Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Chủ nhật, 24/09/2017, 15:53(GMT+7)
 
Ý kiến từ cơ sở

Giám sát của hội đồng nhân dân ở nơi thực hiện thí điểm không tổ chức hội đồng nhân dân

 

 

Ngày 01/8/2007, Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa X đã ban hành Nghị quyết số 17/NQ-TW về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước đã đề ra phương hướng: “Thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân (HĐND) huyện, quận, phường. Qua thí điểm sẽ tổng kết, đánh giá và xem xét để có chủ trương sửa đổi, bổ sung Hiến pháp về tổ chức chính quyền địa phương cho phù hợp”. Tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 26/2008/QH12 về thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường; Nghị quyết số 25/2008/QH12 về việc kéo dài nhiệm kỳ hoạt động 2004-2009 của HĐND và Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp. Trên cơ sở đó, ngày 16/1/2009, Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) ban hành Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH12 về danh sách huyện, quận, phường của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường; Nghị quyết số 725/2009/UBTVQH12 điều chỉnh nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của UBND huyện, quận, phường nơi không tổ chức HĐND huyện, quận, phường. Theo đó, việc thí điểm được thực hiện trên 10/63 tỉnh, thành phố; 99/599 quận, huyện/684 đơn vị cấp huyện; 483/1300 phường/11.774 đơn vị cấp xã. Việc thí điểm không tổ chức HĐND quận, huyện, phường là một bước đột phá trong tư duy nhiều năm về mô hình chính quyền địa phương (trước đây, theo Sắc lệnh 63/SL ngày 23/11/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời thì cũng không tổ chức HĐND huyện, kỳ). Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện việc thí điểm cũng nảy sinh không ít vướng mắc, bất cập về quy định của pháp luật và việc triển khai trong thực tiễn.

I. Quy định về giám sát của HĐND theo Nghị quyết 725/2009/UBTVQH12

1. Ai (cơ quan nào) giám sát UBND phường?

Nghị quyết 725/2009/UBTVQH12 chỉ giao bổ sung cho HĐND cấp tỉnh quyền giám sát hoạt động của UBND, Tòa án nhân dân (TAND), Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện, quận là chủ yếu, ngoài ra còn quyền giám sát nghị quyết của HĐND xã, thị trấn. Như vậy, về nguyên lý tổ chức bộ máy nhà nước, chỉ riêng UBND phường là không chịu sự giám sát của cơ quan dân cử (xem bảng 1).

Theo sơ đồ trên, không rõ căn cứ vào đâu Nghị quyết 725/2009/UBTVQH12 lại không giao cho cơ quan nào giám sát UBND phường. Nếu giao cho HĐND cấp trên giám sát giống như việc giao HĐND cấp tỉnh giám sát UBND huyện, quận thì cũng có sự không hợp lý bởi chỉ với đơn vị hành chính tỉnh thì mới có HĐND thị xã, thành phố thuộc tỉnh trên cấp hành chính phường; đối với đơn vị hành chính thành phố thì không có HĐND quận nên không thể giao cho HĐND thành phố giám sát hàng trăm UBND phường được. Đây là vấn đề cần nghiên cứu để đảm bảo UBND phường ngoài việc bị kiểm tra của UBND cấp trên thì còn phải được giám sát bởi nhân dân theo hình thức dân chủ trực tiếp hoặc dân chủ đại diện.

2. HĐND cấp tỉnh giám sát UBND, TAND, VKSND huyện, quận bằng cách thức nào?

Nghị quyết 725/2009/UBTVQH12 đã giao HĐND cấp tỉnh “giám sát hoạt động của UBND, TAND, VKSND huyện, quận” nhưng lại không quy định cụ thể HĐND cấp tỉnh giám sát bằng phương thức, cách thức nào. Luật Tổ chức HĐND và UBND quy định về quyền giám sát của HĐND cấp tỉnh nhưng quyền này hướng tới đối tượng giám sát cùng cấp, vì vậy HĐND sẽ “vận dụng” được công cụ nào trong hoạt động giám sát UBND, TAND, VKSND huyện, quận?

Điều 58 và 75 Luật Tổ chức HĐND và UBND, Điều 57 Quy chế hoạt động của HĐND quy định trong hoạt động giám sát của mình, HĐND, Thường trực Hội đồng nhân dân (TT HĐND), Ban của HĐND được sử dụng nhiều hoạt động, xem xét nhiều nội dung như: xem xét việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; xem xét kết quả giám sát của Ban; yêu cầu UBND, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND, TAND, VKSND báo cáo về những vấn đề thuộc lĩnh vực Ban phụ trách; cử thành viên đến cơ quan, tổ chức hữu quan để xem xét, xác minh vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Ban… nhưng tổng kết lại, có thể thấy, có năm công cụ giám sát của HĐND là: xem xét báo cáo công tác; xem xét việc chất vấn và trả lời chất vấn; xem xét văn bản quy phạm pháp luật; xem xét báo cáo của Đoàn giám sát; bỏ phiếu tín nhiệm. Còn các hoạt động khác mà Luật Tổ chức HĐND và UBND, Quy chế hoạt động của HĐND có quy định thì chỉ là các hoạt động hỗ trợ cho hoạt động giám sát mà thôi (xem bảng 2).

Như vậy, vấn đề đặt ra là HĐND cấp tỉnh được sử dụng các công cụ giám sát nào để tiến hành giám sát UBND, TAND, VKSND huyện, quận? Có tới bốn trên tổng số năm công cụ giám sát mà Luật đã quy định rất rõ ràng đối tượng bị giám sát, đó là: (i) xem xét báo cáo công tác của TT HĐND, UBND, TAND, VKSND cấp tỉnh; (ii) xem xét việc trả lời chất vấn của Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND, các thành viên khác của UBND, Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc UBND, Viện trưởng VKSND, Chánh án TAND cấp tỉnh; (iii) xem xét văn bản quy phạm pháp luật của UBND cấp tỉnh, nghị quyết của HĐND cấp huyện; (iv) bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu.

Như vậy, với mỗi loại đối tượng giám sát, hình thức giám sát đều có trình tự, thủ tục tiến hành giám sát phù hợp, nhưng khi HĐND tiến hành giám sát đối tượng mới thì trình tự, thủ tục sẽ được thực hiện như thế nào?

Xét về nguyên lý tổ chức, nguyên lý hoạt động giám sát thì HĐND cấp tỉnh không có quyền bỏ phiếu tín nhiệm với thành viên UBND, Chánh án TAND, Viện trưởng VKSND cấp huyện bởi việc bỏ phiếu tín nhiệm chỉ được tiến hành với đối tượng mà HĐND bầu ra mà thôi.

Như vậy, HĐND cấp tỉnh không thể sử dụng mọi công cụ giám sát mà Luật Tổ chức HĐND và UBND đã trao cho mình để giám sát UBND, TAND, VKSND huyện, quận - nơi không tổ chức HĐND. Ngoài ra, Nghị quyết 725/2009/UBTVQH12 cũng mới chỉ quy định quyền giám sát của HĐND cấp tỉnh mà không quy định trình tự, thủ tục tiến hành, điều này không khác gì “cho phép câu cá mà không dạy cách câu, không trao cần câu”.

3. HĐND cấp tỉnh thực hiện quyền giám sát trên thực tế như thế nào?

Trên cơ sở thực tế mười tỉnh, thành phố thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường, có thể đánh giá khả năng thực hiện năm công cụ giám sát của HĐND cấp tỉnh với UBND, TAND, VKSND huyện, quận như sau:

3.1. Đối với việc xem xét báo cáo công tác

Theo quy định tại Điều 52 Quy chế hoạt động của HĐND, thì kỳ họp cuối năm, HĐND cấp tỉnh sẽ phải xem xét báo cáo công tác của UBND, TAND, VKSND cấp tỉnh và nay bổ sung thêm các cơ quan này ở huyện, quận. Trình tự xem xét báo cáo công tác chặt chẽ, trong đó, người đứng đầu cơ quan phải trình bày báo cáo, Ban của HĐND thẩm tra và HĐND thảo luận.

Như vậy, với một địa phương, như tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có năm đơn vị huyện thí điểm, hay thành phố Hồ Chí Minh có 24 đơn vị huyện, quận thí điểm, thì số lượng đối tượng trình báo cáo công tác lên tới 15 hoặc 72 đối tượng. Nếu HĐND xem xét theo đúng quy trình quy định tại Quy chế hoạt động của HĐND (HĐND sẽ xem xét báo cáo của từng đối tượng) thì việc đó trở nên bất khả thi khi có tới 72 đối tượng báo cáo, HĐND sẽ phải xem xét 72 báo cáo theo quy trình, và thời gian họp HĐND sẽ kéo dài. Trong thực tế, có địa phương đưa ra phương án UBND, TAND, VKSND huyện, quận sẽ báo cáo công tác của mình lên UBND, TAND, VKSND cấp tỉnh để các cơ quan này báo cáo ra trước HĐND. Phương án này tuy khắc phục được việc HĐND mất thời gian, công sức xem xét báo cáo công tác của từng cơ quan, nhưng   khó đảm bảo tính pháp lý, mặt khác, khi đó, người đứng đầu UBND, TAND, VKSND huyện, quận có được “báo cáo trình bày những vấn đề có liên quan mà HĐND quan tâm và việc tiếp thu ý kiến của đại biểu HĐND” hay không. Như vậy, HĐND chỉ giám sát một cách gián tiếp mà không giám sát trực tiếp, mặt khác UBND cấp tỉnh là cơ quan cấp trên của UBND huyện, quận, nhưng cơ cấu, mối quan hệ giữa TAND cấp tỉnh - TAND huyện, quận; VKSND cấp tỉnh - VKSND huyện, quận không giống như mối quan hệ giữa UBND cấp tỉnh - UBND huyện, quận. Vì vậy, Chánh án TAND cấp tỉnh, VKSND cấp tỉnh không thể đại diện, chịu trách nhiệm cho TAND, VKSND huyện, quận.

3.2. Đối với việc bỏ phiếu tín nhiệm

Luật Tổ chức HĐND và UBND quy định, HĐND bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu, như vậy HĐND cấp tỉnh có thực hiện quyền này với cả thành viên UBND, Viện trưởng VKSND, Chánh án TAND huyện, quận hay không?

Bỏ phiếu tín nhiệm chỉ áp dụng với người do HĐND bầu, vì vậy, Thủ trưởng cơ quan chuyên môn của UBND, Chánh án TAND, Viện trưởng VKSND cấp tỉnh không phải đối tượng bị HĐND bỏ phiếu tín nhiệm. Nhưng Nghị quyết 725/2009/UBTVQH12 giao HĐND cấp tỉnh giám sát UBND, TAND, VKSND huyện, quận, thì HĐND có quyền bỏ phiếu tín nhiệm Chánh án TAND, Viện trưởng VKSND huyện, quận hay không? Nếu có quyền bỏ phiếu tín nhiệm đối tượng này thì sẽ mâu thuẫn với việc HĐND cấp tỉnh không có quyền bỏ phiếu tín nhiệm Chánh án TAND, Viện trưởng VKSND cấp tỉnh. 

Tuy nhiên, nếu xét trên cơ sở nguyên lý HĐND bỏ phiếu tín nhiệm với người do HĐND bầu, hậu quả là HĐND tiến hành miễn nhiệm, bãi nhiệm người không được HĐND tín nhiệm. Như vậy, nếu HĐND bỏ phiếu tín nhiệm thành viên UBND huyện, quận thì quy trình, thủ tục như thế nào, nếu người nào không được tín nhiệm thì HĐND có miễn nhiệm, bãi nhiệm không bởi HĐND không bầu thành viên UBND huyện, quận mà do Chủ tịch UBND cấp tỉnh bổ nhiệm?

3.3. Xem xét việc chất vấn và trả lời chất vấn, xem xét văn bản quy phạm pháp luật và xem xét báo cáo của đoàn giám sát

Đây là những công cụ giám sát mà HĐND cấp tỉnh có thể thực hiện về mặt thực tế để tiến hành giám sát hoạt động của UBND, TAND, VKSND quận, huyện. Trong thực tiễn, do việc thí điểm mới được tiến hành nên HĐND nhiều địa phương vẫn còn băn khoăn trong việc thực hiện quyền giám sát của mình, hầu hết mới chỉ tập trung vào thành lập các Đoàn giám sát mà thôi.

Nghị quyết 725/2009/UBTVQH12 trao cho HĐND cấp tỉnh quyền giám sát UBND, TAND, VKSND quận, huyện, nếu HĐND sử dụng công cụ giám sát là xem xét việc chất vấn và trả lời chất vấn thì đối tượng bị chất vấn sẽ tăng một cách đột biến. Nếu không tổ chức thí điểm thì HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn khoảng 25 người thì sau khi thực hiện thí điểm, HĐND có quyền chất vấn với cả thành viên UBND, Chánh án TAND, Viện trưởng VKSND huyện, quận (tính một tỉnh nhỏ chỉ với 7 huyện thì số lượng tăng thêm là 105 người, còn với thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh thì tới 360 người). Có thể thấy, đối tượng bị chất vấn tăng quá lớn, đại biểu HĐND không thể đủ sức giám sát thông qua hình thức chất vấn các đối tượng này.  Và kỳ họp HĐND sẽ không có sự tập trung, hoạt động chất vấn sẽ trở nên nặng nề và loãng về chất lượng. Trên thực tế, trong kỳ họp HĐND cấp tỉnh, TTHĐND mới trình HĐND quyết định danh sách người sẽ trả lời chất vấn. Nếu theo quy định như hiện nay, mở rộng đối tượng chất vấn tới UBND, Chánh án TAND, Viện trưởng VKSND huyện, quận thì chỉ khi kỳ họp HĐND, bắt đầu, HĐND mới quyết định danh sách người bị chất vấn. Lúc này sẽ xuất hiện một bất cập là, có người được vào danh sách trả lời chất vấn, nhưng họ đang ở huyện xa trung tâm, thì khó có thể triệu tập người đó lên kịp thời, nhất là khi họ đang ở các khu vực miền núi, huyện vùng sâu (như ở Nghệ An, Đắc Lắc) do đi lại khó khăn, thời gian họp HĐND cấp tỉnh thì ngắn.

Việc xem xét văn bản quy phạm pháp luật do UBND huyện, quận ban hành có thể thực hiện được bởi số lượng văn bản cũng không thật sự nhiều, quy trình cũng đơn giản. Tuy nhiên, trong thực tế, việc HĐND cấp tỉnh xem xét văn bản quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp cũng chưa thực sự được quan tâm đúng mức, vì vậy, với số lượng đại biểu HĐND cấp tỉnh hoạt động chuyên trách không nhiều, nay lại phải kiêm thêm giám sát văn bản quy phạm pháp luật của UBND huyện, quận cũng sẽ tạo thêm sự “quá tải”.

Một trong những hoạt động giám sát mang tính nổi trội của HĐND là tổ chức các đoàn giám sát để giám sát không chỉ tại các UBND, cơ quan chuyên môn của UBND, TAND, VKSND cùng cấp, mà còn giám sát tại cơ sở. Chính vì vậy, khi không tổ chức HĐND huyện, quận nữa thì HĐND các tỉnh, thành phố nơi thực hiện thí điểm đã thực hiện công cụ, hình thức này tương đối tốt, ít có vướng mắc trong hoạt động.

Như vậy, có thể thấy, việc đơn thuần trao quyền giám sát UBND, TAND, VKSND huyện, quận ở những địa phương thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND cho HĐND cấp tỉnh đã nảy sinh những bất hợp lý cần phải xem xét lại, không chỉ về quy định công cụ giám sát mà cả về nguyên tắc tổ chức bộ máy chính quyền địa phương.

II. Một số kiến nghị

1. Giám sát hợp lý và giám sát vừa khả năng

Việc xác định rõ đối tượng giám sát là yếu tố quan trọng để xây dựng các quy định pháp luật về hoạt động giám sát của HĐND cũng như đặt ra mục tiêu phù hợp với thực tế tổ chức HĐND ở nước ta.

Theo nguyên lý của hoạt động giám sát, HĐND chỉ giám sát đối tượng chịu trách nhiệm trước mình. Mặt khác, HĐND cũng chỉ nên tập trung giám sát cơ quan hành pháp là phù hợp. Vì vậy, cần xác định lại đối tượng giám sát của HĐND cấp tỉnh, trong đó không bao gồm TAND và VKSND cả ở cấp tỉnh và huyện, quận nơi không thực hiện thí điểm.

Nhìn lại lịch sử quy định về quyền giám sát của HĐND đối với TAND và VKSND, chúng ta thấy có một số điểm đáng lưu ý là:

- Về mặt lý luận cũng như quy định của pháp luật, TAND và VKSND từng được coi không phải là cơ quan thuộc chính quyền địa phương. Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 1958 chỉ điều chỉnh tổ chức và hoạt động của HĐND và UBHC, mà không thấy đề cập tới các cơ quan tư pháp đặt tại địa phương. Nhiều nhà khoa học khi bàn về đổi mới chính quyền địa phương cũng chỉ đề cập tới đổi mới hai cơ quan là HĐND và UBND1. Có người còn cho rằng, chính quyền địa phương chỉ gồm cơ quan dân cử và cơ quan thi hành, còn cơ quan tư pháp (TAND) không được coi là cơ quan thuộc chính quyền địa phương2, “…dù việc xét xử có triển khai xuống các Tòa án ở địa phương thì quyền lực đó cũng không thuộc về địa phương (cấp hành chính - lãnh thổ)…”3.

- Xét về mặt lịch sử, hình như quy định HĐND giám sát TAND và VKSND không xuất phát từ nguyên lý tổ chức bộ máy nhà nước và đã từng có thời kỳ HĐND không giám sát VKSND. Theo Luật Tổ chức TAND năm 1960 thì từ năm 1960 cho tới trước năm 1992 (trước khi ban hành Luật Tổ chức TAND năm 1992), thẩm phán do HĐND cùng cấp bầu ra, do vậy, các luật về chính quyền địa phương thời kỳ này đều quy định HĐND giám sát TAND. Đến năm 1992, theo quy định mới, thẩm phán TAND không do HĐND bầu, thì Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1994 khi sửa đổi “có lẽ theo thói quen” vẫn tiếp tục quy định HĐND giám sát TAND và bổ sung thêm đối tượng giám sát là VKSND cho tương xứng. Một điểm lưu ý nữa là Luật Tổ chức VKSND đã có từ những năm 1960 nhưng trong một thời gian dài, HĐND không giám sát VKSND mà phải đến năm 1994, Luật Tổ chức HĐND và UBND mới quy định thêm đối tượng giám sát này.

- Xét về nguyên lý hoạt động của bộ máy nhà nước, HĐND không có quyền với TAND, VKSND thì HĐND giám sát các cơ quan này để làm gì, khi mà một trong những nội dung cơ bản của hoạt động giám sát, quyết định tới hiệu lực hoạt động giám sát là chế tài thì HĐND lại không được áp dụng với TAND, VKSND. Bên cạnh đó, TAND là cơ quan độc lập, việc xét xử chỉ tuân theo pháp luật, vậy HĐND có quyền giám sát cơ quan này hay không?

Từ những căn cứ này, chúng tôi cho rằng, cần phải mạnh dạn thay đổi lại quan điểm về đối tượng giám sát của HĐND nói chung để từ đó có thay đổi về đối tượng giám sát của HĐND cấp tỉnh ở những nơi thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND, đó là HĐND không giám sát cơ quan TAND và VKSND.

2. Sử dụng đúng công cụ để tác động có hiệu quả

Cần có hướng dẫn quy định rõ HĐND cấp tỉnh giám sát UBND huyện, quận bằng công cụ giám sát nào và quy trình giám sát ra sao, không nên chỉ quy định chung chung như Nghị quyết 725/2009/UBTVQH12, gây khó khăn trong hoạt động giám sát của HĐND những nơi thực hiện thí điểm. Cụ thể là:

- Quy định HĐND cấp tỉnh giám sát UBND huyện, quận bằng bốn công cụ gồm: xem xét việc chất vấn và trả lời chất vấn; xem xét văn bản quy phạm pháp luật; xem xét báo cáo của đoàn giám sát; bỏ phiếu tín nhiệm.

Tuy công cụ giám sát không có sự thay đổi nhưng nội dung (đối tượng, quy trình giám sát) có sự thay đổi cho phù hợp.

- Quy trình giám sát cần phải thay đổi cho phù hợp với đối tượng giám sát mới, việc HĐND cấp tỉnh giám sát UBND huyện không thể giống HĐND cấp tỉnh giám sát UBND cùng cấp.

HĐND không thể và không cần thiết phải chất vấn toàn bộ thành viên UBND huyện, quận, mà chỉ cần chất vấn người đứng đầu UBND huyện, quận mà thôi (để có thể thực hiện quyền này một cách hiệu quả, phù hợp nguyên lý giám sát thì cần đổi mới tổ chức UBND huyện, quận - chúng tôi sẽ trình bày ở phần tiếp theo). Việc đại biểu HĐND chất vấn Chủ tịch UBND huyện phải được tiến hành thường xuyên, trước kỳ họp, trên cơ sở chất vấn của HĐND, Thường trực HĐND cấp tỉnh trao đổi với UBND cấp tỉnh, dự kiến Chủ tịch UBND huyện, quận nào sẽ trả lời trực tiếp tại kỳ họp mà không cần xin ý kiến HĐND. Đồng thời cho phép chất vấn tại phiên họp Thường trực HĐND giống như chất vấn tại UBTVQH hoặc Thường trực HĐND thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh.

Đối với việc bỏ phiếu tín nhiệm, cần mở rộng quyền kiến nghị tới các chủ thể sau: Thường trực HĐND tự mình trình HĐND hoặc trên cơ sở kiến nghị của Ban của HĐND; Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện, quận; Tổ đại biểu ở huyện, quận; đại biểu HĐND. Đồng thời giảm số tối thiểu đại biểu kiến nghị xuống còn 10% để đảm bảo việc bỏ phiếu tín nhiệm có khả năng thực hiện được trong thực tiễn. Đối tượng bỏ phiếu tín nhiệm chỉ hướng tới người đứng đầu cơ quan hành chính huyện, quận.

3. Tổ chức cơ quan hành chính ở huyện, quận để chịu trách nhiệm cá nhân

Để HĐND cấp tỉnh giám sát được hoạt động của UBND huyện, quận thì cần thiết phải thay đổi cách thức tổ chức của chính quyền địa phương nhằm đảm bảo HĐND có quyền quyết định đối với UBND huyện, quận. Cụ thể là:

- Người đứng đầu cơ quan hành chính huyện, quận chịu trách nhiệm trước cấp trên về mọi hoạt động của cơ quan hành chính do mình lãnh đạo. Như vậy, có thể tổ chức theo mô hình Thị trưởng với các Phó Thị trưởng giúp việc, bên cạnh đó có các cơ quan chuyên môn giúp việc.

- Người đứng đầu cơ quan hành chính huyện, quận (tạm gọi là Thị trưởng) do UBND cấp tỉnh bổ nhiệm và phải được sự phê chuẩn của HĐND cấp tỉnh. Nguyên tắc tổ chức này nhằm đảm bảo đối tượng giám sát - Thị trưởng - chịu trách nhiệm trước HĐND cấp tỉnh. Khi đó, HĐND cấp tỉnh chỉ giám sát Thị trưởng mà thôi, không cần giám sát tới các Phó Thị trưởng. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu tổ chức một số phòng, ban chuyên môn ở huyện, quận không thuộc sự chỉ đạo của Thị trưởng mà do cơ quan chuyên môn cấp tỉnh bổ nhiệm, chỉ đạo (như là cánh tay nối dài của cấp tỉnh xuống cấp huyện), đây là những lĩnh vực cần sự chỉ đạo thống nhất từ trên xuống, đặc biệt với mô hình chính quyền đô thị. Không nhất thiết UBND cấp tỉnh thực hiện quyền quản lý nhà nước lĩnh vực nào thì cơ quan hành chính huyện cũng quản lý lĩnh vực tương tự.

- Tổ chức lại UBND phường theo hướng đơn giản về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn. UBND phường không còn là cơ quan hành pháp ở địa phương mà như một cơ quan do cơ quan hành chính huyện đặt tại phường, chỉ làm một số công việc đơn giản phục vụ người dân, không mang tính quản lý người dân. Do vậy, UBND phường sẽ không có quyền ban hành các quyết định quy phạm pháp luật, quyết định những vấn đề có tác động lớn đến người dân.

4. HĐND cấp tỉnh có khả năng thực hiện quyền giám sát

Để HĐND cấp tỉnh thực hiện được nhiệm vụ nặng nề này, cần thiết phải đổi mới về tổ chức của HĐND cấp tỉnh theo ba hướng sau đây:

- Tăng cường đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách. Với số lượng đại biểu chuyên trách hiện nay khoảng năm người thì khó có thể thực hiện tốt được nhiệm vụ của mình, nhất là khi phải “gánh” thêm việc giám sát cơ quan hành chính huyện, quận. Vì vậy, cần thiết phải tăng số đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách theo hướng mỗi Ban của HĐND phải có Trưởng ban và ít nhất là một Phó trưởng ban hoạt động chuyên trách. 

- Cần bổ sung thêm một Ban, có thể là Ban Giám sát hoặc Ban Chính quyền địa phương giúp HĐND giám sát cơ quan hành chính huyện, quận. Ngoài ra, với những địa phương đặc thù, ngoài việc cho phép thành lập thêm Ban Dân tộc thì có thể cho phép thành lập thêm một Ban nữa phù hợp với điều kiện địa phương. Ví dụ như Ban Cảng biển hoặc Ban Đô thị, Ban Khu công nghiệp …

- Tăng cường vai trò của Tổ đại biểu HĐND cấp tỉnh hoạt động ở các huyện, quận, trong đó, quy định rõ mỗi huyện, quận có một Tổ đại biểu HĐND cấp tỉnh. Để Tổ đại biểu hoạt động hiệu quả thì cần định hướng cơ cấu đại biểu HĐND không có người đứng đầu cơ quan hành chính của huyện, quận và tăng cường lãnh đạo các tổ chức chính trị - xã hội ở huyện như Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân… để thành phần này làm Tổ trưởng Tổ đại biểu. Có như vậy, hoạt động của Tổ đại biểu mới phát huy tác dụng, dám thực hiện quyền giám sát của mình.

ThS. Nguyễn Hải Long - Vụ Công tác đại biểu, Văn phòng Quốc hội.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Góp ý Luật Đất đai sửa đổi: Các công chứng viên nói gì? (09/04/2013)
Sửa Hiến pháp và chính quyền đô thị (27/03/2013)
Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn của Hà Nội hiện nay (01/02/2012)
Hà Nội, TP. HCM: Được xử phạt vi phạm hành chính cao hơn - có khả thi? (10/11/2011)
Chuyển đổi mô hình tăng trưởng và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển của Hà Nội (26/10/2011)
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị ở thành phố Hà Nội (26/08/2011)
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã ở các tỉnh Tây Nguyên hiện nay (10/06/2011)
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị ở thành phố Hà Nội (26/08/2011)
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo trong hai dự thảo luật

Công khai thông tin với việc thực hiện phản biện xã hội

Thư của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gửi Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

CÔNG BỐ VÀ TRAO NGHỊ QUYẾT BỔ NHIỆM VIỆN TRƯỞNG VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt Nam

Khai mạc trọng thể Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Chất vấn và hậu chất vấn

Lựa chọn chính sách cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân