPPL của HĐND, UBND cấp tỉnh

Điều 8, Điều 51 của Luật và đặc biệt là Điều 7 của Nghị định số 91/2006/NĐ-CP ngày 06/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật ban hành VBQPPL của HĐND, UBND có yêu cầu: VBQPPL của HĐND, UBND cấp tỉnh phải được đăng toàn văn trên một tờ báo in chính thức của Đảng bộ cấp tỉnh trong thời hạn chậm nhất là năm ngày, kể từ ngày HĐND thông qua hoặc Chủ tịch UBND ký ban hành; Văn phòng HĐND, Văn phòng UBND tỉnh có trách nhiệm gửi VBQPPL của HĐND, UBND đến cơ quan báo chí để đăng báo trong thời hạn chậm nhất là ba ngày, kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành. Cơ quan báo chí có trách nhiệm đăng báo chậm nhất là hai ngày, kể từ ngày nhận được VBQPPL của HĐND, UBND.

Theo đó, các VBQPPL ở cấp tỉnh sau khi ban hành đều phải được đăng tải toàn văn trên báo in của Đảng bộ tỉnh (dưới đây gọi là báo) với mục đích công khai, minh bạch các quy định của Nhà nước, đồng thời để nhân dân có điều kiện tìm hiểu pháp luật, tham gia giám sát cơ chế, chính sách của Nhà nước. Tuy nhiên, hiện nay có rất ít VBQPPL được đăng toàn văn trên báo địa phương như quy định của Luật, mặc dù tại phần nơi nhận của các văn bản đều ghi gửi cơ quan báo, trừ một vài chỉ thị về phòng chống dịch cúm gia cầm, bão lụt trong giai đoạn cao điểm được đăng tải hoặc cũng chỉ dừng lại ở mức độ đưa tin đối với một vài chính sách mang tính chủ trương của cơ quan nhà nước như cơ chế thu hút cán bộ, công chức, khuyến khích nghỉ hưu trước tuổi.

Thực trạng trên bắt nguồn từ những nguyên nhân sau: trước hết, đó là sự phối hợp chưa tốt giữa cơ quan ban hành VBQPPL với cơ quan báo, vì báo địa phương là cơ quan thuộc Đảng bộ tỉnh chứ không thuộc HĐND hay UBND tỉnh, do đó, việc đăng tải VBQPPL của HĐND và UBND tỉnh cần có sự phối hợp. Không phải cứ quy định là cơ quan báo có trách nhiệm đăng tải mà cơ quan ban hành VBQPPL phải chủ động tạo cơ chế phối hợp với cơ quan báo, có như vậy thì việc đăng tải VBQPPL mới được tiến hành theo đúng quy định của Luật. Tuy nhiên, trên thực tế, cơ quan ban hành VBQPPL cũng ít khi chủ động phối hợp với cơ quan báo chí trong trường hợp này. Vì vậy, phần đa các VBQPPL của HĐND, UBND cấp tỉnh không được đăng báo cũng là lẽ đương nhiên.

Tiếp đó, một vấn đề rất quan trọng đang được đặt ra là, đến nay, cơ chế kinh phí chi cho việc đăng tải VBQPPL của HĐND và UBND cấp tỉnh trên báo của Đảng bộ tỉnh trong trường hợp này chưa được pháp luật quy định rõ ràng. Trong khi đó, những VBQPPL như: nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội hoặc các VBQPPL quy định về giá đất, quy chế quản lý đầu tư xây dựng, quy định về đầu tư vào khu công nghiệp… có nội dung khá dài nên nếu được đăng, chúng sẽ chiếm số trang tương đối nhiều và phải đăng nhiều số báo mới xong. Vì vậy, để cơ quan báo đăng tải VBQPPL thì kinh phí chi cho hoạt động này sẽ được xử lý như thế nào?

Thêm nữa, hiện nay, UBND các tỉnh đều có trang tin điện tử và công báo thực hiện việc đưa tin, đăng tải gần như là đầy đủ các VBQPPL của HĐND và UBND cấp tỉnh, kể cả các văn bản cá biệt quan trọng, thì việc quy định phải đăng tải các loại VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp tỉnh trên báo cũng nên cân nhắc lại. Có nên đăng tải tất cả các VBQPPL của HĐND và UBND tỉnh không, hay chỉ xem xét đăng những VBQPPL có liên quan đến đại bộ phận người dân như nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội hàng năm, quy định về đền bù, bồi thường, quy định về giá đất, quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở, công trình xây dựng, quy định về thu các loại phí, lệ phí... vì thực tế có nhiều VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp tỉnh cũng không thực sự cần thiết đối với đại bộ phận công chúng trong thời điểm hiện nay như quy định về quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí, quy định về tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện, quy định về quản lý sử dụng tài liệu mật... Nếu cần, người dân có thể tìm kiếm văn bản trong công báo. Hơn nữa, việc đăng tải các VBQPPL do cơ quan nhà nước cấp tỉnh ban hành trên công báo đã đáp ứng nguyên tắc minh bạch mà Nhà nước ta đã cam kết khi gia nhập WTO. Vì vậy, việc đăng báo tất cả VBQPPL cần được xem xét lại để tránh tình trạng lãng phí không cần thiết.

Quy định về niêm yết VBQPPL của HĐND và UBND cấp huyện và cấp xã tại trụ sở cơ quan và một số địa điểm công cộng

Khác với quy định về hình thức đăng tải VBQPPL của HĐND và UBND cấp tỉnh trên một tờ báo in chính thức của Đảng bộ tỉnh, VBQPPL của HĐND và UBND cấp huyện sau khi ban hành phải được niêm yết liên tục ít nhất là 30 ngày và 20 ngày đối với VBQPPL của cấp xã ngay tại trụ sở cơ quan ban hành văn bản. Ngoài ra, Chủ tịch UBND cấp huyện và cấp xã có thể quyết định việc cho niêm yết VBQPPL tại các địa điểm công cộng như: nhà văn hóa của huyện, xã, thôn, làng, ấp, bản, phum, sóc, cụm dân cư, tổ dân phố; trung tâm giáo dục cộng đồng; điểm bưu điện - văn hóa cấp xã hoặc các điểm tập trung dân cư khác (Điều 8, Điều 51 của Luật và Điều 9 của Nghị định số 91/2006/NĐ-CP). Việc niêm yết này nhằm công khai các quy định về quản lý nhà nước của chính quyền sở tại đến các tổ chức, người dân nơi đó để chấp hành, thực thi và giám sát. Tuy nhiên, việc niêm yết văn bản tại trụ sở cơ quan UBND cấp huyện trong thời gian qua cũng chỉ được thực hiện mang tính hình thức ở một vài địa phương và UBND cấp xã thì rất ít gặp; còn việc niêm yết văn bản tại một số địa điểm công cộng khác như Luật đã nêu lại còn hiếm gặp hơn. Vì vậy, phần đa các VBQPPL của các cấp này ban hành mà người dân sở tại không hề biết.

Nguyên nhân của vấn đề một phần là do sự thiếu quan tâm và nhận thức chưa đúng vai tròN, mục đích của việc niêm yết VBQPPL của HĐND và UBND cấp huyện và cấp xã. Bên cạnh đó, nó còn có nguyên nhân từ hoạt động giám sát, kiểm tra đối với công tác xây dựng thể chế, tuyên truyền pháp luật ở địa phương hiện nay chưa được cấp có thẩm quyền thực hiện thường xuyên và đầy đủ, nên việc công khai hóa các quy định ở cấp huyện và cấp xã theo quy định của Luật không được thi hành nghiêm chỉnh.

Việc dịch VBQPPL của HĐND và UBND các cấp ra tiếng dân tộc thiểu số

Theo Điều 6 của Luật, thì UBND cấp tỉnh có trách nhiệm quy định việc dịch VBQPPL của địa phương ra tiếng dân tộc thiểu số phù hợp với điều kiện thực tiễn ở địa phương. Quy định này thể hiện sự quan tâm của Nhà nước trong việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến người đồng bào dân tộc thiểu số, mong muốn mọi người dân không phân biệt dân tộc đều được bình đẳng trong việc tiếp cận, tìm hiểu các quy định của Nhà nước. Nhưng hiện nay, việc dịch VBQPPL của địa phương sang tiếng dân tộc hầu như không được thực hiện. Gần đây, chỉ có một vài địa phương tự dịch, chuyển thể một số quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình để tuyên truyền cho đồng bào dân tộc như ở xã Vĩnh Quang, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định, còn việc dịch VBQPPL của HĐND và UBND sang tiếng dân tộc thiểu số thì chưa thấy.

Tồn tại nêu trên có phần xuất phát từ việc quy định thiếu quyết đoán, mang tính tùy nghi của Luật. Vì  Điều 6 của Luật quy định: “VBQPPL của HĐND, UBND có thể được dịch ra tiếng dân tộc thiểu số”. Như vậy, địa phương nơi có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống cũng không cần thiết phải dịch văn bản sang tiếng dân tộc thiểu số, bởi Luật có quy định nhưng không bắt buộc. Trong khi đó, ở nhiều huyện miền núi của nhiều tỉnh trong cả nước như Quảng Ngãi, Bình Định, Lâm Đồng, Gia Lai, Lào Cai…, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm một số lượng tương đối lớn và đa dạng, thậm chí, nhiều xã có bí thư, chủ tịch đều là người dân tộc thiểu số. Vì vậy, họ rất cần những quy định liên quan trực tiếp đến đời sống của đồng bào, địa phương mình được dịch sang tiếng dân tộc để hiểu và hướng dẫn bà con thực hiện, như các quy định của tỉnh về chương trình 135, chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo…. Nhìn lại quá khứ, cách đây 40 năm, Hội đồng Chính phủ đã đặc biệt quan tâm đến việc sử dụng văn bản là chữ viết của đồng bào dân tộc thiểu số. Tại Quyết định số 153-CP ngày 20/8/1969 về việc xây dựng, cải tiến và sử dụng chữ viết của các dân tộc thiểu số, Hội đồng Chính phủ có quy định: “Nhân dân các dân tộc thiểu số đã có chữ viết riêng thì có quyền dùng chữ dân tộc trong việc ghi sổ sách, viết thư, và làm đơn từ gửi cho các có quan Nhà nước. ở những nơi mà hầu hết đồng bào thuộc một dân tộc và cán bộ, nhân dân đã biết chữ dân tộc, thì công văn, giấy tờ từ huyện xuống xã nên dùng chữ dân tộc”.

Bên cạnh đó, có một nguyên nhân quan trọng, là hiện nay, một số dân tộc thiểu số chưa có hệ thống chữ viết hoặc chữ viết chưa hoàn chỉnh, chưa được cải tiến nên việc dịch văn bản sang tiếng dân tộc thiểu số khó thực hiện được. Thực tiễn này đòi hỏi Nhà nước phải quan tâm hơn nữa đến việc nghiên cứu phát triển, cải tiến hệ thống chữ viết của đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt đối với những dân tộc có số lượng đông và sinh sống tập trung, ổn định. Có như vậy, quy định về dịch VBQPPL sang tiếng dân tộc thiểu số mới thực hiện được.

2. Kiến nghị

Để nâng cao tính hiệu quả của Luật Ban hành VBQPPL của HĐND, UBND năm 2004, theo chúng tôi, nên xem xét, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung những nội dung nêu trên trong thời gian tới theo hướng:

- Để tiết kiệm và tránh tính hình thức, nên chăng bỏ yêu cầu phải đăng tải VBQPPL của HĐND và UBND cấp tỉnh trên báo của Đảng bộ tỉnh. Hoặc nếu phải đăng, thì phải nêu cụ thể những VBQPPL thực sự cần đăng tải và phải có dự trù kinh phí cho việc này.

- Quy định cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ của cấp trên và của cả người dân đối với việc niêm yết VBQPPL của HĐND và UBND cấp huyện và cấp xã tại trụ sở cơ quan và một số địa điểm công cộng. Có như vậy, người dân mới có cơ hội tiếp cận với các quy định của cơ quan nhà nước địa phương.

- Quy định rõ ở những địa phương có từ bao nhiêu phần trăm dân số là người dân tộc thiểu số trở lên, thì các VBQPPL của địa phương được ban hành phải được dịch ra tiếng dân tộc thiểu số. /.

Nguyễn Thanh Hoài - Sở Tư pháp Quảng Ngãi
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Góp ý Luật Đất đai sửa đổi: Các công chứng viên nói gì? (09/04/2013)
Sửa Hiến pháp và chính quyền đô thị (27/03/2013)
Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn của Hà Nội hiện nay (01/02/2012)
Hà Nội, TP. HCM: Được xử phạt vi phạm hành chính cao hơn - có khả thi? (10/11/2011)
Chuyển đổi mô hình tăng trưởng và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển của Hà Nội (26/10/2011)
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị ở thành phố Hà Nội (26/08/2011)
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã ở các tỉnh Tây Nguyên hiện nay (10/06/2011)
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị ở thành phố Hà Nội (26/08/2011)
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo trong hai dự thảo luật

Công khai thông tin với việc thực hiện phản biện xã hội

Thư của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gửi Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

CÔNG BỐ VÀ TRAO NGHỊ QUYẾT BỔ NHIỆM VIỆN TRƯỞNG VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt Nam

Khai mạc trọng thể Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Lựa chọn chính sách cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay

Chất vấn và hậu chất vấn

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân