Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ năm, 25/05/2017, 19:48(GMT+7)
 
Ý kiến từ cơ sở

Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cấp cơ sở ở Đăk Lăk

1. Những chuyển biến tích cực trong hệ thống chính trị cấp cơ sở ở ĐắkLắk

Trong những năm qua, Ban thường vụ Tỉnh ủy ĐắkLắk đã chú trọng xây dựng hệ thống chính trị (HTCT) các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, điều hành của chính quyền để phát huy và khai thác tiềm năng kinh tế, bảo đảm an ninh - quốc phòng, chăm lo đời sống cho đồng bào các dân tộc, xóa đói giảm nghèo. Sự nỗ lực đó đã và đang góp phần quan trọng cho sự phát triển và ổn định tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội, đời sống nhân dân không ngừng đựơc cải thiện, HTCT cơ sở được xây dựng và từng bước được kiện toàn, hoạt động có hiệu quả, bộ mặt kinh tế - xã hội ngày càng thay đổi.

Đội ngũ cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn đã tăng lên cả về số lượng và chất lượng. Số cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn của tỉnh hiện có là 3.691 người, trong đó 97,9% là cán bộ tại cơ sở, còn lại là cán bộ tăng cường từ huyện xuống, cán bộ hưu trí... (cán bộ là nữ chiếm 12,64%, dân tộc thiểu số chiếm 21,81%) với độ tuổi bình quân là 42,09 tuổi. Trình độ đại học chiếm 5,58%; cao đẳng, trung cấp 25,11%, sơ cấp 10,87%. Trình độ lý luận chính trị cao cấp chiếm 4,8%; trung cấp 31,74%; sơ cấp 14,14%.

   Kết quả đánh giá chất lượng tổ chức đảng và đảng viên ở cơ sở xã, phường, thị trấn năm 2009, trong tổng số 176 tổ chức cơ sở đảng được đánh giá có 106 tổ chức đạt trong sạch vững mạnh, chiếm 60,22%, có 67 tổ chức hoàn thành nhiệm vụ, chiếm 38,06%, có ba tổ chức yếu kém, chiếm 1,7%. Về đảng viên, có 21.760 đảng viên đủ tư cách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, chiếm 25,2% và còn 205 đảng viên vi phạm tư cách, chiếm 0,94%.

Hầu hết các tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn đã giữ vững và phát huy vai trò là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị, là cầu nối giữa Đảng với nhân dân ở cơ sở, luôn thể hiện được vai trò lãnh đạo nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh, tổ chức các phong trào quần chúng nhân dân thực hiện phát huy quyền làm chủ của mình, chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, chỉ đạo các chi bộ trực thuộc Đảng bộ cơ sở xây dựng và thực hiện tốt quy chế làm việc, từng bước chú trọng đổi mới nội dung, nâng cao chất lượng sinh hoạt của chi bộ.

Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đã có những chuyển biến tích cực; đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên được hình thành và củng cố; việc tổ chức học tập, nghiên cứu, quán triệt, thực hiện các nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đã được triển khai sâu rộng hơn đến cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ được triển khai cơ bản, thực hiện đảm bảo quy trình, chất lượng tiêu chuẩn và tỷ lệ, cơ cấu phù hợp. Nhiều cấp ủy viên, cán bộ, đảng viên ở cơ sở đã được rèn luyện, thử thách, trưởng thành qua thực tiễn công tác. Công tác bồi dưỡng, kết nạp quần chúng ưu tú vào Đảng được triển khai thực hiện thường xuyên, quan tâm kết nạp đảng viên ở những thôn, buôn, chưa có đảng viên là người tại chỗ. Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng ở cơ sở từng bước được tăng cường, đổi mới; nội dung kiểm tra đã đi vào trọng tâm, trọng điểm hơn trước.

Khối dân vận, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ở cơ sở đã tăng cường các hoạt động tuyên truyền, vận động nhân dân củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, hăng hái tham gia phát triển sản xuất, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.

Hoạt động của Hội đồng nhân dân (HĐND) xã, phường thị trấn đã có những chuyển biến tích cực, dần đi vào nền nếp, chất lượng các kỳ họp được nâng lên. Việc xây dựng và ban hành nghị quyết ngày càng có chất lượng, sát với tình hình thực tế của địa phương; cụ thể hóa các chủ trương của Đảng để giám sát Ủy ban nhân dân (UBND) cùng cấp, các bộ phận trực thuộc UBND trong triển khai thực hiện.

Hoạt động của UBND các xã, phường, thị trấn ngày càng có hiệu quả, thực hiện tốt mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân; có tiến bộ trong thực hiện cải cách hành chính và thực hiện Quy chế dân chủ. Chức năng, nhiệm vụ của UBND được thể hiện rõ nét hơn trong công tác quản lý và điều hành. Các bộ phận chuyên môn, Ban tự quản thôn, buôn, tổ dân phố đã từng bước được củng cố, tăng cường về số lượng, nâng cao chất lượng hoạt động, cơ bản đáp ứng trước mắt yêu cầu nhiệm vụ chính trị ở đia phương

 

2. Một số hạn chế

Tuy quá trình đổi mới và xây dựng củng cố HTCT ở cơ sở những năm qua đã và đang có sự chuyển biến tích cực, nhưng chưa toàn diện; tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhưng chưa vững chắc; tỷ lệ đói nghèo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn cao, trình độ dân trí thấp so với mặt bằng chung của toàn tỉnh. Các hạn chế này đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết và bất cập trong bản thân HTCT, bộ máy tổ chức của chính quyền, trong công tác cán bộ và trong cơ chế hoạt động của từng tổ chức cũng như cả HTCT ở cơ sở. Thể hiện rõ nhất là năng lực nắm bắt đường lối chủ trương, chính sách, nghị quyết của cấp trên để vận dụng cụ thể vào cấp mình, năng lực quán triệt và tổ chức thực hiện, tinh thần trách nhiệm... còn yếu. Một số cán bộ, đảng viên còn sa sút ý chí chiến đấu; tư tưởng cục bộ địa phương, bè phái chưa được khắc phục một cách triệt để. Đội ngũ cán bộ cơ sở tuy đủ về số lượng nhưng còn hạn chế về trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ và lý luận chính trị. Toàn tỉnh hiện vẫn còn 650 cán bộ chuyên trách và 1.054 cán bộ, công chức (thuộc bảy chức danh) của xã, phường, thị trấn chưa qua đào tạo lý luận. Việc bố trí cán bộ công chức xã chưa đúng với chuyên môn nghiệp vụ còn khá phổ biến.

Một số cấp ủy cơ sở chưa tập trung đúng mức vào công tác xây dựng Đảng, chưa coi trọng đổi mới phương thức lãnh đạo, phong cách, lề lối làm việc; nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng ở nhiều nơi thực hiện chưa tốt; chế độ sinh hoạt Đảng, nội dung sinh hoạt chi bộ chậm đổi mới, phân công nhiệm vụ cho cấp ủy và đảng viên thiếu cụ thể, nhiều xã cán bộ chủ chốt kiêm nhiệm nhiều việc. Toàn tỉnh vẫn còn 26 thôn, buôn chưa có đảng viên; trên 400 buôn, thôn và 300 trường học chưa có chi bộ.

Một số cơ sở vẫn còn mất đoàn kết nội bộ, thiếu thống nhất trong lãnh đạo, quản lý; một số nơi, cán bộ chủ chốt còn vi phạm nguyên tắc quản lý tài chính, quản lý đất đai…

Mối quan hệ giữa các tổ chức trong HTCT trên một số mặt chưa tốt. Công tác đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên hàng năm ở một số nơi thiếu chặt chẽ, chưa phản ánh đúng thực chất, nhiều Đảng bộ ở cơ sở chưa dồn sức tập trung xây dựng HTCT ở thôn, buôn, tổ dân phố gắn với củng cố nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng, năng lực hoạt động của bộ máy chính quyền ở cơ sở.

Việc thực hiện chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát của đảng ủy, ủy ban kiểm tra ở một số đơn vị chưa hiệu quả. Tình trạng tham nhũng, lãng phí, vi phạm pháp luật chưa được ngăn chặn có hiệu quả, nhiều vụ việc xảy ra ở cơ sở nhưng chưa chủ động giải quyết triệt để, còn đùn đẩy lên cấp trên. Giám sát là một nhiệm vụ mới, cấp ủy cơ sở còn lúng túng trong quá trình triển khai thực hiện nên hiệu quả đạt được còn hạn chế.

Hoạt động của khối dân vận, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ở một số nơi còn mang tính hình thức, hành chính hóa.

Hoạt động của chính quyền cơ sở hiệu lực, hiệu quả chưa cao; lề lối, phong cách  làm việc chậm được đổi mới cải tiến; việc sắp xếp tổ chức bộ máy, cải cách hành chính chưa đạt yêu cầu. Việc tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước của các ngành, các cấp, có lúc thiếu chặt chẽ, không đồng bộ, tiến triển chậm. Một số lĩnh vực còn buông lỏng quản lý, dẫn đến sai phạm.

Hoạt động giám sát của HĐND trên một số lĩnh vực còn lúng túng, thiếu chiều sâu, tác dụng thấp.

 

3. Nhiệm vụ cơ bản xây dựng hệ thống chính trị cơ sở ở ĐắkLắk

Năm 2010 và định hướng đến năm 2015, tỉnh ĐắkLắk đề ra các mục tiêu chủ yếu, đó là:

Thứ nhất, tập trung củng cố các tổ chức cơ sở đảng, hạn chế thấp nhất số tổ chức cơ sở đảng yếu kém; 100% thôn, buôn, tổ dân phố có chi bộ đảng; trên 75% số tổ chức cơ sở đảng đạt tiêu chuẩn trong sạch vững mạnh; có từ 90% trở lên đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ. Thường xuyên chăm lo phát triển đảng viên mới, coi trọng chất lượng, gắn với việc phát triển đảng viên với xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, phường thị trấn; hàng năm có 100% tổ chức cơ sở đảng phát triển được đảng viên, kết nạp từ 2.500 đảng viên trở lên.

Thứ hai, phát huy hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND và UBND, thực hiện tốt cải cách hành chính. Phấn đấu từ 70-80% chính quyền cấp xã vững mạnh, hạn chế thấp nhất chính quyền cấp xã yếu kém.

Thứ ba, xây dựng, củng cố nâng cao chất lượng, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở cơ sở. Giảm số lượng Tổ chức Mặt trận và các đoàn thể nhân dân cơ sở yếu kém, tất cả các thôn, buôn, tổ dân phố đều có ban Mặt trận, chi hội đoàn thể; tập hợp đại bộ phận quần chúng vào các tổ chức đoàn thể, hội quần chúng; 90% trở lên số lượng các Chủ tịch Mặt trận và trưởng các đoàn thể cấp xã, phường, thị trấn phải là đảng viên.

Thứ tư, đẩy mạnh công tác quy hoạch, chăm lo đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở để đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới. Phấn đấu từ nay đến cuối năm 2015 có trên 80% cán bộ chủ chốt, các chức danh bầu cử cấp xã đạt trình độ học vấn từ trung học phổ thông (hoặc bổ túc THPT) và trình độ lý luận chính trị từ trung cấp trở lên; 100% cán bộ chuyên môn thuộc UBND xã có tình độ chuyên môn trung cấp, trình độ lý luận chính trị sơ cấp trở lên. Đến năm 2015, đội ngũ cán bộ chuyện trách và công chức cấp xã đều phải tốt nghiệp trung học phổ thông (hoặc bổ túc THPT), có trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên; phấn đấu đạt trên 70% số người giữ các chức danh Bí thư, Phó Bí thư, Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên và 20% có trình độ đại học; 100% cán bộ trưởng thôn, phó trưởng thôn, buôn, tổ dân phố được bồi dưỡng lý luận chính trị, kỹ năng quản lý cộng đồng; 100% cán bộ đoàn thể được bồi dưỡng nghiệp vụ và kỹ năng công tác chuyên môn.

 

4. Giải pháp tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở Đắk Lắk hiện nay

Một là, làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức rõ hơn vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng về chính trị - kinh tế, an ninh, quốc phòng, bảo vệ môi trường sinh thái của vùng miền núi Tây Nguyên trong tình hình mới; tăng cường đầu tư phát triển, tạo thế và lực để ĐắkLắk phát huy tốt tiềm năng, tham gia vào sự phát triển chung của khu vực và cả nước

Thực hành nghiêm Quy chế dân chủ, trước hết là dân chủ trong các tổ chức đảng, kiên quyết khắc phục tư tưởng tự ti, bảo thủ, trông chờ, ỷ lại, an phận cam chịu đói nghèo trong cán bộ và nhân dân.

Hai là, tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ đảng viên trong HTCT ở cơ sở, khẳng định tổ chức cơ sở là nền tảng của Đảng, là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, có vị trí rất quan trọng trong hệ thống tổ chức của Đảng và là nơi tổ chức thực hiện mọi chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước .

Củng cố kiện toàn, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng, xây dựng tổ chức cơ sở đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Hoàn thiện xây dựng quy chế làm việc của cấp ủy, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, giữ nghiêm kỷ luật, tăng cường đoàn kết trong Đảng. Đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên, nhất là những thôn, buôn, tổ dân phố, các tổ chức chưa có đảng viên, chú ý người tại chỗ, vùng tôn giáo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

 Phải tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng; cấp ủy ủy ban kiểm tra cơ sở phải xây dựng phương hướng, nhiệm vụ, chương trình công  tác kiểm tra, giám sát toàn khóa, hàng năm và thực hiện kiểm tra, giám sát theo chương trình kế hoạch đã đề ra.Tập trung kiểm tra, giám sát cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, mặt trận, đoàn thể trong việc thực hiện các nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, cũng như việc chấp hành nguyên tắc sinh hoạt Đảng và thực hiện nhiệm vụ của đảng viên; kiểm tra Quy chế làm việc của cấp ủy cơ sở; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đảng viên trong chi bộ.

Trước mắt, Ban thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo các cơ quan chức năng tiến hành tổng kết việc xây dựng HTCT ở cơ sở. Đồng thời yêu cầu cấp huyện, thành phố, thị xã chỉ đạo các xã, phường, thị trấn xây dựng và hoàn thiện cơ bản phương thức lãnh đạo của các cấp ủy cơ sở.

Ba là, phát huy dân chủ, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân là một trong bảy định hướng cơ bản nhằm tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Để làm cho Nhà nước mạnh lên, quản lý có hiệu lực và hiệu quả, theo chúng tôi, cần đổi mới và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của của chính quyền cấp cơ sở. Hằng năm, chính quyền cấp cơ sở xây dựng kế hoạch kiện toàn, củng cố, bồi dưỡng kiến thức về công tác quản lý và hoạt động cho Ban tự quản thôn, buôn, tổ dân phố; đồng thời thực hiện tốt Quy chế dân chủ cơ sở theo tinh thần Chỉ thị số 30 của Bộ Chính trị và Pháp lệnh số 34 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tạo điều kiện để nhân dân thực hiện quyền làm chủ trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và dựa vào nhân dân để xây dựng chính quyền cơ sở trong sạch, vững mạnh. Tiến hành xây dựng, hoàn thiện tổ chức tự quản (ban tự quản) của thôn, buôn, tổ dân phố, để thực sự là một tổ chức đại diện cho nhân dân, có khả năng tổ chức và quản lý các phong trào hành động của quần chúng, thể hiện năng lực và hiệu quả là cầu nối của chính quyền cơ sở, đáp ứng yêu cầu xử lý những nảy sinh trong cuộc sống ở khu dân cư.

Bốn là, cần đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của khối dân vận, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, nâng cao vai trò chủ động tham mưu cho cấp ủy cơ sở, khắc phục tình trạng “hành chính hóa”, dành nhiều thời gian làm việc ở khu dân cư; đa dạng hóa các hình thức tập hợp quần chúng, mở rộng các tổ chức và hoạt động tự quản của nhân dân dưới nhiều hình thức phong phú; nâng cao tính tự giác của hội viên, đoàn viên.

Xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc; đẩy mạnh công tác kết nghĩa giữa các thôn người Kinh với buôn đồng bào dân tộc thiểu số, giữa dân cư ở vùng thuận lợi với vùng khó khăn. Đẩy mạnh việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Xây dựng các quy định lấy ý kiến nhân dân, tổ chức thực hiện tốt và đảm bảo khách quan việc cán bộ, nhân dân ở khu dân cư, ở cơ quan, đơn vị góp ý xây dựng đảng viên, tổ chức cơ sở đảng, các chức danh cán bộ chính quyền.

Năm là, cần thực hiện nhất thể hóa chức danh Bí thư và Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn. Đây là mô hình phù hợp với xu hướng phát triển của thời đại và hội nhập. Tuy nhiên, Bí thư kiêm Chủ tịch, theo chúng tôi, cần có đủ có ít nhất ba điều kiện: i) Ở đó tập thể cấp ủy mạnh, đoàn kết thống nhất trong một quy chế hoạt động lãnh đạo và quản lý khoa học, đổi mới, hiệu quả; ii) Bí thư kiêm Chủ tịch phải là cán bộ giỏi toàn diện, có phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, có năng lực thực sự, được đào tạo cơ bản đáp ứng được nhiệm vụ kiêm nhiệm; iii) Đảng bộ, chi bộ ở đó phải trong sạch vững mạnh, có đội ngũ đảng viên thực sự tiên phong gương mẫu, vững vàng về chính trị, có đạo đức trong sáng, lối sống lành mạnh, gắn bó với nhân dân.

Đảng ta chủ trương hướng về cơ sở, đề cao các sáng kiến từ cơ sở. Nhấn mạnh vai trò của cơ sở thực chất là nhấn mạnh vai trò của nhân dân trong xây dựng chế độ mới, xây dựng chế độ dân chủ, thực hiện quyền lực của nhân dân. Tập trung xây dựng tổ chức HTCT vững mạnh sẽ từng bước làm cho chính trị, kinh tế-xã hội, an ninh-quốc phòng ở ĐắkLắk nói riêng và Tây Nguyên nói chung ngày càng vững bước đi lên CNXH

Sáu là, thường xuyên chăm lo đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở để đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới.

Có chính sách phù hợp để thu hút cán bộ trẻ, có năng lực về công tác tại cơ sở, nhất là sinh viên tốt nghiệp tại các trường đại học, cao đẳng để thay thế những cán bộ lớn tuổi, chưa qua đào tạo, năng lực hạn chế; có cơ chế, chính sách để giải quyết đối với những cán bộ chưa được chuẩn hóa nhưng chưa đủ tuổi, đủ năm công tác để nghỉ theo chế độ. Nghiên cứu đổi mới nội dung, hình thức đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ; chú trọng bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ và kinh nghiệm để giải quyết những tình huống cụ thể xảy ra ở cơ sở.

Hằng năm, phải có kế hoạch bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ chuyên trách, cấp ủy viên cơ sở, chú trọng bồi dưỡng, đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ thôn, buôn, tổ dân phố... đáp ứng yêu cầu công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ.

ThS. Trường Chính trị tỉnh ĐắkLắk.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Góp ý Luật Đất đai sửa đổi: Các công chứng viên nói gì? (09/04/2013)
Sửa Hiến pháp và chính quyền đô thị (27/03/2013)
Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn của Hà Nội hiện nay (01/02/2012)
Hà Nội, TP. HCM: Được xử phạt vi phạm hành chính cao hơn - có khả thi? (10/11/2011)
Chuyển đổi mô hình tăng trưởng và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển của Hà Nội (26/10/2011)
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị ở thành phố Hà Nội (26/08/2011)
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã ở các tỉnh Tây Nguyên hiện nay (10/06/2011)
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị ở thành phố Hà Nội (26/08/2011)
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo trong hai dự thảo luật

Công khai thông tin với việc thực hiện phản biện xã hội

Thư của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gửi Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

CÔNG BỐ VÀ TRAO NGHỊ QUYẾT BỔ NHIỆM VIỆN TRƯỞNG VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt Nam

Khai mạc trọng thể Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Lựa chọn chính sách cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay

Chất vấn và hậu chất vấn

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân