Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ ba, 24/10/2017, 09:29(GMT+7)
 
Ý kiến từ cơ sở

Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn của Hà Nội hiện nay
Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn của Hà Nội hiện nay
Đầu tư cơ sở hạ tầng đồng bộ, khoa học là điều kiện quan trọng phát triển kinh tế-xã hội

 1. Công nghiệp hóa và phát triển - vấn đề của thời đại và của Việt Nam

Công nghiệp hóa (CNH) không phải là câu chuyện mới. Thế giới đã trải qua chặng đường CNH mấy trăm năm và thể nghiệm mô hình CNH đến mấy thế hệ. Xin tạm sắp xếp như sau: CNH thế hệ thứ nhất gồm các nước Âu Mỹ hồi thế kỷ XVII-XVIII kéo dài mấy trăm năm (còn gọi mô hình cổ điển tuần tự); CNH thế hệ thứ hai mà tiêu biểu là Nhật Bản hồi cuối thế kỷ XIX tới nửa đầu thế kỷ XX, mất chừng 50-60 năm (mô hình phi cổ điển tuần tự); CNH thế hệ thứ ba gồm các nước NICs trong những thập kỷ 60-80 thế kỷ XX, mất 30-35 năm (mô hình phi cổ điển rút ngắn); ngoài ra, có CNH của các nước Đông Nam Á, các nước Mỹ latinh, các nước chuyển đổi như Việt Nam, Trung Quốc, Nga…

Dĩ nhiên, giữa các thế hệ và mô hình CNH cũng có những khác biệt và đặc trưng riêng, có những kinh nghiệm mang tính phổ quát hoặc những kinh nghiệm mang tính đặc thù không lặp lại. Cũng đã có những tổng kết và đánh giá về CNH, chủ yếu theo hướng tích cực, thuận chiều. Nhưng chúng tôi lại quan tâm tới vấn đề khác còn đang ít được đề cập: đó là câu chuyện về thất bại của CNH. Vấn đề ở chỗ, cùng với mặt trái và mâu thuẫn đang tăng lên, không thể xem thường nguy cơ rủi ro cao của các quá trình CNH và phát triển trong thời đại ngày nay. Lý luận và thực tiễn cũng chỉ ra, CNH không thể không dựa trên cơ sở kinh kinh tế thị trường và hội nhập (thất bại của CNH xã hội chủ nghĩa theo mô hình Xô-viết đã chứng minh điều này); tuy nhiên, CNH theo con đường phát triển kinh tế thị trường tự do và phương Tây hóa cũng không phải tối ưu. Trong khi một nhóm các nước công nghiệp hàng đầu ở phương Tây đang gặt hái về phát triển thì trái lại, đa số các nước ngoài phương Tây, kể cả các nước chuyển đổi - tức đa số dân cư trên hành tinh lại thất bại sâu sắc trong những nỗ lực CNH, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập.

Thất bại của CNH và phát triển kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa (TBCN) đã không còn là điều bí mật: “Chủ nghĩa tư bản (CNTB) chỉ giành được thành công trong 10% hoặc 20% dân số thế giới. Còn đối với thế giới thứ ba, đối với những người nghèo chiếm đại đa số dân số mà nói, CNTB chỉ mang tính tai ương, thất bại của CNTB còn sớm hơn cả thất bại của chủ nghĩa xã hội”1. Một câu hỏi luôn ám ảnh các nhà khoa học thế giới: “Tại sao CNTB thắng lợi ở phương Tây nhưng lại thất bại ở các nơi khác?”; “Tại sao nó lại không có khả năng bành trướng và chinh phục toàn xã hội?... Tại sao một phần đáng kể của sự hình thành vốn (tư bản - TG) lại chỉ có thể diễn ra trong những khu vực nhất định chứ không phải toàn bộ nền kinh tế thị trường của thời đại?”2. Vấn đề là ở chỗ, khác với các thế kỷ trước đây, CNH và phát triển kinh tế thị trường hiện đại không thể ra đời tự phát, mà cần những điều kiện về kinh tế, xã hội và thể chế thích hợp, đặc biệt, cần một Nhà nước mạnh và trong sạch để quản lý các quá trình phát triển.

Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập, không thể phủ nhận bên cạnh những cơ hội lớn mà thời đại tạo ra, cũng có nhiều thách đố gay gắt về phát triển. Trong đó, thách đố lớn nhất là đòi hỏi các nước đi sau như Việt Nam phải phát huy được nội lực và nhân tố năng động của chủ thể, để có thể tranh thủ tối đa ngoại lực và lợi thế của người đi sau, nhằm thu hẹp khoảng cách và đạt được sự phát triển hiện đại. Tuy nhiên, do tồn tại khoảng cách lớn về trình độ, nhất là khoảng cách về khoa học công nghệ so với CNTB mà các nước đi muộn vào CNH và kinh tế thị trường toàn cầu phải chịu sức ép lớn trong cuộc cạnh tranh không cân sức; họ buộc phải đề ra yêu cầu bức thiết về phát triển rút ngắn và đuổi kịp, nếu không sẽ bị loại khỏi cuộc chơi toàn cầu hoá. Thậm chí, có ý kiến bi quan còn cho rằng, trong điều kiện chênh lệch quá lớn về trình độ phát triển như ngày nay thì những nước nghèo mãi mãi không thể vươn lên theo kịp các nước giàu - bởi xét về giá trị tuyệt đối thì các nước giàu như Mỹ, Nhật Bản, EU chỉ tăng 1% GDP là đã lớn hơn hàng chục, hàng trăm % GDP của các nước nghèo!

Ngoài ra, không ngoại trừ các nước phát triển lợi dụng toàn cầu hoá để áp đặt sự thống trị và bóc lột theo kiểu “chủ nghĩa thực dân mới” hay quan hệ “trung tâm - ngoại vi”. Xét về thực chất, nền kinh tế thị trường TBCN toàn cầu ngày nay là sự thống trị của một thiểu số các nước lớn hay các tập đoàn xuyên quốc gia (TNCs) ở “trung tâm” đối với “ngoại vi”, thông qua việc định ra luật lệ và chính sách, điều phối hoạt động kinh tế và trao đổi thương mại bất lợi cho các nước nghèo. Theo tính toán, vào đầu thế kỷ XXI, các nư¬ớc công nghiệp phát triển đã giành 350 tỷ USD hàng năm để trợ cấp cho nông dân nước họ, tức gấp 7 lần tổng số tiền viện trợ quốc tế cho các nước nghèo. Trên thế giới có khoảng 1,2 tỷ người sống dưới mức nghèo khổ với thu nhập chỉ 1 USD/người/ngày; mà nguyên nhân chủ yếu là do chính sách trợ cấp nông nghiệp và việc hạn chế nông phẩm của nước nghèo tiếp cận thị trường nước giàu3. CNH và phát triển kinh tế thị trường theo mô hình phương Tây, mà Mỹ và các định chế toàn cầu WB, IMF đang cố áp đặt một cách “võ đoán”, đã tỏ ra bất khả thi. Trái lại, nó có nguy cơ tạo ra sự lệ thuộc về chính sách giữa nước nghèo vào nước giàu, đồng thời gây xung đột sâu sắc với các giá trị văn hoá và truyền thống, làm tăng bất ổn xã hội và khoảng cách giàu nghèo trong lòng các xã hội vốn không quen với chủ nghĩa làm giàu vị kỷ, thần tượng hoá đồng tiền đến mức chà đạp cả đạo lý, thuần phong bản địa.

Với Việt Nam, sau khi đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO, nền kinh tế nước ta phải tham gia vào sân chơi chung, vận hành theo luật lệ thương mại và thị trường toàn cầu. CNH, hiện đại hóa (HĐH) hơn bao giờ hết lại nổi lên, trở thành nhiệm vụ trung tâm và có tính quyết định. Vấn đề là ở chỗ làm sao nhanh chóng đưa nước ta ra khỏi tình trạng chậm phát triển hay “thân phận công dân thế giới hạng hai”*, xây dựng thành công nước Việt Nam giàu mạnh, trở thành quốc gia công nghiệp hóa trong thế kỷ XXI, cũng giống như các nước G7, G8 hay G20, các nước NICs. Hơn nữa, Việt Nam sau hơn hai thập kỷ cải cách, mở cửa và hội nhập, đã luôn duy trì được mức tăng trưởng cao, GDP/đầu người bắt đầu vượt ngưỡng thu nhập thấp và bước vào hàng các quốc gia có thu nhập trung bình. Nhưng cũng có nhiều cảnh báo, đây là giai đoạn khó khăn nhất trong phát triển. Bởi nó quyết định hoặc chúng ta vươn lên đẳng cấp phát triển cao như các nước Tây Âu hay Đông Á, hoặc sẽ nằm lại trong quỹ đạo “bẫy thu nhập trung bình” và “trần công nghệ cao” như các nước Đông Nam Á và nhiều nước Mỹ latinh, châu Phi khác.

Đánh giá thật nghiêm khắc, có thể thấy rằng, chúng ta chưa thành công, thậm chí là thất bại về CNH. Kể từ khi Đổi mới đến nay, đã hơn ¼ thế kỷ, nếu tính cả thời gian đất nước chấm dứt chiến tranh, xây dựng hòa bình thì đã hơn 35 năm (vừa đủ thời gian cho một thế hệ các nước NICs trở thành những con hổ kinh tế), nhưng chúng ta mới chỉ tạm thoát ra khỏi ngưỡng nghèo và ở tốp dưới của các nước thu nhập trung bình (vượt mốc GDP 1.000 USD/đầu người). Có ý kiến cho rằng, chúng ta mới đi được 1/3 - 1/4 lộ trình CNH. Lại có ý kiến bi quan hơn cho rằng, sự nghiệp CNH đang chệch hướng và khó tới đích! Từ nay tới năm 2020, chặng đường CNH chỉ còn 10 năm nữa, nhưng là chặng đường đầy khó khăn. Nó sẽ quyết định việc nước ta, sau khi thoát khỏi tình trạng quốc gia thu nhập thấp, có chuyển sang giai đoạn “cất cánh” và gia nhập vào nhóm các nước CNH mới (như Thái Lan, Malaixia, Philippine…), và tiếp sau đó có thể vươn lên đẳng cấp phát triển cao (như Singappore, Hàn Quốc, Đài Loan…) hay không. Có so sánh rằng, xét theo các chỉ tiêu GDP/đầu người, tỷ trọng công nghiệp chế tạo và trình độ khoa học công nghệ, thì chúng ta đang “doãng rộng khoảng cách” và đi chậm hơn so với một số nước trong khu vực từ 15-20 năm4. Theo logic thông thường, Việt Nam không thể hoàn thành nhiệm vụ CNH bởi thời gian còn lại quá ngắn.

2. Con đường thực hiện công nghiệp hóa -hiện đại hóa rút ngắn của Hà Nội

Hà Nội là thủ đô của đất nước. Vì thế, sự phát triển của Hà Nội có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển chung của cả nước. Với Hà Nội, việc điều chỉnh địa giới hành chính Thủ đô tăng lên 3,5 lần và dân số tăng gấp 2 lần, qua việc sáp nhập thêm các tỉnh Hà Tây, một phần tỉnh Vĩnh Phúc và Hòa Bình, đã đem lại cho Hà Nội vị thế mới, với không gian địa chính trị mở rộng. Nhưng trước mắt, Hà Nội cũng còn nhiều thách thức lớn phải vượt qua, đó là mức thu nhập bình quân GDP/đầu người phải tính toán lại, từ 2.300 USD giảm xuống chỉ còn khoảng 1.700 USD (năm 2008), hoặc từ 5.000 USD chỉ còn khoảng 3.000-3.500 USD (dự kiến năm 2015), 5.100-5.200 USD (năm 2020) và 11.000-12.000 USD (năm 2030)5. Mục tiêu Hà Nội phải hoàn thành CNH-HĐH về trước cả nước vào năm 2015 và sánh kịp các thủ đô trên thế giới lại càng là một thách thức. Vì thế, việc đề ra các giải pháp để Hà Nội cơ bản hoàn thành CNH trước cả nước vào năm 2015 vừa là vấn đề có tính lý luận sâu sắc vừa có tính thực tiễn rất cao.

Thủ đô Hà Nội có chỉ số công nghiệp cao hơn cả nước 1,5-1,7 lần; khoảng cách về trình độ phát triển của Hà Nội so với các nước trong khu vực ước chừng chậm hơn từ 10-15 năm. Như vậy, trong khoảng thời gian từ nay tới 2015, để đạt trình độ hiện tại của một số nước CNH trong khu vực, thì Hà Nội cần nâng tốc độ tăng trưởng lên cao hơn nữa so với mức khoảng 10%/năm hiện nay. Tuy vậy, sẽ là thách thức lớn đối với một nền kinh tế “quá nóng”.

Chúng ta biết rằng, một nước nếu duy trì được tốc độ tăng trưởng 7-7,5%/năm liên tục trong vòng 10 năm sẽ bội tăng GDP theo quy luật “nhân đôi”. Việt Nam trong thời kỳ 1994-2008 đã làm được điều này. Với quy mô tương đối nhỏ của Thủ đô Hà Nội, nếu duy trì được tốc độ khoảng 10%/năm trở lên trong vòng 6-7 năm thì có thể nhân đôi GDP của mình. Nước Nhật đã làm được điều thần kỳ như vậy trong những năm 60-70 thế kỷ trước khi thực hiện thành công kế hoạch “bội tăng tiền lương cho người lao động” và “bội tăng lợi tức quốc gia” của Thủ tướng Ikeda Hayato và nhà kinh tế học Nakayama Ichiro trong vòng 07 năm (so với 10 năm kế hoạch đề ra). Đối với chúng ta, đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng là phương án được lựa chọn.

Giả định chúng ta sẽ thực hiện được kế hoạch tăng trưởng đề ra, để vào năm 2015 Hà Nội đạt GDP/đầu người 3.000-3.500 USD, thì vẫn còn thấp hơn chỉ tiêu của nước CNH với mức GDP/đầu người tối thiểu khoảng 5.000 USD. Như vậy, nếu chỉ dựa vào con đường đẩy nhanh tăng trưởng (tăng tốc độ và quy mô GDP), thì việc phấn đấu để Hà Nội trở thành thủ đô CNH sẽ gặp những mối quan ngại khó vượt qua: (i) không thể thực hiện nhiệm vụ này vào năm 2015 như vừa chỉ ra; (ii) mặt khác, nhiều cảnh báo chúng ta đã duy trì quá lâu mô hình tăng trưởng và CNH ưu tiên số lượng nhờ gia tăng các yếu tố đầu vào (thâm dụng vốn, lao động giá rẻ và tài nguyên thô), mô hình này đã hết tác dụng và có nguy cơ gây khủng hoảng xã hội sâu sắc.

Hạn chế của mô hình tăng trưởng và CNH chạy theo số lượng thay vì chất lượng ngày càng bộc lộ trên các mặt sau:

- Tuy nền kinh tế Thủ đô có tốc độ tăng trưởng khá cao trong thời gian tương đối dài6, tỷ trọng giá trị xuất khẩu lớn so với GDP; nhưng thành tích này chủ yếu nhờ vào tăng các yếu tố đầu vào, hiệu quả không cao, mang về ít giá trị tăng thêm và năng suất lao động thấp7. Thêm nữa, Hà Nội chưa chủ động phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ để thúc đẩy nội địa hóa sản xuất, dẫn tới cơ cấu công nghệ lạc hậu, nặng tính chất gia công; chưa có nhiều sản phẩm và doanh nghiệp với thương hiệu mạnh, có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Đặc biệt, CNH nông nghiệp - nông thôn ngoại thành tiến hành còn chậm và có xu hướng gia tăng khoảng cách với khu vực đô thị8; con đường đưa nông dân đi vào CNH, vấn đề thu hồi đất đai nông nghiệp, bố trí việc làm và đời sống sau khi thu hồi đất chưa có lời giải tối ưu, xuất hiện các bức xúc và mâu thuẫn trong quá trình đô thị hóa quá nhanh, đe dọa gây bất ổn xã hội; phân bổ và sử dụng đất đai nông nghiệp đang nổi cộm: nhiều diện tích đất nông nghiệp mầu mỡ, nhiều vùng có truyền thống thâm canh, nhiều loại cây con đặc sản quý, nhiều làng nghề truyền thống của Thăng Long - Hà Nội… đang đứng trước nguy cơ biến mất vĩnh viễn9.

- Mặc dù Thủ đô được coi là trung tâm giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ của đất nước, có tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chiếm 50%, nhưng xét về mặt chất lượng đào tạo và chất lượng nguồn nhân lực thì hãy còn thấp so với yêu cầu CNH; công tác đào tạo đang mâu thuẫn: thừa thầy thiếu thợ, đào tạo ra nhưng không bố trí được việc làm, trong khi lại thiếu lao động có tay nghề và năng lực chuyên môn sâu, tỷ lệ lao động phổ thông còn lớn. Dịch chuyển cơ cấu lao động và việc làm chậm hơn tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế dẫn tới tình trạng dư thừa lao động và gây bức xúc về đời sống, việc làm. Công tác quy hoạch, quản lý đô thị, phát triển hạ tầng kỹ thuật và xã hội cũng có nhiều mặt yếu kém; tình trạng ùn tắc giao thông, úng ngập cục bộ, ô nhiễm môi trường… đang là các vấn đề bức xúc thường trực10. Một số công trình, dự án về xây dựng hạ tầng triển khai chậm, hiệu quả đầu tư không cao. Cả hai mặt quan trọng của Thủ đô là phát triển con người và xã hội - đô thị trong quá trình CNH có những tồn tại bất cập sâu sắc.  

- Năng lực quản trị điều hành nền kinh tế Thủ đô còn hạn chế, mang dáng dấp hành chính quan liêu chậm chạp, nhất là trong công nghiệp; chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền và doanh nghiệp để kịp thời tháo gỡ những vướng mắc khó khăn. Phân cấp quản lý còn chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn, điều hành vĩ mô chưa nhạy bén, đôi khi mang tính tình thế, bị động. Chưa đảm bảo bình đẳng thật sự giữa các thành phần kinh tế, nhất là trong tiếp cận các nguồn lực đất đai, tín dụng (có vốn nước ngoài và vốn hỗ trợ phát triển ODA). Môi trường kinh doanh và chỉ số năng lực cạnh tranh của Thủ đô chậm được cải thiện. Không thể phủ nhận, có tư duy quản lý chạy theo số lượng, thành tích, đề cao tốc độ tăng trưởng, đánh đổi mục tiêu tăng trưởng với sự trả giá đắt về xã hội, môi trường và phát triển bền vững...

Kết quả là đang xuất hiện những mâu thuẫn và nguy cơ tiềm tàng: Nền kinh tế kém hiệu quả và sức cạnh tranh, môi trường và chất lượng sống, văn hóa - xã hội - giáo dục chậm được cải thiện, thậm chí có biểu hiện suy thoái. Hà Nội sẽ không thể trở thành thủ đô CNH hiện đại, văn minh nếu các mặt trên đây chưa được quan tâm giải quyết đồng bộ. Cho tới nay, Hà Nội vẫn là thủ đô nghèo so với thủ đô các nước trong khu vực như Băng Cốc - Thái Lan, Cuala Lămpơ – Mailaixia, Manila – Philippinne… Có thể thấy hệ lụy tăng trưởng và CNH theo mô hình cũ ngày càng gây áp lực lớn lên lạm phát, thâm hụt ngân sách và cán cân thương mại, nợ nước ngoài tăng quá ngưỡng an toàn (xem bảng). Trong khi đó, thế giới sau khủng hoảng, suy thoái, các nền kinh tế sẽ tái cấu trúc và phát triển nhanh chóng, giống như châu Á sau khủng hoảng tài chính năm 1997.

Từ phân tích trên, chúng tôi đi tới kết luận về sự cần thiết chuyển đổi mô hình tăng trưởng và CNH của Hà Nội trong thời kỳ tới. Tuy nhiên, điều nhấn mạnh ở đây là, việc chuyển đổi sang mô hình mới dựa trên ưu tiên chất lượng, hiệu quả và phát triển bền vững chính là giải pháp hữu hiệu nhằm thực hiện CNH rút ngắn, khắc phục khoảng cách tụt hậu và nhanh chóng đưa Hà Nội trở thành thủ đô CNH hiện đại, giàu mạnh trong thế kỷ XXI. Lập luận của chúng tôi như sau: Việt Nam và Hà Nội dù đi chậm hơn các nước trong khu vực một khoảng cách khá lớn 10-20 năm, nhưng không nhất thiết cần một độ dài thời gian tương ứng để tiến kịp. Phát triển rút ngắn và bền vững đang là xu hướng của thế giới ngày nay. Chỉ tiêu tăng trưởng về số lượng hay GDP/đầu người không phải là duy nhất quyết định. Giả thiết, chúng ta không cần phải cố gắng bằng mọi giá để nâng cao tốc độ tăng trưởng và tăng GDP, mà có thể duy trì tốc độ tăng trưởng bằng hay thậm chí thấp hơn hiện nay, nhưng nếu đảm bảo phát triển trong sự phân phối công bằng và đồng đều hơn về các nguồn lực và phúc lợi, đồng thời kết hợp với giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội và môi sinh, môi trường, thì chúng ta vẫn có thể đạt tới trình độ của Thái Lan, Mailaixia hiện nay với mức GDP/đầu người thấp hơn họ. Đây chính là đảm bảo mặt chất lượng phát triển và chất lượng sống để rút ngắn con đường đi cho Hà Nội.

Có thể lấy ví dụ, nếu xét các chỉ tiêu về tăng trưởng và GDP/đầu người thì Việt Nam và Hà Nội còn cách xa Mailaixia, Thái Lan, Trung Quốc, nhưng xét về các chỉ số HDI, tỷ lệ người biết chữ, trẻ em đến trường, được chăm sóc y tế... thì ta không thua kém nhiều. Đây là một lợi thế và ưu điểm trội cần được phát huy. Một ví dụ khác, vào năm 2004, Mêxico (thành viên OECD) có GDP/đầu người là 7.298 USD và chỉ số HDI là 0,821; Braxil tương ứng 4.320 USD và 0,807; Malaixia 5.042 USD và 0,805; Thổ Nhĩ Kỳ (ứng cử viên gia nhập EU) 5.062 USD và 0,757; Nam Phi 5.106 USD và 0,653; Thái Lan 2.659 USD và 0,784; Trung Quốc 1.709 USD và 0,768; Philippine 1.168 USD và 0,76311. Như vậy, ngoài việc các nước NICs thế hệ thứ 2,3... có GDP/đầu người thấp hơn các nước công nghiệp phát triển hàng chục lần, thì chỉ số HDI cũng thấp hơn so với mức trên 90% chỉ số trung bình của các nước OECD và EU. Ngay trong các nước NICs trên đây cũng phân hóa thành 2 nhóm: nhóm các nước có chỉ số HDI cao và nhóm các các nước có chỉ số HDI trung bình. Dĩ nhiên, để đạt đẳng cấp cao của các nước phát triển thì cần có mức GDP/đầu người và chỉ số HDI đều phải cao; nhưng với các nước NICs – có thể coi như “nước cơ bản CNH”, thì các chỉ tiêu GDP/đầu người và chỉ số HDI tương đối thấp, hơn nữa không cố định ở mức 1.000, 2.000 hay 4.000-5.000 USD/người.

Như thế, Việt Nam và Hà Nội cũng nên tham khảo và không câu nệ quá vào chỉ tiêu GDP/đầu người (cố định ở một mức giả thiết 3.500 hay 5.000 USD). Trước mắt, ta cần coi trọng và tập trung cho các chỉ tiêu về chất lượng. Nếu chất lượng sống, phát triển con người và công bằng xã hội được cải thiện tốt hơn, thì chúng ta vẫn có thể không thua kém so với các nước có mức GDP/người tương đương hay cao hơn (như Trung Quốc, Thái Lan, Malaixia, Philippine). Các nước cho dù GDP/người cao hơn, nhưng phân phối của cải thiếu bình đẳng, phúc lợi và cuộc sống người dân không được đảm bảo, thì rõ ràng thu nhập GDP/đầu người thực tế của họ sẽ bị cắt xén, suy giảm đáng kể, thậm chí không bằng so với nước có mức GDP/đầu người thấp.

Nhìn xa hơn, khi các khía cạnh xã hội, môi trường và chất lượng sống, chất lượng nguồn nhân lực được chú trọng cải thiện, có nghĩa rằng trong tương lai hứa hẹn một “tiềm năng tăng trưởng mới”, tức sự tăng trưởng dài hạn và bền vững cho quốc gia; ngược lại, nếu không được cải thiện, sự tăng trưởng hôm nay sẽ trở thành “ẩn họa” và đe dọa “nuốt mất” sự phát triển trong tương lai. Nói cách khác, phát triển bền vững còn là cách thức và là con đường duy nhất trong điều kiện ngày nay để Việt Nam và Hà Nội đạt được mục tiêu chiến lược: trở thành nước CNH và vươn lên đẳng cấp cao trong phát triển như các nước Đông Á, tránh được“bẫy thu nhập trung bình” như các nước Philippine, Inđônexia, Thái Lan... Việt Nam và thủ đô Hà Nội đang có lợi thế của người đi sau; mà lợi thế trước tiên là có thể tham khảo từ bài học kinh nghiệm thành công/thất bại của các nước Đông Á so với các nước Đông Nam Á về giải quyết bài toán phát triển bền vững ngay trong toàn bộ quá trình tăng trưởng12: 

 (a) Giáo dục các nước Đông Á có tầm nhìn chiến lược toàn diện nhằm phát triển nguồn lực con người; hoạt động dạy nghề cung cấp cho người dân di cư từ nông thôn ra thành thị kỹ năng cần thiết để họ có thể tìm việc làm trong nhà máy với thu nhập tốt hơn; giáo dục đại học mở rộng nhanh chóng, nhất là đào tạo kỹ sư về kỹ thuật và công nghệ; ưu tiên cao độ cho các trường đại học đẳng cấp, có nhiều trường lọt vào top đại học quốc tế.

(b) Cơ sở hạ tầng và đô thị các nước Đông Á được chính phủ tập trung đầu tư nguồn lực với hiệu quả cao, các Thủ đô và thành phố trở thành động lực tăng trưởng và đổi mới kinh tế; tuy nhiên, chính phủ khi ra quyết định đầu tư rất thận trọng và căn cơ. Trong khi các thành phố ở Đông Nam Á bị nạn ô nhiễm, ùn tắc, ngập úng, đắt đỏ, nghèo đói, tội phạm và bất lực về cung cấp dịch vụ đô thị, đồng thời chính phủ bị tham nhũng và có xu hướng đầu tư quá mức vào các dự án khổng lồ nhưng chưa cần thiết khiến suy giảm nguồn lực quốc gia.

(c) Công bằng và thịnh vượng cho toàn xã hội dựa trên phân phối thu nhập quốc dân tương đối đồng đều, thậm chí ngay cả khi đã đạt được mức phát triển cao như hiện nay thì các nước Hàn Quốc, Đài Loan, Xingapore vẫn duy trì mức thu nhập đồng đều hơn so với các nước Đông Nam Á

(d) Doanh nghiệp đảm đương sứ mệnh cạnh tranh quốc tế: thay vì duy trì bảo hộ sản xuất nội địa thì các doanh nghiệp được chính phủ ưu tiên hỗ trợ nguồn lực với điều kiện nhanh chóng đạt được kỹ năng, công nghệ và sản phẩm mới để chiếm lĩnh thị trường quốc tế. Các doanh nghiệp khi thành công xuất khẩu mới được nhận đơn hàng nhà nước và được ưu đãi thâm nhập thị trường nội địa.

(e) Các nước Đông Á quan tâm xây dựng hệ thống tài chính chặt chẽ và minh bạch, nhằm tạo dựng lòng tin cho các nhà đầu tư; chính phủ dành phần lớn thu nhập quốc dân cho đầu tư phát triển, đồng thời đảm bảo hiệu quả đầu tư công. Ví dụ, Đài Loan chỉ đầu tư 26% GDP nhưng đảm bảo tăng trưởng 10%/năm liên tục trong 20 năm từ 1962-1980. Trong khi các nước Đông Nam Á thành công về huy động tỷ lệ lớn GDP cho đầu tư nhưng lại thất bại duy trì tốc độ tăng trưởng cao liên tục do yếu tố tham nhũng và đầu cơ tài chính, xuất hiện các bong bóng tài sản.

(g) Cuối cùng, Đông Á có nhà nước hiệu năng và trong sạch với đặc trưng: không có câu kết giữa giới làm chính sách và các nhóm lợi ích; chính phủ đảm bảo về cơ sở hạ tầng, giáo dục, y tế, an ninh công cộng, kiểm soát kinh tế vĩ mô; chính phủ cũng có quyết tâm chính trị mạnh để tạo các thay đổi bước ngoặt; đảm bảo pháp luật tôn nghiêm, tính thượng tôn pháp luật không tùy thuộc vào các đảng phái và nhóm lợi ích; quyết sách chính phủ được dựa trên các phân tích chính sách khoa học, giới chuyên gia được tôn trọng lắng nghe, duy trì tinh thần tranh luận dân chủ.

3. Chỉ tiêu Hà Nội cơ bản hoàn thành công nghiệp hóa - hiện đại hóa rút ngắn vào năm 2015 và một số giải pháp định hướng

Dựa vào cơ sở lập luận trên, chúng tôi xin đề xuất các chỉ tiêu cơ bản hoàn thành CNH cho Hà Nội vào năm 2015 như sau:

 

Có thể tóm tắt mô hình tăng trưởng và CNH rút ngắn của Hà Nội là: Ưu tiên chất lượng và hiệu quả, nâng cao năng lực cạnh tranh trong phân công quốc tế và chuỗi giá trị toàn cầu của cả nền kinh tế, của doanh nghiệp và sản phẩm hàng hóa Thủ đô; Gắn yêu cầu tăng trưởng với giải quyết hài hòa các mặt chất lượng sống, văn hóa, môi trường và phát triển bền vững, đảm bảo dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội; Khai thác lợi thế so sánh động, phát huy tổng hợp các nguồn lực (trước tiên là con người, khoa học công nghệ, văn hóa…) của Thủ đô vào phát triển; Phấn đấu để Hà Nội trở thành một đô thị văn minh hiện đại, thành phố du lịch hấp dẫn của khu vực, trung tâm tổ chức hội nghị khu vực và quốc tế; Từng bước phát triển kinh tế tri thức và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đột phá vào những hướng trọng yếu của thời đại, để tạo nên sự nhảy vọt về lực lượng sản xuất, sức cạnh tranh, hàm lượng R&D (nghiên cứu và phát triển), giá trị tăng thêm trong hàng hóa - dịch vụ Thủ đô; Xây dựng thể chế và cơ chế kinh tế thích hợp của giai đoạn mới - thể chế thị trường hiện đại và cơ chế kinh tế chất lượng cao. 

Từ đây xin gợi ý một số định hướng giải pháp chủ yếu thực hiện CNH rút ngắn để Hà Nội cơ bản hoàn thành CNH theo hướng hiện đại vào năm 2015 và chuẩn bị những tiền đề tiếp tục phát triển vươn lên đẳng cấp cao trong những thập niên tiếp theo:

- Hoàn thiện nhà nước pháp quyền, nâng cao năng lực quản trị điều hành và tạo lập cơ chế kinh tế chất lượng cao cho vận hành nền kinh tế Thủ đô. Trong giai đoạn mới, cơ chế kinh tế chất lượng cao quyết định thành công CNH rút ngắn, tăng trưởng bền vững của Thủ đô. Tham khảo các nước, cơ chế này có các đặc điểm: (i) Dân chủ hóa trong hoạch định chiến lược, chính sách và ra quyết định kinh tế; (ii) Sự cộng tác chặt chẽ giữa Nhà nước, nhà quản lý - doanh nghiệp, doanh nhân - chuyên gia, nhà khoa học; (iii) Xây dựng đội ngũ công chức và bộ máy nhà nước hiệu năng, có năng lực đề ra chính sách và thực thi chính sách; (iv) Đảm bảo tính minh bạch, dự đoán được của chính sách và môi trường đầu tư - kinh doanh, giảm thiểu rủi ro và hạ thấp chi phí giao dịch, tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp và nền kinh tế. Trước mắt, Thành phố tập trung thực hiện cải cách hành chính một cách thực chất theo Đề án 30, rà soát và kiên quyết cắt bỏ các quy định gây phiền hà, chồng chéo đối với hoạt động của doanh nghiệp và công dân; kiện toàn tổ chức bộ máy và công tác cán bộ, thực hiện bầu một số chức danh trong các cơ quan đại diện và công quyền; cơ chế chỉ đạo điều hành công khai dân chủ, cơ chế phân cấp và xác định quyền hạn gắn với trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân khi thực thi nhiệm vụ; cơ chế tham vấn và phản biện về các vấn đề kinh tế - xã hội; cơ chế tiếp dân và đối thoại, xử lý ngay các bức xúc, khiếu kiện tại cơ sở...

- Phát triển ưu tiên và tạo chuyển biến cụ thể, nhảy vọt trong các lĩnh vực KHCN, giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe, bồi dưỡng thể chất và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, công tác quản lý và xây dựng đô thị, chống ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường. Giáo dục đào tạo là “mấu chốt” của CNH, bởi vì trong thế giới biến đổi nhanh chóng chỉ có nguồn nhân lực được chuẩn bị tốt có chất lượng cao mới thích ứng và chuyển hóa được các yếu tố khác. Vốn con người và tri thức, khoa học công nghệ là những lợi thế và nguồn lực to lớn, cơ bản, quyết định tới thành công của sự nghiệp CNH, HĐH Thủ đô. Thành phố cần có cơ chế tuyển chọn, thu hút và sử dụng nhân tài, các chuyên gia, nhà khoa học vào bộ máy quản lý cũng như các lĩnh vực kinh tế và công nghệ. Nên đề ra các chỉ tiêu thiết thực để phấn đấu (như số trường đạt chuẩn quốc gia và quốc tế, số học sinh dự các kỳ thi và đoạt giải nghiên cứu sáng tạo, số nhà khoa học trong nước và quốc tế tham gia cộng tác, làm việc...). Hiện Hà Nội đang đặt ra mục tiêu từ nay tới năm 2020 thu hút 100 nhà khoa học nước ngoài về làm việc. Tuy nhiên, cũng còn có những khía cạnh phải bàn, như cơ chế làm việc và đãi ngộ thế nào để người được mời không còn cảm giác là “khách”, để họ có thể phát huy tính chủ động, sáng tạo và tâm huyết cống hiến cho Thủ đô. Ngoài ra, các bức xúc trong quản lý - xây dựng đô thị, úng ngập cục bộ, ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường... cần được tập trung chỉ đạo và ưu tiên các nguồn lực để khắc phục ngay, thực hiện xã hội hóa và huy động các nguồn lực trong nước và quốc tế cho công tác này, phát động phong trào toàn dân tham gia bảo vệ, xây dựng Thủ đô xanh sạch đẹp. Công tác quy hoạch Thủ đô mới cần thận trọng, khoa học, có tầm nhìn xa 50 năm, thậm chí hàng trăm năm, đảm bảo tính truyền thống và hiện đại, cũng nên tham khảo so sánh với các hình mẫu của các thủ đô Tokyo, Seoul, Taipei, Manila...

- Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh động, hội nhập vững chắc và gắn với cấu trúc mạng toàn cầu. Chính sách công nghiệp và vai trò định hướng hỗ trợ phát triển chuyển từ ưu tiên cho doanh nghiệp nhà nước sang khuyến khích khối tư nhân, lấy kinh tế tư nhân làm trụ cột trong hội nhập và CNH; chuyển từ định hướng phát triển sản phẩm sang định hướng quy trình công nghệ nhằm khai thác hệ thống phân công quốc tế hiện đại vận hành theo nguyên lý “mạng toàn cầu” và “chuỗi giá trị gia tăng”; chuyển từ những ngành thâm dụng vốn và tài nguyên sang những ngành ưu tiên sử dụng lao động có kỹ năng, ứng dụng khoa học công nghệ, phát triển nhanh ngành công nghiệp hỗ trợ và tăng tỷ lệ nội địa hóa sản xuất. Đặc biệt, phát triển mạnh các ngành dịch vụ chất lượng cao mà Hà Nội có lợi thế nhằm tạo nhiều việc làm và cải thiện thu nhập - như du lịch, nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, dịch vụ xã hội và đô thị, các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh và hội nhập, tài chính - ngân hàng - bảo hiểm, giao thông - liên lạc... Biến Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm dịch vụ - du lịch lớn của cả nước và khu vực.

- Cải cách triệt để khu vực nhà nước, phát triển kinh tế tư nhân lớn mạnh, nhanh chóng hình thành các tập đoàn kinh tế có sức cạnh tranh - kể cả tập đoàn kinh tế tư nhân, tạo dựng sản phẩm hàng hóa có thương hiệu mạnh của Thủ đô. Doanh nghiệp nhà nước phải được cổ phần hóa hay chuyển sang Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, cắt bỏ các bao cấp và ưu đãi hiện hành để buộc doanh nghiệp nhà nước phải đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động, cạnh tranh thực sự trên thị trường. Vai trò, nhiệm vụ doanh nghiệp nhà nước được thể hiện qua công tác điều hành và quản trị vĩ mô của Nhà nước, cung cấp các dịch vụ công cộng và hạ tầng cơ bản để nâng cao sức cạnh tranh cho nền kinh tế.

- Nhanh chóng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn ngoại thành theo hướng xây dựng nền nông nghiệp đô thị sinh thái chất lượng cao, giá trị cao. Ứng dụng phổ biến khoa học công nghệ vào nông nghiệp - nhất là công nghệ sinh học, tạo bước nhảy vọt về năng suất, chất lượng cây trồng vật nuôi; phát triển thương hiệu đặc thù cho nông sản Thủ đô và thị trường đầu ra của hàng hóa nông sản; gắn phát triển nông nghiệp ngoại thành, các làng nghề trong nông thôn với hoạt động du lịch sinh thái để tạo nhiều việc làm xã hội, nâng giá trị gia tăng cho các ngành này và đồng thời bảo tồn, phát huy các nguồn lợi tự nhiên, giữ gìn bản sắc văn hóa và môi trường sinh thái Thủ đô. Quy hoạch và quản lý chặt chẽ theo quy hoạch nhằm hạn chế việc chuyển đổi đất đai nông nghiệp sang các mục đích khác. Xử lý tốt vấn đề tích tụ ruộng đất và thu hồi đất trong nông nghiệp theo nguyên tắc thị trường, đồng thời có cơ chế chính sách phù hợp hỗ trợ cho nông dân cải thiện cuộc sống, đào tạo và chuyển đổi sang các lĩnh vực ngành nghề - dịch vụ mới cần thiết trong cơ cấu đời sống hiện đại. CNH, HĐH và đô thị hóa Hà Nội chỉ thành công khi chuyển nông thôn và nông dân ngoại thành sang xã hội hiện đại và được thụ hưởng thành quả phát triển, chứ không phải gạt họ sang bên lề công cuộc phát triển. Xử lý hài hòa mối quan hệ giữa CNH, HĐH và phát triển nông nghiệp, nông thôn là cách thức tồn tại, đồng thời cũng là thách thức phát triển của Thăng Long - Hà Nội cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai.

 

(1) Tiêu Phong, Hai chủ nghĩa một trăm năm. Nxb Chính trị Quốc gia, H, 2004, tr.211.

(2) Hernando De Sôto, Bí ẩn của vốn, Nxb Chính trị Quốc gia, H, 2006.

(3)Thời báo Kinh tế Việt Nam, số 144, thứ hai ngày 2/12/2002, tr.18.

(*) Nguyễn Trung, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ.

 (4) Theo thống kê của IMF năm 2007: GDP/đầu người Việt Nam vào năm 1986 kém Trung Quốc 200 USD, Philippines 440 USD, Inđônesia 550 USD, Thái Lan 997 USD, Malaixia 1.950 USD, Hàn Quốc 6.940 USD; vào năm 2006 kém Philippines 420 USD, Inđônesia 750 USD, Trung Quốc 1.100 USD, Thái Lan 2.140 USD, Malaixia 4.520 USD, Hàn Quốc 17.000 USD. Theo TS. Vũ Thành Tự Anh (Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright – Harvard: Công nghiệp hóa như thế nào, 31/5/2010): Tính theo giá trị gia tăng hàng công nghiệp chế tạo MVA trên đầu người thì vào năm 2008, Việt Nam đạt khoảng 200 USD, Trung Quốc đạt được mức này năm 1995, Thái Lan năm 1986, Malaixia năm 1977, Hàn Quốc năm 1976. Nếu coi Thái Lan và Malaixia hiện nay là nước cơ bản hoàn thành CNH thì phải đến năm 2025 Việt Nam mới đạt mức tương đương MVA trên đầu người của Thái Lan 1.400 USD, đến năm 2030 mới đạt mức tương đương của Malaixia 1.800 USD hiện nay. GS.TS Trần Văn Thọ (Đại học Waseda - Tôkyo: Con đường rút ngắn khoảng cách phát triển,14/10/210): So sánh Việt Nam với Thái Lan là 2 nước có một số tương đồng (dân số không khác nhau nhiều, cấu tạo tài nguyên gần giống nhau, vào thập niên 1950 hầu như có cùng trình độ phát triển). Vào năm 2004, GNI đầu người của Việt nam 550 USD, Thái Lan 2.540 USD, Trung Quốc 1.290 USD; chính xác hơn tính GNI theo PPP thì vào năm 2004 Việt Nam đạt 2.700 USD, Trung Quốc xấp xỉ gấp 2 lần và Thái Lan gấp 3 lần (8.020 USD). Tỷ trọng công nghiệp trong GDP Việt Nam năm 1993 là 15%, tương đương Thái Lan năm 1970. Tỷ lệ hàng công nghiệp trong giá trị xuất khẩu năm 2005 Việt Nam đạt 60%, tương đương với Thái Lan giữa thập niên 1980. Kết hợp các chỉ tiêu công nghiệp hóa thì vào đầu thế kỷ 21 Việt Nam chậm hơn Thái Lan 20 năm.

(5) Dự thảo Báo cáo Chiến lược phát triển KT-XH Hà Nội tới năm 2020 tầm nhìn 2030. HN, 2009.

(6) Trong giai đoạn trước suy giảm và khủng hoảng 1991-2008, kinh tế Thủ đô liên tục đạt mức tăng trưởng cao, hầu hết các chỉ tiêu đều đạt và vượt so với kế hoạch đề ra, bình quân GDP tăng từ 9,7-11,4%/năm. Giai đoạn 2006-2010 dự kíến đạt 10,2%/năm; trong đó, năm 2006 tăng 11,55%, năm 2007 tăng 12,08%, năm 2008 tăng 10,6%, năm 2009 ảnh hưởng suy giảm vẫn đạt 6,7%, năm 2010 dự kiến tăng 9-10%, được điều chỉnh trên 10% (theo số liệu thống kê).

(7) Theo tính toán của GS. Kenichi cho trường hợp Việt Nam và Hà Nội: Tăng trưởng dựa vào yếu tố tăng vốn (chiếm 57,5%) và tăng lao động (20%), đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp TPF (hiệu quả đầu tư và năng suất lao động) rất thấp - 22,5%. Cũng theo Báo cáo “Xu hướng lao động và xã hội Việt Nam năm 2009/2010”, Bộ Lao động Thương binh - Xã hội: năng suất lao động của chúng ta chỉ bằng 1/5 NS trung bình của ASEAN và 1/10 NS của Singapore.

(8) Trong 5 năm lại đây, tăng trưởng bình quân khu vực ngoại thành đạt 9,8%/năm (so với nội thành 12,2%/năm); cơ cấu tỷ trọng GDP giữa ngoại/nội thành từ 39,2/60,8 giảm xuống 30,1/69,9; trong khi khu vực ngoại thành chiếm 91% diện tích và 50% dân số, nhưng chỉ tạo ra 30% GDP, tiếp nhận 25-30% vốn đầu tư ngân sách tập trung.

(9) Sau 8 năm thực hiện Nghị quyết 20/NQ của Thành ủy và HĐND Thành phố ngày 13/7/2000 về công tác giải phóng mặt bằng (GPMB), thành phố đã bàn giao khoảng 2.000 dự án trong tổng số gần 3.000 dự án phải GPMB với gần 10.000 ha đất, liên quan tới hàng vạn hộ dân. Bình quân mỗi năm đã GPMB khoảng 300 dự án với trên 1.000 ha. Đối với Hà Nội mở rộng, tính đến 31/8/2008, trên địa bàn hiện có hơn 800 dự án đầu tư yêu cầu GPMB với quy mô hơn 12.833 ha đất phải thu hồi, liên quan đến gần 120.000 tổ chức, hộ gia đình và cá nhân; trong đó dự kiến phải bố trí tái định cư và giải quyết việc làm cho khoảng 18.000 hộ (Số liệu của Ban chỉ đạo GPMB Thành phố, HN, 2009). Đồ án Quy hoạch Thủ đô mới (hiện đang chờ phê duyệt) đề xuất quỹ đất cho đô thị tăng từ 920 km2 (lần đầu) lên 1.200 km2 (lần điều chỉnh). Như vậy, dự kiến trong vòng 20 năm (2010-2030), đất cho đô thị tăng 7 lần so với hiện trạng là 180,5 km2. Nếu thực hiện theo Đồ án Quy hoạch này thì tới năm 2030 sẽ phải thu hồi 102.000 ha đất, chủ yếu là đất nông nghiệp; và bố trí việc làm, đời sống cho hàng triệu nông dân ngoại thành.

(10)  Đó là biểu hiện suy giảm đa dạng sinh học và báo động về ô nhiễm môi trường, nguồn nước nói chung và suy kiệt nước ngầm trên địa bàn. Tổng lượng nước thải của Hà Nội (chưa mở rộng) khoảng 500.000 m3/ngày đêm, trong đó 90% là nước xả thẳng chưa qua xử lý. Trong 1.300 làng nghề, các cơ sở chế biến nông hải sản, chăn nuôi gia súc, gia cầm, các khu dân cư, bệnh viện... hầu như chất thải không được thu gom xử lý. Trong 38 khu đô thị mới trên địa bàn mới có 1 khu có hệ thống xử lý nước thải. Các khu công nghiệp cũng rơi vào tình trạng tương tự, chỉ có khu công nghiệp Bắc Thăng Long và khu công nghiệp Ngọc Hồi xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, còn lại đang chờ đầu tư xây dựng. Hà Nội còn tồn tại khoảng 200 cơ sở sản xuất cũ quy mô nhỏ nằm xen kẽ, phân tán trong các khu dân cư; các cơ sở này đều sử dụng công nghệ lạc hậu, chưa có thiết bị xử lý khí thải, nước thải. Không khí ở Hà Nội với nồng độ bụi đã vượt 1,5-2,5 lần mức độ cho phép; ô nhiễm bụi nặng nhất tại các điểm Đuôi Cá (cửa ngõ phía Nam), đường đê sông Hồng (đoạn từ Yên Sở đến dốc Minh Khai), khu vực chân cầu Thăng Long, đường Phạm Văn Đồng, Khuất Duy Tiến, ngã tư Đại Cồ Việt - Giải Phóng. Hà Nội có những con sông “chết” và hồ “chết” nổi tiếng: đây là các con sông bị nhiễm bẩn nặng như sông Tô Lịch, Kim Ngưu, sông Lừ, sông Sét… rồi sau đó thoát ra sông Hồng, sông Đáy, sông Nhuệ; các hồ bị ô nhiễm nặng như hồ Linh Quang, B.52, Văn Chương, Kim Liên, Ba Mẫu, Hồ Tây… (Số liệu tổng hợp Đề tài Trọng điểm TP “Hậu GPMB ở Hà Nội – thực trạng và giải pháp”, Hà Nội 2010).

(11) Số liệu của WB công bố năm 2005.

(12) Báo cáo khuyến nghị chiến lược cho Việt Nam của nhóm GS Đại học Harvard: “Sự lựa chọn thành công”, ngày 19/3/2008; GT.TS Trần Văn Thọ: Công nghiệp hóa của Việt Nam trong trào lưu khu vực hóa Đông Á, Đại học Waseda, Tokyo.

Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Góp ý Luật Đất đai sửa đổi: Các công chứng viên nói gì? (09/04/2013)
Sửa Hiến pháp và chính quyền đô thị (27/03/2013)
Hà Nội, TP. HCM: Được xử phạt vi phạm hành chính cao hơn - có khả thi? (10/11/2011)
Chuyển đổi mô hình tăng trưởng và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển của Hà Nội (26/10/2011)
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị ở thành phố Hà Nội (26/08/2011)
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã ở các tỉnh Tây Nguyên hiện nay (10/06/2011)
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị ở thành phố Hà Nội (26/08/2011)
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo trong hai dự thảo luật

Công khai thông tin với việc thực hiện phản biện xã hội

Thư của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gửi Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

CÔNG BỐ VÀ TRAO NGHỊ QUYẾT BỔ NHIỆM VIỆN TRƯỞNG VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt Nam

Khai mạc trọng thể Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Chất vấn và hậu chất vấn

Lựa chọn chính sách cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân