Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ năm, 25/05/2017, 15:47(GMT+7)
 
Ý kiến từ cơ sở

Chuyển đổi mô hình tăng trưởng và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển của Hà Nội

 

 

Hà Nội có chỉ số công nghiệp cao hơn cả nước 1,5-1,7 lần, vì thế khoảng cách về trình độ phát triển của Hà Nội so với các nước trong khu vực cũng ngắn hơn của cả nước, ước chừng từ 10-15 năm (trong khi cả nước khoảng 20-25 năm). Như vậy, trong khoảng thời gian từ nay tới trước 2020, để đạt trình độ hiện tại của một số nước công nghiệp hóa trong khu vực, thì Hà Nội cần nâng tốc độ tăng trưởng lên cao hơn nữa so với mức khoảng 10%/năm hiện nay.

 

Thách thức về phát triển và thu hẹp khoảng cách so với thế giới

Đại hội Đảng toàn Quốc lần thứ XI nhấn mạnh mục tiêu, nhiệm vụ tới năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), nền kinh tế nước ta lúc này bắt buộc phải tham gia vào sân chơi chung, vận hành theo các luật lệ thương mại và thị trường toàn cầu. Hơn bao giờ hết, công nghiệp hóa, hiện đại hóa lại nổi lên trở thành nhiệm vụ trung tâm và có tính quyết định trong giai đoạn mới. Vấn đề là ở chỗ làm sao tranh thủ được các cơ hội toàn cầu hóa, nhanh chóng đưa nước ta thoát khỏi tình trạng chậm phát triển, xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh, trở thành quốc gia công nghiệp trong thế kỷ XXI.

Thành công của tăng trưởng và công nghiệp hóa ở nước ta còn khiêm tốn. Kể từ khi đổi mới đến nay đã hơn ¼ thế kỷ, nếu tính cả thời gian đất nước chấm dứt chiến tranh hòa bình được xây dựng thì đã hơn 30 năm (vừa đủ thời gian cho một thế hệ các nước NICs trở thành những con hổ kinh tế), nhưng chúng ta mới chỉ tạm thoát ra khỏi ngưỡng nghèo và ở tốp dưới của các nước thu nhập trung bình (vượt mốc GDP 1000 USD/đầu người). Có ý kiến cho rằng chúng ta mới đi được một phần nhỏ của lộ trình công nghiệp hóa. Từ nay tới năm 2020 và 2030 chặng đường công nghiệp hóa chỉ còn 10 hay 20 năm nữa, nhưng là chặng đường đầy thử thách. Bởi, sẽ quyết định nước ta sau khi thoát khỏi ngưỡng quốc gia thu nhập thấp, có thể chuyển sang giai đoạn chuẩn bị các tiền đề cho “cất cánh”, gia nhập vào nhóm các nước công nghiệp hóa mới (như Thái Lan, Ma-lai-xi-a, Phi-lip-pin…); tiếp sau nữa, có thể vươn lên đẳng cấp các quốc gia phát triển (như Tây Âu, Nhật Bản hay Đông Á - Xin-ga-po, Hàn Quốc, Đài Loan…). Hoặc ngược lại, chúng ta sẽ nằm lại trong quỹ đạo “bẫy thu nhập trung bình” và “trần công nghệ cao”, giống như các nước Đông Nam Á và nhiều nước Mỹ La-tinh, châu Phi.

Xét theo các chỉ tiêu GDP/đầu người, tỷ trọng công nghiệp chế tạo và trình độ khoa học - công nghệ  thì chúng ta đang doãng rộng khoảng cách và đi chậm hơn, thậm chí so với một số nước trong khu vực từ 15-20 năm. Theo lo-gic thông thường, Hà Nội không thể hoàn thành nhiệm vụ công nghiệp hóa trong khoảng thời gian còn lại quá ngắn. Đặc biệt, khi Hà Nội vừa được điều chỉnh địa giới hành chính Thủ đô tăng lên 3,5 lần và dân số tăng gấp 2 lần, bằng việc sáp nhập thêm tỉnh Hà Tây, một phần tỉnh Vĩnh Phúc và Hòa Bình. Mức thu nhập bình quân GDP/đầu người phải tính toán lại, từ 2.300 USD giảm xuống chỉ còn khoảng 1.700 USD (năm 2008), hoặc từ 5.000 USD chỉ còn khoảng 3.000-3.500 USD (dự kiến vào năm 2015), còn 5100-5200 USD (năm 2020) và 11.000-12.000 USD (năm 2030). Mục tiêu Hà Nội phải hoàn thành công nghiệp hóa, hiện đại hóa về trước cả nước và sánh kịp các thủ đô trên thế giới lại càng là một thách thức lớn.

Hà Nội có chỉ số công nghiệp cao hơn cả nước 1,5-1,7 lần, vì thế khoảng cách về trình độ phát triển của Hà Nội so với các nước trong khu vực cũng ngắn hơn của cả nước, ước chừng từ 10-15 năm (trong khi cả nước khoảng 20-25 năm). Như vậy, trong khoảng thời gian từ nay tới trước 2020, để đạt trình độ hiện tại của một số nước công nghiệp hóa trong khu vực, thì Hà Nội cần nâng tốc độ tăng trưởng lên cao hơn nữa so với mức khoảng 10%/năm hiện nay. Thể hiện quyết tâm ấy, trên cơ sở thành tích tăng trưởng đạt được của năm 2010 là 11%, phiên họp Hội đồng nhân dân thành phố (ngày 7-12-2010) đã quyết định chỉ tiêu tăng trưởng GDP của năm 2011 là 12%. Tuy vậy, sẽ là thách thức lớn đối với một nền kinh tế “phát triển quá nóng”.

Chúng ta biết rằng, một nước nếu duy trì được tốc độ tăng trưởng 7-7,5%/năm liên tục trong vòng 10 năm sẽ bội tăng GDP theo công thức “nhân đôi”. Việt Nam trong thời kỳ 1994-2008 đã làm được điều này. Với quy mô tương đối nhỏ của nền kinh tế thủ đô Hà Nội, nếu duy trì được tốc độ khoảng 10%/năm trở lên trong vòng 6-7 năm cũng có thể nhân đôi GDP của mình. Nước Nhật đã làm được điều thần kỳ như vậy trong những năm 60-70 thế kỷ trước, khi thực hiện thành công kế hoạch “bội tăng tiền lương cho người lao động” và “bội tăng lợi tức quốc gia” của Thủ tướng Ikeda Hayato và nhà kinh tế học Nakayama Ichiro trong vòng 7 năm (so với ban đầu đề ra 10 năm).

Đối với chúng ta, vì trình độ phát triển thấp nên đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng là phương án được lựa chọn. Chúng ta cũng giả định sẽ thực hiện được kế hoạch đề ra, để vào năm 2020 Việt Nam và Hà Nội đạt GDP/đầu người 3.000-3.500 hay 5.000-5.500 USD, nhưng vẫn còn thấp hơn chỉ tiêu các nước tạm coi là “cơ bản” công nghiệp hóa với mức GDP/đầu người tối thiểu khoảng 5.000-8.000 USD. Như vậy, nếu chỉ dựa vào con đường đẩy nhanh tăng trưởng như đã qua (tăng tốc độ và quy mô GDP), thì việc phấn đấu để Hà Nội trở thành thành phố công nghiệp sẽ gặp những mối quan ngại: Thứ nhất, không thể thực hiện nhiệm vụ này vào những năm 2020; Thứ hai, nhiều cảnh báo chúng ta đã duy trì quá lâu mô hình tăng trưởng và công nghiệp hóa ưu tiên số lượng nhờ gia tăng các yếu tố đầu vào (thâm dụng vốn, lao động giá rẻ và tài nguyên thô), mô hình này đã hết dư địa và có nguy cơ gây khủng hoảng xã hội sâu sắc.

Hạn chế duy trì quá lâu mô hình tăng trưởng và công nghiệp hóa cũ

Mô hình tăng trưởng và công nghiệp hóa cũng có tính lịch sử, chỉ phù hợp với một giai đoạn phát triển nhất định. Việc duy trì quá lâu mô hình tăng trưởng và công nghiệp hóa chạy theo số lượng và quy mô ở nước ta ngày càng bị giới hạn như nhận định của nhiều chuyên gia. Đối với thủ đô Hà Nội thì điều này càng bộc lộ mâu thuẫn sâu sắc:

Thứ nhất, tuy nền kinh tế Thủ đô có tốc độ tăng trưởng khá cao trên 10%/năm trong thời gian tương đối dài (2006-2010), tỷ trọng giá trị xuất khẩu lớn so với GDP (trên 60%); nhưng thành tích này chủ yếu nhờ vào tăng các yếu tố đầu vào, hiệu quả không cao, mang về ít giá trị tăng thêm và năng suất lao động thấp. Thêm nữa, Hà Nội chưa chủ động phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ để thúc đẩy nội địa hóa sản xuất, dẫn tới cơ cấu công nghệ lạc hậu mang nặng tính chất gia công đơn thuần; chưa có nhiều sản phẩm và doanh nghiệp với thương hiệu mạnh, có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Đặc biệt, công nghiệp hóa nông nghiệp - nông thôn ngoại thành tiến hành quá chậm và có xu hướng tăng nhanh khoảng cách với khu vực đô thị; con đường đưa nông dân đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vấn đề giải phóng mặt bằng thu hồi đất đai nông nghiệp cho công nghiệp hóa, bố trí việc làm và đời sống cho người dân sau khi giải phóng mặt bằng chưa có lời giải tối ưu, xuất hiện các bức xúc và mâu thuẫn trong quá trình đô thị hóa “quá nhanh” hay “cưỡng bức” đe dọa gây bất ổn xã hội; phân bổ và sử dụng đất đai nông nghiệp đang trở thành vấn đề nổi cộm, nhiều diện tích đất nông nghiệp mầu mỡ, nhiều vùng có truyền thống thâm canh, nhiều loại cây con đặc sản quý, nhiều làng nghề truyền thống của Thăng Long - Hà Nội… đang đứng trước nguy cơ biến mất vĩnh viễn.

Thứ hai, mặc dù Thủ đô được coi là trung tâm giáo dục, đào tạo và khoa học - công nghệ của đất nước, nhưng thực tế tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chỉ chiếm 30-35%; nếu xét về mặt chất lượng đào tạo và nguồn nhân lực thì càng thấp so với yêu cầu công nghiệp hóa. Công tác đào tạo đang mâu thuẫn: tình trạng thừa thầy, thiếu thợ, đào tạo ra nhưng không bố trí được việc làm, trong khi lại thiếu nghiêm trọng lao động có tay nghề và chuyên môn sâu, tỷ lệ lao động phổ thông còn lớn; nhiều doanh nghiệp trên địa bàn không thể tuyển dụng được lao động, thậm chí thiếu cả lao động phổ thông. Dịch chuyển cơ cấu lao động chậm hơn tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế dẫn tới tình trạng dư thừa lao động và gây bức xúc về đời sống, việc làm. Công tác quy hoạch, quản lý đô thị, phát triển hạ tầng kỹ thuật và xã hội cũng có nhiều mặt yếu kém; tình trạng ùn tắc giao thông, úng ngập cục bộ, ô nhiễm môi trường, ô nhiễm làng nghề… đang là các vấn nạn thường trực. Một số công trình, dự án hạ tầng triển khai chậm, hiệu quả đầu tư không cao. Cả hai mặt quan trọng của Thủ đô là phát triển con người và xã hội - đô thị trong quá trình công nghiệp hóa đang có bất cập sâu sắc.  

Thứ ba, năng lực quản trị điều hành nền kinh tế thủ đô còn hạn chế, mang dáng dấp hành chính quan liêu chậm chạp, nhất là trong lĩnh vực điều hành sản xuất công nghiệp. Phân cấp quản lý còn chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền và doanh nghiệp để kịp thời tháo gỡ những vướng mắc khó khăn. Điều hành vĩ mô chưa nhạy bén kịp thời, đôi khi bị động. Chưa bảo đảm bình đẳng thật sự giữa các thành phần kinh tế, nhất là trong tiếp cận các nguồn lực đất đai, tín dụng (có vốn nước ngoài và vốn hỗ trợ phát triển ODA). Môi trường kinh doanh và chỉ số năng lực cạnh tranh của Thủ đô chậm được cải thiện. Không thể phủ nhận, có tư duy quản lý điều hành chạy theo số lượng, thành tích, đề cao tốc độ tăng trưởng, đánh đổi mục tiêu tăng trưởng với sự trả giá cao về xã hội, môi trường và phát triển bền vững...

Bảng 1: Các chỉ tiêu tăng trưởng của Hà Nội trong quá trình công nghiệp hóa

 

Đv tính

2000

2005

2008

2010

1. GDP (giá hiện hành)

Quy đổi USD

- GDP/người

- Năng suất lao động

2. GDP giá so sánh 1994

3. Vốn đầu tư

- Vốn đầu tư/GDP

4. Xuất Khẩu

- Xuất khẩu/GDP

- Nhập khẩu

- Chênh lệch xuất/nhập

- Chênh lệch xuất nhập khẩu /GDP

5. Thu ngân sách

Tỉ đ

Tỉ USD

USD

USD

Tỉ đ

Tỉ đ

%

triệu $

%

triệu $

triệu $

%

Tỉ đ

%

39.940

2,82

524

1.221

26.228

19.356

48,5

1.449

51,4

3.937

- 2.488

88,2

14.084

35,3

92.425

5,38

986

2.180

44.130

42.384

45,9

3.003

51,5

10.687

-7.684

131,8

32.390

35

178.535

10,77

1.696

3.594

61.619

99.013

55,5

6.936

64,4

23.544

-16.608

154,2

67.430

37,8

250.000

12,0

1.950

4.000

70.000

175.063

70

8.000

66,6

21.200

- 13.200

108

96.440

38,5

            Nguồn: Xử lý số liệu từ Niên giám thống kê Hà Nội và tính toán của tác giả

Kết quả là đang xuất hiện những mâu thuẫn và nguy cơ: nền kinh tế kém hiệu quả và kém sức cạnh tranh, nhất là cạnh tranh quốc tế; các nguồn lực cơ bản của Thủ đô chưa được khai thác phát huy tốt, trong đó có nguồn lực con người, khoa học - công nghệ và văn hóa, đất đai - tài nguyên…; các mặt chất lượng sống, xã hội, môi trường chậm được cải thiện, thậm chí có biểu hiện suy thoái, xuống cấp. Hà Nội sẽ không thể trở thành Thủ đô công nghiệp hóa hiện đại, văn minh nếu các mặt trên đây chưa được quan tâm giải quyết đồng bộ. Cho tới nay, Hà Nội vẫn là Thủ đô nghèo so với thủ đô các nước trong khu vực như Băng Cốc - Thái Lan, Cu-a-la Lăm-pơ - Ma-lai-xi-a, Ma-ni-la - Phi-lip-pin… Có thể thấy, hệ lụy tăng trưởng và công nghiệp hóa theo mô hình cũ ngày càng gây áp lực lớn lên các chỉ số vĩ mô như hiệu quả đầu tư, lạm phát, thâm hụt ngân sách và cán cân thương mại, nợ nước ngoài... đều đã tăng quá ngưỡng an toàn (Bảng 1,2). Trong khi đó, thế giới sau khủng hoảng, suy thoái các nền kinh tế sẽ tái cấu trúc và phát triển nhanh chóng, giống như châu Á sau khủng hoảng tài chính 1997.

Bảng 2: Giãn cách giàu nghèo của Việt Nam và Hà Nội

 

2002

2008

2009

Giãn cách giàu nghèo HN

8,1

8,9

8,9

            Nguồn: Tổng cục Thống kê. Kết quả điều tra mức sống hộ gia đình VN. 2008, 2009

Chuyển đổi mô hình trưởng trưởng và công nghiệp hóa nhằm phát triển rút ngắn và bền vững

Sự cần thiết chuyển đổi mô hình tăng trưởng và công nghiệp hóa của Hà Nội trong thời kỳ tới là tất yếu. Điều này không chỉ do xu thế quốc tế tái cấu trúc thời hậu khủng hoảng, suy thoái, mà còn do chính các mâu thuẫn và giới hạn nội tại nền kinh tế của chúng ta bắt buộc. Tuy nhiên, điều nhấn mạnh ở đây là, việc chuyển đổi sang mô hình mới dựa trên ưu tiên chất lượng, hiệu quả và phát triển bền vững chính là giải pháp hữu hiệu nhằm thực hiện phát triển rút ngắn, khắc phục khoảng cách tụt hậu. Lâu nay ta hay tư duy lấy số lượng để tạo ra chất lượng và thay thế cho yếu kém về chất lượng; nhưng đã tới lúc không thể chậm chễ hơn nữa, phải tư duy lại theo hướng lấy chất lượng tạo ra cú hích cho số lượng, thay thế cho sự thiếu hụt về số lượng quá lớn hiện nay.

Với thủ đô Hà Nội, có thể tóm tắt mô hình tăng trưởng và công nghiệp hóa nhằm phát triển rút ngắn là: Ưu tiên chất lượng và hiệu quả, nâng cao năng lực cạnh tranh, vị thế trong phân công quốc tế và chuỗi giá trị toàn cầu của cả nền kinh tế, của doanh nghiệp và sản phẩm hàng hóa thủ đô; gắn yêu cầu tăng trưởng với giải quyết hài hòa các mặt chất lượng sống, văn hóa, môi trường và phát triển bền vững, bảo đảm dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội; khai thác lợi thế so sánh động, phát huy tổng hợp các nguồn lực của thủ đô (trước tiên là con người, khoa học - công nghệ, văn hóa…) cho phát triển; phấn đấu để Hà Nội trở thành một đô thị văn minh, hiện đại, thành phố du lịch hấp dẫn của khu vực, trung tâm tổ chức hội nghị khu vực và quốc tế; từng bước phát triển kinh tế tri thức và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đột phá vào những hướng trọng yếu của thời đại (như một số công nghệ kỹ thuật cao, vật liệu mới, công nghệ sinh học, công nghệ biến đổi gien), để tạo nên sự nhảy vọt về lực lượng sản xuất, sức cạnh tranh, hàm lượng R&D, giá trị tăng thêm trong hàng hóa - dịch vụ thủ đô; tạo lập thể chế và cơ chế kinh tế thích hợp của giai đoạn mới - thể chế thị trường hiện đại và cơ chế kinh tế chất lượng cao cho vận hành nền kinh tế thủ đô.

Phát triển rút ngắn và bền vững đang là xu hướng của thế giới ngày nay. Chỉ tiêu tăng trưởng về số lượng hay GDP/đầu người không phải là tất cả. Hà Nội không cần phải cố gắng bằng mọi giá để nâng cao tốc độ tăng trưởng và tăng GDP, mà có thể duy trì tốc độ tăng trưởng bằng hay thậm chí thấp hơn hiện nay, nhưng nếu bảo đảm phát triển trong sự phân phối công bằng và đồng đều hơn về các nguồn lực và phúc lợi, đồng thời kết hợp với giải quyết tốt hơn các vấn đề an sinh xã hội và môi trường, thì Hà Nội vẫn có thể đạt được trình độ của Thái Lan, Ma-lai-xi-a cho dù mức GDP/đầu người thấp hơn họ. Đây chính là bảo đảm mặt chất lượng phát triển và chất lượng sống để rút ngắn con đường công nghiệp hóa cho Hà Nội.

Nếu xét các chỉ tiêu về tăng trưởng và GDP/đầu người thì Việt Nam và Hà Nội còn cách xa Ma-lai-xi-a, Thái Lan, Trung Quốc, nhưng xét về các chỉ số HDI, tỷ lệ người biết chữ, trẻ em đến trường, được chăm sóc y tế... thì ta không thua kém nhiều - đây là ưu điểm mạnh cần được phát huy. Một ví dụ khác, vào năm 2004, Mê-hi-cô (thành viên OECD) có GDP/đầu người 7.298 USD và chỉ số HDI 0,821; Bra-xin tương ứng 4.320 USD và 0,807; Ma-lai-xi-a 5.042 USD và 0,805; Thổ Nhĩ Kỳ (ứng cử viên ra nhập EU) 5.062 USD và 0,757; Nam Phi 5.106 USD và 0,653; Thái Lan 2.659 USD và 0,784; Trung Quốc 1.709 USD và 0,768; Phi-lip-pin 1.168 USD và 0,763. Như vậy, các nước NICs thế hệ thứ 2,3... có GDP/đầu người thấp hơn các nước công nghiệp phát triển hàng chục lần vài chục lần, ngoài ra chỉ số HDI cũng thấp hơn so với mức trên 90% chỉ số trung bình của các nước OECD và EU. Ngay trong các nước NICs cũng phân hóa thành mấy nhóm: nhóm các nước có chỉ số HDI và GDP/người cao, nhóm các nước có chỉ số trung bình và tương đối thấp, lại có nhóm nước mà chỉ số GDP/người chênh lệch với chỉ số HDI... Dĩ nhiên, để đạt đẳng cấp phát triển cao thì mức GDP/đầu người và chỉ số HDI đều phải cao; nhưng với một số nước NICs – có thể coi như “cơ bản công nghiệp hóa”, thì các chỉ tiêu GDP/đầu người và chỉ số HDI tương đối thấp, không cố định ở mức GDP 3.000-4.000 hay 6.000-7.000 USD/người.

Như thế, Việt Nam và Hà Nội không nên tự buộc mình vào một chỉ tiêu GDP/đầu người hoặc tốc độ tăng trưởng. Giai đoạn tới, cần coi trọng và tập trung hơn cho các chỉ tiêu về chất lượng. Nếu chất lượng sống, phát triển con người và công bằng xã hội được cải thiện, thì chúng ta vẫn không thua kém so với các nước có mức GDP/người tương đương hay cao hơn (như Trung Quốc, Thái Lan, Ma-lai-xi-a, Phi-lip-pin). Các nước khác cho dù GDP/người cao hơn, nhưng phân phối của cải thiếu bình đẳng, phúc lợi và cuộc sống người dân không được bảo đảm, thì rõ ràng thu nhập GDP/đầu người thực tế cũng bị cắt xén, suy giảm đáng kể, thậm chí không bằng so với nước có mức GDP/đầu người thấp hơn.

                          Bảng 3: Biểu đồ ICOR Hà Nội và Việt Nam

  

 

Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám Thống kê Hà Nội 2009

              

Từ khía cạnh khác, khi cơ cấu kinh tế và hiệu quả đầu tư được cải thiện, các nguồn lực được sử dụng tốt hơn, chúng ta sẽ khắc phục được chẳng những bệnh “thành tích” hay tăng trưởng “ảo” - đem cộng thêm vào GDP cả những khoản đầu tư bị thất thoát lãng phí nhưng không hề tạo ra sản phẩm, trong khi lại chưa trừ đi các chi phí mất mát về môi trường và văn hóa bị hủy hoại, xuống cấp. Ô nhiễm nguồn nước và ô nhiễm không khí làm Trung Quốc thiệt hại 5,8% GDP, tương đương 100 tỉ USD, bằng 1/2 tốc độ tăng GDP năm 2006 là 11,5% (theo WB). Mặt khác, một trong những nguồn lực cơ bản của thủ đô là đất đai ước nhiều tỉ USD còn để thất thoát, tham nhũng; nguồn vốn cho tích lũy đầu tư của Hà Nội cũng rất lớn, thường chiếm tới 50-60% GDP, thậm chí tới 70% GDP trên địa bàn (năm 2010), nhưng đáng tiếc chưa được sử dụng hiệu quả. Nếu các nguồn lực này được sử dụng tốt, giả thiết phấn đấu hạ hệ số ICOR từ 6 xuống 5, cũng đã nâng mức tăng trưởng nền kinh tế thủ đô lên 13-14%/năm, thay vì 10-11%/năm như hiện nay mà vẫn không bắt buộc tỷ lệ đầu tư quá cao gây mất cân đối ngân sách hoặc thu hẹp các khoản chi cho phúc lợi xã hội. Có chuyên gia tính toán, năm 2007 nếu Việt Nam hạ được chỉ số ICOR từ 5,3 xuống 4,5 thì với tỷ lệ đầu tư 45,3% GDP đã có thể đạt tốc độ tăng trưởng 10%/năm (Bảng 2). Hơn nữa, thay đổi chất lượng tăng trưởng còn hàm nghĩa thay đổi kết cấu kinh tế chuyển sang những ngành dịch vụ, chế biến sâu và chế tạo có hàm lượng công nghệ cao và nhiều giá trị gia tăng. Đây mới là hướng chính để nâng sức cạnh tranh và chuyển nước ta cũng như thủ đô Hà Nội thành quốc gia phát triển với thu nhập cao.

***

Tóm lại, khi các khía cạnh xã hội, môi trường và chất lượng sống, chất lượng nguồn nhân lực, hiệu quả kinh tế được chú trọng cải thiện, có nghĩa rằng, tương lai đang hứa hẹn một “tiềm năng tăng trưởng mới”, tức sự tăng trưởng dài hạn và bền vững cho quốc gia. Ngược lại, nếu chất lượng không được cải thiện, sự tăng trưởng hôm nay sẽ trở thành “ẩn họa” và đe dọa “nuốt mất” sự phát triển trong tương lai. Nói cách khác, phát triển bền vững là cách thức và con đường duy nhất trong điều kiện ngày nay để Việt Nam và Hà Nội đạt được mục tiêu chiến lược: trở thành nước công nghiệp hóa và vươn lên đẳng cấp cao trong phát triển như các nước Đông Á, tránh được “Bẫy thu nhập trung bình” và "Bẫy thương mại tự do" mà một số nước Đông Nam Á đang mắc phải. Thủ đô Hà Nội đang có lợi thế của người đi sau, mà lợi thế trước tiên là có thể tham khảo từ bài học kinh nghiệm thành công/thất bại của các nước Đông Á so với các nước Đông Nam Á về giải quyết bài toán phát triển bền vững ngay trong mỗi bước đi của quá trình tăng trưởng và công nghiệp hóa./.

Nguồn: Tạp chí Cộng sản

 

 

TS. Hoàng Xuân Nghĩa - Viện Nghiên cứu phát triển Kinh tế - xã hội Hà Nội
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo trong hai dự thảo luật

Công khai thông tin với việc thực hiện phản biện xã hội

Thư của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gửi Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

CÔNG BỐ VÀ TRAO NGHỊ QUYẾT BỔ NHIỆM VIỆN TRƯỞNG VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt Nam

Khai mạc trọng thể Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Lựa chọn chính sách cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay

Chất vấn và hậu chất vấn

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân