Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Chủ nhật, 25/06/2017, 01:57(GMT+7)
 
Ý kiến từ cơ sở

Thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường tại Đà Nẵng

 

Thành phố Đà Nẵng là một trong mười địa phương được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) chọn làm thí điểm thực hiện không tổ chức Hội đồng nhân dân (HĐND) tại bảy quận, huyện và 45 phường. Đà Nẵng đã đặt ra hai phương án: Chỉ tổ chức HĐND ở cấp thành phố và cấp xã thuộc huyện Hòa Vang; bỏ HĐND các quận, huyện và HĐND phường (Phương án 1); Chỉ tổ chức HĐND ở cấp thành phố; bỏ HĐND ở tất cả các quận, huyện và phường, xã (Phương án 2). Mỗi phương án điều có những điểm mạnh và điểm hạn chế riêng và Đà Nẵng đã thực hiện Phương án 1 một cách thận trọng, sáng tạo và trên cơ sở kết quả thí điểm, dần tiến tới thực hiện Phương án 2. Vừa qua, Đà Nẵng đã tổng kết một bước việc thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường1.

I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN THÍ ĐIỂM

1. Quyền dân chủ, quyền đại diện của người dân tiếp tục được duy trì và phát huy

1.1. Khi thực hiện không tổ chức HĐND cấp huyện, quận, phường, quyền làm chủ, quyền đại diện của người dân được thực hiện thông qua nhiều kênh: thông qua đại biểu Quốc hội, Đoàn Đại biểu Quốc hội của thành phố; Thường trực HĐND, các Ban, Tổ đại biểu và của đại biểu HĐND thành phố, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc (UBMTTQ), đoàn thể các cấp, đặc biệt là sự phản ánh của tổ dân phố và ý kiến trực tiếp của người dân. Qua thông tin tiếp nhận, Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp chỉ đạo xử lý theo thẩm quyền, đồng thời tập hợp ý kiến phản ánh những vấn đề vượt thẩm quyền đến cơ quan chức năng giải quyết. UBND các cấp luôn chú trọng công tác tiếp công dân, giải quyết các khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân. Mọi thông tin của người dân đã được tiếp nhận, xem xét trả lời hoặc giải quyết kịp thời theo thẩm quyền, cũng như tạo điều kiện để nhân dân phản ảnh qua kênh thông tin của UBMTTQ, đoàn thể các cấp.

1.2. Các chế độ, chính sách của  Đảng và Nhà nước được thực hiện công khai đến toàn thể nhân dân thông qua nhiều hình thức như công tác tuyên truyền pháp luật hàng năm, qua các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội và trực tiếp từ các cuộc họp của Tổ dân phố... UBND các huyện, quận, phường cũng  thường xuyên cập nhật, niêm yết công khai các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các văn bản của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên và địa phương như: quy hoạch khu dân cư, khu sản xuất kinh doanh, khu thương mại, khu vui chơi giải trí, quy hoạch các tuyến đường, các dự án sử dụng đất, các công trình phúc lợi liên quan đến địa phương; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, các thủ tục, quy trình, thời gian, lệ phí trong thực hiện cải cách thủ tục hành chính; công khai các khoản đóng góp của nhân dân theo Pháp lệnh và Nghị quyết của HĐND thành phố; công khai mức thuế đối với từng hộ gia đình. Các hình thức công khai được niêm yết bằng văn bản ở vị trí thuận lợi tại trụ sở UBND các cấp để tổ chức, công dân tiện tra cứu hoặc in sao gửi đến từng hộ gia đình, phổ biến trong cuộc họp tổ dân phố, thôn, thông báo trên đài truyền thanh… Như vậy, quyền dân chủ, quyền được tiếp nhận thông tin của người dân khi thực hiện không tổ chức HĐND huyện, quận, phường vẫn được đảm bảo.

1.3. Việc triển khai và thực hiện Pháp lệnh Dân chủ ở cơ sở trên địa bàn thành phố ngày càng đi vào nề nếp và có chuyển biến tích cực, phát huy tốt vai trò làm chủ của nhân dân tại cơ sở; qua đó đã huy động được sức mạnh tổng hợp của nhân dân để phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị, cải thiện môi trường, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội:

UBND các cấp đã luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi để người dân tham gia xây dựng chính quyền, cụ thể như: phân công các thành viên UBND đứng điểm cùng tham gia các cuộc họp của Tổ dân phố, nghe nhân dân trao đổi, phản ánh ý kiến, đóng góp xây dựng chính quyền và để nhân dân tham gia ý kiến trực tiếp trong các cuộc họp hoặc gửi phiếu xin ý kiến về các công trình “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, tham gia góp ý các quy ước, công việc nội bộ khu dân cư. Nhiều phường duy trì được hội nghị nhân dân theo định kỳ ở tổ dân phố. Mặc dầu không còn HĐND cấp phường, nhưng một số việc lớn, UBND phường - thông qua Tổ dân phố và UBMTTQ - để nhân dân tham gia ý kiến trước khi quyết định; đặc biệt người dân đã phát huy dân chủ trực tiếp trong việc bầu Tổ trưởng Tổ dân phố.

Đã xây dựng quy chế tiếp dân của lãnh đạo UBND và tổ chức tiếp dân theo định kỳ hàng tuần. Đối với những trường hợp bức xúc, Văn phòng UBND huyện, quận, phường bố trí lịch riêng để lãnh đạo UBND huyện, quận, phường tổ chức tiếp dân, kịp thời giải quyết những vướng mắc, kiến nghị, đề xuất của nhân dân. 

Khi thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường, mức độ hài hài lòng của nhân dân đối với chính quyền tiếp tục được tăng lên. Năm 2009, kết quả khảo sát mức độ hài lòng của công dân và tổ chức tại 69 cơ quan, đơn vị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đối với việc cung ứng dịch vụ hành chính công đều đạt ở mức cao (trên 95%). Ngoài ra, “việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở được chú trọng và dần đi vào nề nếp. Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố, HĐND, UBND và lãnh đạo các cơ quan hành chính thường xuyên tổ chức tiếp dân định kỳ, tiếp dân các dự án, chú trọng giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân, kịp thời xử lý những khó khăn, vướng mắc ở cơ sở”2.

Nhìn chung, khi thực hiện không tổ chức HĐND huyện, quận, phường, bộ máy chính quyền cơ sở tinh giản hơn. Nhờ vậy, thời gian trả lời và giải quyết những bức xúc của nhân dân nhanh hơn do bớt khâu trung gian. Qua đó cho thấy, quyền đại diện và quyền dân chủ, quyền được tiếp nhận thông tin của người dân vẫn được đảm bảo tốt.

2. Sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng từ thành phố đến cơ sở được tăng cường, trách nhiệm của cấp ủy ở cơ sở cụ thể hơn; bộ máy chính quyền huyện, quận, phường tinh gọn hơn, phân công trách nhiệm rõ ràng giữa tập thể và Chủ tịch UBND; vai trò của người đứng đầu cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương được khẳng định; hoạt động của UBND trực tiếp, kịp thời hơn do bỏ bớt khâu trung gian 

2.1. Mối quan hệ của các cấp ủy Đảng với chính quyền

UBND các quận, huyện với cấp ủy cùng cấp tuân thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo, báo cáo xin ý kiến của Quận, Huyện uỷ trước khi triển khai các chủ trương công tác lớn hoặc công việc có liên quan đến đông đảo nhân dân trên địa bàn, qua đó bảo đảm sự thống nhất trong lãnh đạo của Đảng, trong chỉ đạo của chính quyền. Thường xuyên phối hợp với Mặt trận, các đoàn thể chính trị - xã hội trong việc vận động thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, công tác quốc phòng, an ninh ở địa phương. Phân công 01 Phó Chủ tịch trực tiếp theo dõi hoạt động phối hợp này. Tổ chức ký kết Chương trình công tác phối hợp giữa UBND quận, huyện với Mặt trận, các đoàn thể để thực hiện những chỉ tiêu cụ thể như: giảm hộ nghèo, xoá nhà tạm hộ nghèo, quản lý giáo dục thanh thiếu niên hư, vận động học sinh bỏ học ra lại lớp; vận động hội viên thực hiện nếp sống văn hoá văn minh đô thị; mặt khác UBND quận đã tăng cường sự chỉ đạo, kiểm tra đối với UBND các phường. Chỉ đạo các phòng chuyên môn của quận thường xuyên kiểm tra, hướng dẫn về công tác chuyên môn, phân công mỗi thành viên UBND quận phụ trách, theo dõi một phường nhằm giữ mối quan hệ và cùng UBND phường giải quyết công việc khi cần thiết.

UBND phường thường xuyên quan hệ mật thiết hơn với cấp ủy Đảng, UBMTTQVN, các đoàn thể cùng cấp và cán bộ tổ dân phố trong việc giám sát xây dựng chính quyền, đặc biệt là công tác cải cách hành chính, thực hiện pháp lệnh dân chủ cơ sở... Các chủ trương được thông báo kịp thời cho các cấp ủy chi bộ, tổ trưởng tổ dân phố, tranh thủ được ý kiến phản ánh, đóng góp của chi bộ.

Tuy nhiên, khi không tổ chức HĐND huyện, tổ chức và hoạt động của HĐND xã còn lúng túng, việc giải quyết các vấn đề như gửi báo cáo hoạt động của HĐND; xin ý kiến của cấp trên giải quyết các phản ảnh, kiến nghị của cử tri; mối quan hệ với HĐND thành phố, tổ đại biểu HĐND thành phố, với UBND huyện chưa có quy chế quy định, HĐND các xã chưa được dự các cuộc họp của UBND huyện hàng quý, sáu tháng đầu năm… nên việc phản ánh, nắm bắt thông tin hai chiều từ cơ sở lên huyện và ngược lại cũng còn nhiều hạn chế.

2.2. Việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND thành phố

Cùng với việc thực hiện nhiệm vụ theo Nghị quyết HĐND năm 2009 của huyện, quận, phường đề ra từ đầu năm, UBND thành phố đã thực hiện nhiệm vụ phê duyệt các biện pháp thực hiện quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án phát triển kinh tế - xã hội của UBND các quận, huyện. UBND thành phố đã tăng cường sự chỉ đạo, kiểm tra đối với UBND quận, huyện, phường về thực hiện nhiệm vụ quản lý, điều hành các mặt công tác thuộc thẩm quyền ở cơ sở. Xác định rõ vai trò, trách nhiệm của Chủ tịch UBND quận, huyện trước Chủ tịch UBND thành phố và luôn tạo điều kiện thuận lợi cho UBND quận, huyện thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý, điều hành công việc được giao. Sau khi nhiệm kỳ HĐND huyện, quận chấm dứt, HĐND thành phố đã tổ chức hội nghị bất thường bầu chức danh Hội thẩm Toà án nhân dân quận, huyện gồm 120 người đúng theo quy định và hướng dẫn. Thường trực HĐND, các Ban, tổ đại biểu HĐND thành phố thực hiện tốt vai trò giám sát hoạt động của UBND, Toà án nhân dân, VKSND quận, huyện.

Tuy vậy, hoạt động của HĐND thành phố cũng gặp một số khó khăn, vướng mắc như: Theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 đã nêu: “Khi thực hiện không tổ chức HĐND ở huyện, quận, phường cần tăng cường HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về số lượng, chất lượng đại biểu, về cơ sở vật chất, điều kiện làm việc”. Nhưng đến nay các văn bản hướng dẫn để cụ thể hóa chủ trương trên của Đảng vẫn chưa được ban hành; HĐND cấp tỉnh ở các địa phương thực hiện thí điểm không được bổ sung, tăng cường về số lượng đại biểu cũng như cơ sở vật chất và các điều kiện làm việc; số lượng Thường trực HĐND và các Ban của HĐND cấp thành phố vẫn giữ nguyên, số lượng đại biểu chuyên trách không được bổ sung đã làm cho hoạt động của HĐND cấp thành phố gặp nhiều khó khăn, thiếu điều kiện “vươn” xuống đến hết cơ sở phường, xã. Các văn bản của UBTVQH lại quy định bổ sung nhiều nhiệm vụ cho HĐND cấp tỉnh, đặc biệt là trách nhiệm giám sát hoạt động của UBND và các đơn vị huyện, quận, phường, xã. Song trên thực tế lại chưa có cơ chế và các quy định để cụ thể hóa làm cơ sở cho việc thực hiện chức năng giám sát.

2.3. Cơ cấu tổ chức và hoạt động của UBND huyện, quận, phường khi thực hiện thí điểm

 Sau một năm thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường, về biên chế đã giảm được 214 đại biểu HĐND cấp quận, huyện và 1.127 đại biểu HĐND cấp phường, tiết kiệm cho ngân sách hơn 7 tỉ đồng, đồng thời đã góp phần giảm được nhiều tầng nấc trung gian trong hoạt động3 và hiện nay, chỉ còn 46/50 đại biểu HĐND cấp thành phố và 402 đại biểu HĐND cấp xã.

 “Khi triển khai thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường, thực hiện cơ chế Chủ tịch UBND cấp trên bổ nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cấp dưới trực tiếp, thành phố đã thực hiện đúng quy trình; tổ chức bộ máy, hoạt động điều hành của chính quyền các cấp đã từng bước ổn định, chưa có vấn đề gì bất cập trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của các cấp và ở địa phương. Hoạt động bộ máy có nhiều đổi mới như tổ chức đánh giá xếp hạng việc thực hiện công tác cải cách hành chính của các cơ quan, đơn vị; triển khai mô hình chính quyền đô thị...”4. Cụ thể; đã bố trí các Phó Chủ tịch và Uỷ viên thường trực HĐND các quận, huyện 14 người; bố trí, sắp xếp Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND các phường không kiêm nhiệm chuyển công tác 42 người. Cơ cấu tổ chức của UBND quận, huyện được Chủ tịch UBND thành phố bổ nhiệm đúng theo quy định gồm Chủ tịch, 03 Phó Chủ tịch và 05 Ủy viên UBND quận, huyện. Cơ cấu tổ chức của UBND phường được Chủ tịch UBND quận bổ nhiệm đúng theo quy định gồm Chủ tịch, 02 Phó Chủ tịch và 02 Ủy viên UBND phường; sau khi cơ cấu UBND phường đã ổn định, các phường tiến hành củng cố các bộ phận chuyên môn, phân công nhiệm vụ cụ thể đến nay đã đi vào nề nếp, phát huy được hiệu quả trong việc tổ chức điều hành của bộ máy UBND phường.

UBND các quận, huyện đã ban hành quy chế làm việc phù hợp với tình hình khi không tổ chức HĐND, Chủ tịch UBND quận, huyện cũng đã tiến hành việc phân công thẩm quyền, trách nhiệm cụ thể, rõ ràng đối với từng chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Uỷ viên UBND theo cơ chế mới. UBND phường đã phát huy vai trò chủ động trong điều hành nhiệm vụ được giao, không dựa dẫm chờ đợi đến kỳ họp Hội đồng nhân dân như trước; đội ngũ cán bộ, công chức đã chủ động tham mưu giải quyết công việc tích cực, có hiệu quả, trực tiếp trả lời thoả đáng cho nhân dân các yêu cầu cần thiết.

Nhìn chung, về mặt tổ chức của UBND huyện, quận, phường khi không có HĐND vẫn đảm bảo hoạt động điều hành thông suốt, đạt hiệu quả, không có nhiều biến động so với thời điểm trước đây khi còn HĐND

2.4. Đánh giá về đội ngũ cán bộ, công chức

 UBND quận, huyện đã tiến hành rà soát số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ công chức. Qua đó, tham mưu cho Chủ tịch UBND thành phố, Ban Thường vụ Quận ủy, Huyện ủy luân chuyển, bố trí, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, công chức UBND quận, huyện các phòng, ban và cán bộ, công chức UBND các phường đúng qui trình, phù hợp với trình độ chuyên môn của mỗi cán bộ, công chức khi thực hiện nhiệm vụ. Nhìn chung, đội ngũ cán bộ công chức từ huyện, quận, phường cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ được giao. 

2.5. Tính thống nhất, thông suốt trong điều hành, quản lý

Hiện nay, công tác chỉ đạo, điều hành của UBND cấp trên xuyên suốt, cụ thể hơn, đảm bảo sự điều hành trực tiếp, nâng cao tính chủ động của bộ máy chính quyền và nâng cao trách nhiệm người đứng đầu cơ quan hành chính. Đây là ưu điểm của mô hình tổ chức nhà nước không có HĐND cấp huyện, quận, phường. Trước đây, để quyết định những vấn đề quan trọng tại địa phương, cần phải xin ý kiến của HĐND cùng cấp và UBND cấp trên; thì nay chỉ báo cáo UBND cấp trên, giảm được một khâu, do vậy thời gian thực hiện nhanh hơn, giải quyết công việc được hiệu quả hơn và trách nhiệm cụ thể hơn. Công tác chỉ đạo, phối hợp chuyên môn được rút ngắn, việc điều hành, quản lý giữa các cấp được chặt chẽ, kịp thời.

3. Công tác thực hiện giám sát, kiểm tra đối với hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị và công dân trên địa bàn huyện, quận, phường 

- Giám sát của HĐND thành phố: trong thời gian thực hiện thí điểm, Thường trực HĐND thành phố đã chủ động cùng với các Ban của HĐND thành phố tổ chức khoảng 90 cuộc đi thực tế, giám sát tại các địa phương, cơ sở; đồng thời tham gia các buổi làm việc của các Ban với các đơn vị, ngành liên quan nhằm giám sát việc triển khai thực hiện các Nghị quyết HĐND và các vấn đề quan trọng khác. Uỷ ban nhân dân huyện, quận, phường hàng tháng, quý, sáu tháng, năm đều có báo cáo gửi HĐND thành phố về tình hình quản lý, điều hành trên địa bàn. Qua đó, HĐND thành phố có sự theo dõi, giám sát và chỉ đạo kịp thời các nhiệm vụ chính trị địa phương, kiến nghị với địa phương, đơn vị những biện pháp thiết thực góp phần khắc phục những hạn chế, vướng mắc và nâng cao chất lượng hoạt động của chính quyền các cấp, các ngành trên địa bàn thành phố.

Ban Thường trực UBMTTQ Việt Nam thành phố Đà Nẵng cũng đã mở nhiều lớp tập huấn công tác giám sát và xây dựng chính quyền cho tất cả đội ngũ cán bộ làm công tác mặt trận và Ban Thanh tra nhân dân ở phường, xã trên địa bàn thành phố. Hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân phường, xã được củng cố và tăng cường. Chính nhờ vậy, công tác giám sát ở các cấp cơ sở hoạt động ngày càng có hiệu quả hơn đáp ứng được yêu cầu mới của thực tiễn.

- Giám sát, kiểm tra của cơ quan nhà nước cấp trên: UBND cấp trên thường xuyên tăng cường tổ chức kiểm tra việc quản lý điều hành công việc của UBND cấp dưới, qua đó chấn chỉnh kịp thời các hạn chế, tồn tại. Chính nhờ vậy, hoạt động của cơ quan hành chính từ cấp thành phố đến cấp phường, xã phát huy được hiệu lực, hiệu quả, các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội đều đạt và vượt so với cùng kỳ năm ngoái. Nhìn chung, hoạt động quản lý, điều hành thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, công tác quốc phòng, an ninh, chăm lo đời sống nhân dân trên địa bàn đúng theo pháp luật và chủ trương của cấp trên, UBND huyện, quận, phường đã tạo mọi điều kiện để đại biểu Quốc hội, Thường trực HĐND, đại biểu HĐND thành phố, Mặt trận, các đoàn thể và nhân dân giám sát hoạt động của mình.

- Giám sát, kiểm tra của cấp uỷ Đảng, của UBMTTQVN và các tổ chức đoàn thể cùng cấp: Mối quan hệ giữa UBND huyện, quận, phường đối với cấp uỷ Đảng, MTTQVN và các tổ chức đoàn thể trong thời gian thực hiện thí điểm cũng được tăng cường và có nhiều giải pháp phối hợp cụ thể hơn trước.Các cấp uỷ Đảng đã làm tốt công tác lãnh đạo, đề ra các chủ trương, định hướng và thường xuyên giám sát, kiểm tra hoạt động của UBND các cấp. UBND huyện, quận, phường đã xây dựng quy chế phối hợp hoạt động với UBMTTQVN cùng cấp, thường xuyên thông báo công khai tình hình hoạt động, các chủ trương, chính sách của UBND huyện, quận, phường cho UBMTTQVN biết để tham gia giám sát việc thực hiện. Các cuộc họp hàng tháng, quý, 6 tháng, năm của UBND huyện, quận, phường đều mời UBMTTQVN cùng cấp dự thông báo tình hình, phản ánh ý kiến của nhân dân và kiến nghị những vấn đề liên quan để UBND xem xét, giải quyết và nghe UBND báo cáo tình hình hoạt động và tổ chức giám sát theo quy chế đề ra.

- Giám sát trực tiếp của nhân dân cũng được phát huy: Ban Thanh tra nhân dân được củng cố, kiện toàn, thực hiện việc giám sát các công trình đầu tư cộng đồng theo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, các chủ trương đền bù, giải toả, tái định cư; giám sát việc khiếu nại, tố cáo của công dân góp phần thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở, xây dựng chính quyền nhân dân trong sạch, vững mạnh. Tuy nhiên, trở ngại hiện nay là các cuộc tiếp xúc cử tri của đại biểu HĐND thành phố chỉ tại một số nơi hoặc tại trung tâm hành chính nên cử tri tham gia ít hơn (khác với trước đây đại biểu HĐND quận, phường tiếp xúc tại khu dân cư); người dân chưa quen với hệ thống giám sát khi thiếu đại biểu HĐND phường, quận như trước đây.

- Việc thực hiện giám sát của HĐND thành phố, kiểm tra của cơ quan ngành dọc cấp trên đối với hoạt động của Tòa án nhân dân (TAND), Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) được thực hiện theo đúng quy định, đảm bảo quy trình, nội dung giám sát, kiểm tra: Nhìn chung, các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử đạt nhiều kết quả tích cực. Trong sáu tháng đầu năm 2010, ngành TAND thành phố đã thực hiện đạt và vượt các chỉ tiêu công tác đề ra, giải quyết được 1.905 vụ. Riêng TAND thành phố trong sáu tháng qua không có trường hợp bị sửa hay hủy án. Chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp được bảo đảm. VKSND đã có nhiều đổi mới công tác chỉ đạo điều hành, không để xảy ra án oan, đẩy nhanh tiến độ giải quyết án, tăng cường kiểm sát phát hiện các vi phạm của các cơ quan tư pháp trong quá trình giải quyết vụ án để kháng nghị, kiến nghị. Tuy nhiên, ở TAND huyện, quận, tình trạng án bị hủy, sửa do sai vẫn còn tồn tại, công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp của các cơ quan triển khai còn chậm, chưa kịp thời. Nhìn chung, sự kiểm tra, giám sát của HĐND thành phố đối với hoạt động của TAND, VKSND huyện, quận vẫn chưa thực sự có chuyển biến rõ nét, chưa thường xuyên hoặc sâu sát như trước khi còn HĐND huyện, quận5.

- Công tác giám sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, tổ chức và công dân trên địa bàn huyện, quận, phường: Trước đây khi còn HĐND huyện, quận, phường việc giám sát được các Ban của HĐND thực hiện có hệ thống, sâu sát. Tuy nhiên, từ khi thực hiện thí điểm đến nay công tác giám sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, tổ chức và công dân trên địa bàn huyện, quận, phường chưa có quy định cụ thể về thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ đối với cơ quan giám sát. HĐND thành phố gặp khó khăn trong việc giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan, tổ chức và công dân trên địa bàn huyện, quận, phường.

4. Công tác thực hiện, điều hành ngân sách của UBND huyện, quận, phường thí điểm

- Công tác lập, quyết định, phân bổ, giao dự toán và phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước: Đối với cấp quận, huyện do UBND quận, huyện thực hiện và trình HĐND thành phố quyết định, phê chuẩn; Đối với cấp phường do UBND phường thực hiện và trình UBND quận quyết định, phê chuẩn. Quy trình này đã rút ngắn thời gian nhưng vẫn đảm bảo chất lượng. Trên cơ sở dự toán của HĐND thành phố phê chuẩn, UBND thành phố giao dự toán cho cấp quận, huyện và quận giao cho phường theo đúng nội dung định mức đã được phê duyệt. Khi thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường thì đối với thành phố Đà Nẵng tiết kiệm được kinh phí chi hoạt động hàng năm gần 07 tỷ đồng.

- Phần lớn các chỉ tiêu kinh tế - xã hội năm 2009 đã được Quyết nghị tại cuộc họp HĐND cuối năm 2008 - trước thời gian thí điểm, vì thế các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, việc kiểm tra thực hiện kế hoạch; việc lập dự toán ngân sách nhà nước trên địa bàn; các chương trình, kế hoạch, quy hoạch phát triển của quận, huyện, phường vẫn được triển khai thực hiện theo chương trình mà HĐND quận, huyện, phường đã vạch ra trước khi thực hiện thí điểm. Các kế hoạch, chương trình sau khi phê duyệt được triển khai thực hiện đúng quy trình, thời gian, có sự giám sát, chỉ đạo của các ngành, các cấp. Tuy vậy, trên địa bàn quận, huyện năm 2009 so với năm 2008 hầu hết các chỉ tiêu về thu ngân sách đều vượt từ 1 đến 39% và chi ngân sách giảm (so sánh năm 2009 và năm 2008). Riêng sáu tháng đầu năm 2010, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố ước thực hiện 4.642 tỷ đồng, đạt 57,67% dự toán HĐND. Tổng chi cân đối ngân sách ước thực hiện 3.205,68 tỷ đồng, đạt 40,31% dự toán HĐND. Công tác thanh toán được Kho bạc nhà nước giám sát theo từng nhiệm vụ chi nên công tác chi được đảm bảo theo quy định.

- Hiện nay, UBND các huyện, quận, phường tiếp tục thực hiện kế hoạch thu, chi ngân sách đề ra từ đầu năm theo dự toán được HĐND thành phố giao năm 2010. Nhìn chung, tình hình thu, chi ngân sách trên địa bàn huyện, quận, phường khi không tổ chức HĐND không gặp khó khăn và trở ngại nào đáng kể, việc điều hành ngân sách vẫn đảm bảo theo quy định.

5. Phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn 

5.1. Phát triển kinh tế - xã hội:

Qua hơn một năm thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND các huyện, quận, phường; UBND các huyện, quận, phường từng bước ổn định, đi vào hoạt động có nề nếp, tiếp tục quản lý; chỉ đạo điều hành và duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, tập trung giải quyết nhiều vấn đề bức xúc, đảm bảo tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trật tự, an toàn xã hội. Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, những kết quả đạt được là khá và rất đáng khích lệ, thể hiện tính thích ứng, đầu tư có chiều sâu, tính hiệu quả, sức bền của kinh tế thành phố và đã vượt qua được những hoàn cảnh khó khăn nhất. Đặc biệt trong những năm đầu thực hiện kế hoạch thành phố, tuy đã chịu nhiều thiệt hại nặng nề do thiên tai và dịch bệnh gây ra song tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) đạt mức khá so với mục tiêu đề ra, năm 2007 đạt 11,3%; năm 2008 đạt 10,1%; năm 2009 ước đạt 11,2% và dự kiến năm 2010 đạt khoảng 12,6%, cao hơn bình quân cả nước là 1,9 lần. Thu nhập bình quân đầu người được nâng lên rõ rệt, năm sau cao hơn năm trước. GDP bình quân đầu người (giá hiện hành) năm 2010 ước đạt 33,2 triệu đồng (2.010 USD), gấp 2,2 lần so với năm 2005, cao hơn gấp 1,6 lần so với mức bình quân của cả nước năm 2010 (1.220 USD). Cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng “Dịch vụ - Công nghiệp - Nông nghiệp”, phù hợp với định hướng của Nghị quyết Đảng bộ thành phố lần thứ XIX và Nghị Quyết 33 của Bộ Chính trị (khóa IX). Tỷ trọng dịch vụ tăng từ 49,6% năm 2006 lên 50,5% ước năm 2010; công nghiệp tăng từ 46,1% lên 46,5% và nông nghiệp giảm từ 4,3% xuống 3,0% ước năm 20106. Nhìn chung, kết quả phát triển kinh tế xã hội thành phố có những chuyển biến tích cực và tăng trưởng cao so với cùng kỳ trên các lĩnh vực. Các chỉ tiêu pháp lệnh ở các quận, huyện năm trước đạt và vượt kế hoạch đề ra. Riêng trong sáu tháng đầu năm 2010, các chỉ tiêu pháp lệnh ở các quận, huyện đều đảm bảo đạt kế hoạch, trong đó có một số chỉ tiêu đạt kết quả tăng hơn nhiều so với cùng kỳ năm ngoái. Môi trường sản xuất, dịch vụ được triển khai và cải thiện theo hướng thuận lợi, thông thoáng (đứng đầu cả nước về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh/thành phố và chỉ số sẵn sàng ứng dụng công nghệ thông tin...)7.

Công tác chăm lo đời sống cho đối tượng chính sách, trợ cấp xã hội, công tác giảm nghèo, giải quyết việc làm tiếp tục được chú trọng; hoạt động văn hóa văn nghệ có nhiều chuyển biến, chất lượng giáo dục được nâng lên; công tác phòng chống dịch bệnh thường xuyên được chú ý kịp thời; công tác cải cách hành chính được tiếp tục duy trì, chú trọng nêu cao tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân, tạo sự đồng thuận trong nhân dân. Công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân ngày càng đi vào nề nếp.

5.2. Bảo đảm an ninh quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội: Trong sáu tháng đầu năm 2010, đã xây dựng và triển khai kế hoạch bảo vệ an toàn, thành công các ngày lễ, tết, các hoạt động kỷ niệm 35 năm ngày giải phóng thành phố, các lễ hội và các hội nghị quan trọng cấp Nhà nước tổ chức trên địa bàn Đà Nẵng, bảo vệ Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Chú trọng nắm tình hình, âm mưu, thủ đoạn hoạt động của các đối tượng. Thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, các hoạt động tôn giáo trên địa bàn diễn ra đúng pháp luật. Như vậy, tình hình quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội vẫn được duy trì và giữ vững, không có gì biến động. Sự chỉ đạo của các cấp chính quyền trên lĩnh vực này được thực hiện thường xuyên và xem đây là nhiệm vụ ưu tiên trong công tác quản lý nhà nước tại địa phương.

5.3. Hoạt động cung cấp dịch vụ công: Đà Nẵng là một trong những địa phương đầu tiên thống nhất trên toàn thành phố về quy trình, yêu cầu điều kiện, thành phần hồ sơ, thời gian giải quyết, mức thu phí, lệ phí liên quan đến tiếp nhận, giải quyết hồ sơ theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại 100% phường, xã. Để nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành và cung ứng dịch vụ hành chính công cho công dân, tổ chức, đến nay đã có 28 đơn vị đã thiết lập Website chuyên ngành. Đồng thời, đã có 14 đơn vị thực hiện giao dịch hành chính với tổ chức, công dân theo hình thức trực tuyến với 27 đầu công việc. Đến nay, 100% phường, xã được cài đặt và sử dụng Phần mềm quản lý hồ sơ theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông nhằm đáp ứng tốt các yêu cầu tiếp nhận, xử lý, theo dõi hồ sơ của tổ chức, công dân trên tất cả các lĩnh vực (đất đai, xây dựng nhà ở, tư pháp hộ tịch, lao động, thương binh và xã hội). Thiết lập trang web motcua.danang.gov.vn, có chức năng hiển thị tình hình tiếp nhận, xử lý hồ sơ; chức năng tra cứu thủ tục hành chính và tra cứu tình trạng giải quyết hồ sơ của tổ chức, công dân. Với những cách làm mới này, người dân sẽ đỡ tốn thời gian đi lại và tiến độ giải quyết công việc nhanh chóng hơn, chất lượng hơn, đồng thời tạo ra cơ chế để giám sát hoạt động của cán bộ, công chức trong quá trình thi hành công vụ, góp phần tích cực vào việc hạn chế các hành vi tiêu cực có thể phát sinh.

II. ĐÁNH GIÁ CHUNG

1. Sơ bộ đánh giá kết quả thực hiện thí điểm 

- Công tác lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của cấp ủy, HĐND và UBND thành phố được thuận lợi do thành phố Đà Nẵng có 07 đơn vị hành chính cấp quận, huyện và 45 đơn vị hành chính cấp phường tất cả đều thực hiện thí điểm (chỉ có 11 xã ở huyện Hòa Vang không tổ chức thí điểm); giảm được thời gian hội họp, giảm biên chế và tiết kiệm ngân sách.

- Sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng từ thành phố đến cơ sở được tăng cường; trách nhiệm của cấp ủy Đảng ở cơ sở được cụ thể hóa hơn;

- Bộ máy chính quyền từ quận đến phường tinh gọn, phân công trách nhiệm rõ ràng giữa tập thể UBND và Chủ tịch UBND. Phát huy được vai trò điều hành, chỉ đạo của Chủ tịch UBND và trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương được khẳng định trên thực tế;

- Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội đã phát huy được vai trò giám sát, phản biện; sự phối hợp Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội  với UBND ngày càng chặt chẽ hơn… và đã tạo lập được sự đồng thuận trong nhân dân

- Các chỉ tiêu kinh tế xã hội đều đạt và vượt kế hoạch đề ra; quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo; hoạt động sản xuất, kinh doanh được duy trì và phát triển; đời sống nhân dân vẫn được cải thiện.

Như vậy, việc thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND bước đầu cho thấy đã giảm tầng nấc trung gian, tinh gọn bộ máy, giảm bớt các quy trình, thủ tục hành chính, rút ngắn một số thời gian xử lý công việc, bảo đảm tính thống nhất, thông suốt, nâng cao hiệu quả, hiệu lực của bộ máy hành chính nhà nước, đồng thời vẫn bảo đảm phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở địa phương. Thẩm quyền và trách nhiệm của tập thể và Chủ tịch UBND quận, phường cũng được nâng lên, tính chủ động của lãnh đạo UBND trong việc thực thi trách nhiệm và quyền hạn được phát huy.

- Việc thí điểm không tổ chức HĐND cấp huyện, quận, phường đã có những tác động tích cực:

UBND huyện, quận, phường theo chức năng, quyền hạn chỉ đạo trực tiếp và chủ động quyết định những vấn đề phát sinh theo thẩm quyền kịp thời, không phải thông qua kỳ họp HĐND một năm hai kỳ. Do đó, việc điều hành dự toán cũng như các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng an ninh năng động, linh hoạt hơn, giảm được thủ tục hành chính; tinh giản biên chế và kinh phí hoạt động của HĐND ở hai cấp quận, huyện và phường; tiết kiệm chi ngân sách cho các khoản phụ cấp cho đại biểu HĐND huyện, quận, phường và các khoản kinh phí đặc thù khác.

Có thể nói không tổ chức HĐND huyện, quận, phường là sự đổi mới trong công tác quản lý đô thị, thay đổi về cơ chế quản lý, điều hành trong hệ thống hành chính nhà nước góp phần phát huy mạnh mẽ vai trò điều hành của các cấp hành chính, tạo sự năng động, chủ động hơn cho cấp thực thi chính sách, lề lối làm việc có sự linh hoạt, trực tiếp hơn, góp phần tiết kiệm thời gian, kinh phí và nhân lực. Đồng thời tiếp tục mở rộng và phát huy dân chủ trực tiếp ở cơ sở, đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.

Bên cạnh những mặt ưu điểm trên, việc thí điểm không tổ chức thực hiện HĐND huyện, quận, phường còn đòi hỏi vai trò, trách nhiệm của UBND quận, huyện, phường cao hơn, nếu năng lực điều hành của UBND quận, huyện, phường hạn chế thì trong giải quyết các công việc sẽ ảnh hưởng, việc giám sát sự điều hành của UBND và thực hiện nhiệm vụ ở cơ sở sẽ khó khăn hơn (trước đây do HĐND quận, huyện, phường thực hiện).

2. Những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân

Hoạt động của HĐND trên một số lĩnh vực còn mang tính hình thức; chất lượng, hiệu quả của giám sát chưa đi vào chiều sâu, khả năng phân tích, xem xét, đánh giá các khía cạnh của vấn đề còn hạn chế, một số kiến nghị, đề xuất còn chung chung, chưa có sức thuyết phục cao đối với các cơ quan nhà nước; nội dung giám sát có lúc còn dàn trải, chưa đi vào trọng tâm, trọng điểm8.

HĐND thành phố chưa được bổ sung số lượng đại biểu chuyên trách đã làm cho hoạt động của HĐND thành phố gặp khó khăn, hạn chế việc tiếp cận cơ sở. Chưa có cơ chế và các quy định để cụ thể hóa, làm cơ sở cho việc thực hiện chức năng giám sát hoạt động của UBND;

Nguyên nhân khách quan là hướng dẫn quy chế phối hợp và công tác giám sát chưa cụ thể; văn bản hướng dẫn của các Bộ, ngành chậm. Nguyên nhân chủ quan là công tác tuyên truyền chưa có nhiều giải pháp tích cực; chưa kịp thời ban hành Quy chế làm việc của UBND và quy chế phối hợp giữa UBND với Mặt trận và các đoàn thể cùng cấp.

III. MỘT SỐ KINH NGHIỆM, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ KIẾN NGHỊ 

1. Một số kinh nghiệm

Thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND cấp huyện, quận, phường là một chủ trương mới, quan trọng, nhạy cảm, liên quan đến các tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị. Trong quá trình thực hiện, Đà Nẵng đã đúc kết được một số kinh nghiệm như sau:

- Cả hệ thống chính trị phải quyết tâm vào cuộc; phải có chủ trương chính sách cụ thể, bảo đảm được sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, kịp thời của cấp ủy Đảng trong quá trình thực hiện;

- Các phương án thí điểm và công tác nhân sự có sự chuẩn bị chu đáo để việc tiến hành triển khai bố trí sắp xếp cán bộ thuận lợi;

- Việc tuyên truyền nhận thức phải được tiến hành thường xuyên nhằm tạo thuận lợi trong quá trình thực hiện thí điểm;

- UBND các cấp cần ban hành kịp thời các quy chế hoạt động nhằm đảm bảo  công tác quản lý, điều hành của UBND được thông suốt hơn;

- Có quy chế cụ thể nhằm xác lập mối quan hệ phối hợp chặt chẽ  giữa UBND, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội để công tác giám sát, phản ảnh ý kiến của cử tri được giải quyết kịp thời và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở duy trì có hiệu quả “Đảng nói: dân tin; Mặt trận vận động: dân theo; Chính quyền làm: dân ủng hộ”.

- Tăng cường củng cố sự đồng thuận trong các tầng lớp nhân dân trên cơ sở tiếp tục thực hiện tốt chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng trong thời kỳ mới. Tập trung thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về dân chủ ở cơ sở; đề cao và tạo thuận lợi cho mặt trận và các đoàn thể, phương tiện thông tin đại chúng… thực hiện tốt vai trò giám sát xã hội và phản biện xã hội, đi đôi với công tác tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh. Tiếp tục giải quyết tốt chính sách an sinh xã hội, chú trọng và quan tâm đúng mức đến bộ phận nhân dân còn khó khăn, nhất là các gia đình chính sách; xem nhu cầu hài hoà về lợi ích của các tầng lớp nhân dân thành phố là yếu tố quan trọng để thực hiện mục tiêu đoàn kết toàn dân; xác định nhân tố đoàn kết toàn dân và đồng thuận xã hội là động lực chủ yếu cho sự phát triển của thành phố9.

2. Phương hướng, nhiệm vụ trong thời gian tới

- Tăng cường sự chỉ đạo, lãnh đạo của cấp uỷ, chính quyền các cấp trong việc thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường. Tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết 725/2009/UBTVQH12 của Quốc hội khoá 12 về điều chỉnh nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của UBND huyện, quận, phường nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường. Tiếp tục chỉ đạo các cơ quan chuyên môn phối hợp với các cấp các ngành tuyên truyền sâu rộng chủ trương thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường10.

- Thường xuyên đánh giá, kiểm tra kết quả hoạt động của UBND huyện, quận, phường khi tổ chức thí điểm. Qua đó phát hiện những bất cập, hạn chế để tháo gỡ, giải quyết hoặc kiến nghị các cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết, đảm bảo cho việc thực hiện thí điểm thành công.

- Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố; đổi mới về nội dung, chất lượng và phương thức báo cáo của đại biểu Quốc hội tại các cuộc tiếp xúc cử tri. Nâng cao chất lượng các kỳ họp của HĐND thành phố và Thường trực HĐND thành phố. Nâng cao trách nhiệm của đại biểu HĐND và phát huy hơn nữa vai trò giám sát của HĐND11.

3. Một số kiến nghị, đề xuất

3.1. Kiến nghị về sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật, các cơ chế, chính sách

- Quốc hội sớm ban hành Luật Giám sát của HĐND (vì đây là một trong hai chức năng cơ bản của HĐND);

- Cần có văn bản hướng dẫn cụ thể về cơ chế giám sát của UBMTTQ, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội các cấp; thể chế hóa và phát huy vai trò phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng

- Đề nghị có văn bản hướng dẫn việc xây dựng quy chế hoạt động nhằm phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn của lãnh đạo ở những nơi thực hiện thí điểm Bí thư đảng ủy đồng thời là Chủ tịch UBND;

- Hỗ trợ kinh phí để các cấp Mặt trận, đoàn thể tổ chức các cuộc giao ban Ban Công tác mặt trận tổ dân phố, thôn tiếp thu phản ảnh tình hình, nguyện vọng của nhân dân.

3.2. Kiến nghị về công tác chỉ đạo, điều hành, mối quan hệ phối hợp trong thực hiện thí điểm 

- Đề nghị quy định phân công Đại biểu chuyên trách đứng điểm tại các quận, huyện, có nơi làm việc cụ thể công khai để tiếp công dân, có lịch hàng tháng, hàng quý và thường xuyên liên hệ với cơ sở để nắm tình hình, tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân nhằm tăng cường hoạt động của HĐND thành phố, hạn chế kiêm nhiệm để có điều kiện gần dân, giải quyết những vấn đề bức xúc và ý kiến của nhân dân (về lâu dài, đề nghị tăng thêm đại biểu HĐND chuyên trách cấp tỉnh);

- Tăng thêm một Phó Chủ tịch UBND phường đối với những nơi thực hiện thí điểm Bí thư Đảng ủy phường đồng thời Chủ tịch UBND phường;

- Đề xuất tăng thẩm quyền cho Chủ tịch UBND phường, cụ thể là thẩm quyền xác nhận quy hoạch đối với các hộ dân cư nằm trong địa bàn các phường đã ổn định về quy hoạch, không còn giải tỏa, chỉnh trang đô thị;

- Trong công tác bổ nhiệm các Uỷ viên UBND phụ trách công an, quân sự nên giảm bớt quy trình bổ nhiệm của các cấp có thẩm quyền. Bởi vì, các đồng chí Trưởng công an, Chỉ huy trưởng quân sự đều là Uỷ viên Ban Thường vụ Quận, Huyện uỷ đối với cấp quận, huyện và là Đảng uỷ viên đối với cấp phường. Đối với các Ủy viên UBND phụ trách các ngành khác đề nghị không nên ghi cụ thể ngành mà trên cơ sở số lượng ngành cụ thể do thực tế địa phương quyết định;

- Đối với danh sách đề nghị Hội thẩm nhân dân, sau khi thực hiện đúng quy trình đề nghị, UBMTTQ thành phố chuyển Thường trực HĐND thành phố xem xét, thẩm định phê duyệt, không nhất thiết để đại biểu HĐND thành phố bầu cử; 

- Đối với cấp huyện đang thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND, nhưng cấp xã vẫn còn HĐND, do vậy đề nghị có văn bản hướng dẫn cụ thể trong việc quản lý, kiểm tra, chỉ đạo và tiếp nhận báo cáo hoạt động của HĐND xã. Riêng tại thành phố Đà Nẵng hiện nay chỉ còn 11 xã (thuộc huyện Hòa Vang) nên đề nghị Trung ương cho thí điểm không tổ chức HĐND xã, nhằm tạo sự chỉ đạo quản lý điều hành trên địa bàn được thống nhất, vì “Căn cứ vào thực tế đặc điểm tình hình, điều kiện của thành phố Đà Nẵng “Đà Nẵng chỉ giữ lại Hội đồng nhân dân cấp thành phố là bước tinh giản hợp lý” - Phương án 212.

- Đổi mới công tác quản lý cán bộ, giao cho Chủ tịch UBND được thực quyền hơn trong việc chọn giới thiệu cấp phó.

(1) Tư liệu tham khảo: UBND Thành phố Đà Nẵng, Báo cáo Tổng kết thực hiện bước 1 thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường, Báo cáo số 98/BC-UBND ngày 16/8/2010; Thành ủy Đà Nẵng, Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ khoá XIX tại Đại hội lần thứ XX Đảng bộ thành phố Đà Nẵng.

(2) Thành ủy Đà Nẵng, Tlđd.

(3) Thành ủy Đà Nẵng, Tlđd.

(4) Thành ủy Đà Nẵng, Tlđd.

(5) UBND Thành phố Đà Nẵng. Tlđd.

(6) Thành ủy Đà Nẵng. Tlđd.

(7) Trong hai năm liền (2008-2009) Đà Nẵng là địa phương xếp vị trí dẫn đầu xếp hạng về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.

(8) Thành ủy Đà Nẵng. Tlđd.

(9) Thành ủy Đà Nẵng. Tlđd.

(10) UBND Thành phố Đà Nẵng. Tlđd.

(11) Thành ủy Đà Nẵng. Tlđd.

(12) Công Khanh. Đà Nẵng chỉ giữ lại HĐND cấp thành phố là bước tinh giản hợp lý. Báo Công an Đà Nẵng ngày 10/9/2009, tr 3.

TS. Lê Văn Đính - Phó trưởng khoa Chính trị học, Học viện Chính trị Khu vực III.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Góp ý Luật Đất đai sửa đổi: Các công chứng viên nói gì? (09/04/2013)
Sửa Hiến pháp và chính quyền đô thị (27/03/2013)
Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn của Hà Nội hiện nay (01/02/2012)
Hà Nội, TP. HCM: Được xử phạt vi phạm hành chính cao hơn - có khả thi? (10/11/2011)
Chuyển đổi mô hình tăng trưởng và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển của Hà Nội (26/10/2011)
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị ở thành phố Hà Nội (26/08/2011)
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã ở các tỉnh Tây Nguyên hiện nay (10/06/2011)
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị ở thành phố Hà Nội (26/08/2011)
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo trong hai dự thảo luật

Công khai thông tin với việc thực hiện phản biện xã hội

Thư của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gửi Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

CÔNG BỐ VÀ TRAO NGHỊ QUYẾT BỔ NHIỆM VIỆN TRƯỞNG VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt Nam

Khai mạc trọng thể Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Lựa chọn chính sách cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay

Chất vấn và hậu chất vấn

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân