Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ tư, 26/07/2017, 17:44(GMT+7)
 
Ý kiến từ cơ sở

Bảo tồn và gìn giữ văn hóa vùng đồng bào các dân tộc tỉnh Bình Phước trong hội nhập kinh tế
Bình Phước là tỉnh miền núi nằm ở phía tây vùng Đông Nam Bộ, nơi cư trú của 41 dân tộc anh em; trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 20%, đông nhất là dân tộc X'tiêng, Khmer, Tày, Nùng... Sau ngày tái lập tỉnh, công tác bảo tồn và gìn giữ văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số luôn luôn được tỉnh chú trọng thực hiện.

 

Từ nhận thức sâu sắc "Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội", Tỉnh ủy Bình Phước ra Nghị quyết số 07-NQ/TU chuyên đề về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và biên giới, trong đó nêu rõ: Tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế, nâng cao đời sống cho nhân dân là biện pháp quan trọng hàng đầu để bảo tồn gìn giữ truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc thiểu số, nhất là dân tộc bản địa.

Mặc dù còn một số khó khăn do ảnh hưởng từ cuộc suy thóai kinh tế toàn cầu, nhưng năm 2008, các mặt kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn duy trì mức phát triển khá vững chắc: GDP tăng 14%; giá trị sản xuất nông, lâm tăng 7%, công nghiệp, xây dựng tăng 22,4%, thu ngân sách tăng 16%; kim ngạch xuất khẩu tăng 13,1%; thu nhập bình quân đầu người 14,58 triệu đồng, tăng 21,8%; đặc biệt tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 6,1%. Tỉnh đã hỗ trợ 4.050 căn nhà cho bà con người đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn và 993.400 m2 đất ở; hỗ trợ 3.950 ha đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số thuộc diện 134. Tỉnh đã trích ngân sách 10,5 tỉ đồng trợ cước, trợ giá cho bà con đồng bào dân tộc thông qua những mặt hàng thiết yếu như: muối i-ốt, tập vở học sinh, phân bón, giống cây trồng.

Ngành văn hóa tiến hành nhiều đề tài nghiên cứu khoa học về văn hóa các dân tộc thiểu số. Tiêu biểu là các đề tài "Nhạc cụ trong đồng bào dân tộc ở Bình Phước", "Truyện kể dân gian X’tiêng", "Nghề dệt thổ cẩm trong đồng bào X’tiêng", "Tục cưới hỏi trong đồng bào X’tiêng"... Ngành văn hóa tỉnh phối hợp với các tỉnh trong khu vực Tây Nguyên tham gia nghiên cứu, sưu tầm, biên dịch và xuất bản "Sử thi Tây Nguyên"; các nhà sưu tầm đã tìm lại và hệ thống các làn điệu dân ca, ghi chép những bộ sử thi nổi tiếng, trong đó có hai bộ vô cùng đặc sắc: Sử thi Tâm Dất và bộ sử thi Purao; ghi âm được 130 băng cát-xét với dung lượng trên 150 sử thi của các dân tộc X’tiêng và Mnông; sưu tập được hơn 5.000 hiện vật văn hóa và lịch sử.

Tỉnh luôn quan tâm đến công tác đào tạo và tập huấn nghiệp vụ cho các cán bộ văn hóa cơ sở là người dân tộc thiểu số. Đến nay, toàn tỉnh đã có 54 cán bộ người dân tộc thiểu số đang làm việc tại các Ban Văn hóa thông tin cấp xã. Qua hoạt động thực tiễn, lực lượng này đã phát huy được vai trò của người cán bộ trong việc tuyên truyền, vận động các già làng chú ý giữ gìn các hiện vật văn hóa như cồng chiêng, các nhạc cụ dân tộc. Hiện nay tỉnh đã xây dựng và đưa vào sử dụng 203 nhà văn hóa cộng đồng. Tất cả các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong tỉnh đã được phủ sóng phát thanh, truyền hình.

Các hoạt động lễ hội của đồng bào các dân tộc được tỉnh Bình Phước quan tâm tổ chức thường xuyên. Hằng năm, ngành văn hóa tỉnh phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức các lễ hội cho đồng bào, tạo không khí lành mạnh, vui tươi, thiết thực và bổ ích. Tiêu biểu như các lễ hội: Mừng lúa mới của đồng bào X’tiêng (Lễ đâm trâu), Lễ Senđônta, Tết Chol Chnăm Thmây của đồng bào Khmer, Tết Ramwan của đồng bào Chăm. Các tập tục cưới hỏi, ma chay, thờ cúng... của đồng bào dân tộc thiểu số đã từng bước được thực hiện văn minh, đậm đà bản sắc dân tộc. Năm 2007, tỉnh tổ chức Liên hoan nghệ thuật quần chúng các dân tộc lần thứVI với sự tham gia của 9 đoàn nghệ thuật huyện, thị và Công ty Cao su Dầu Tiếng. Các ngành giáo dục, văn hóa và Ban Dân tộc tỉnh đã phối hợp soạn thảo tài liệu giảng dạy bằng tiếng X’tiêng gồm nhiều chủ đề thiết thực: về đất nước, về cách mạng, về gia đình, về nguồn cội văn hóa X’tiêng, về chăm sóc sức khỏe cộng đồng...

Công tác xây dựng hệ thống thiết chế và hoạt động văn hóa ở cơ sở là một trong những nhiệm vụ trọng tâm được tập trung thực hiện từ tỉnh đến cơ sở với phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm". Tỉnh đầu tư kinh phí 10,5 tỉ đồng để xây dựng các công trình văn hóa, thể thao. Toàn tỉnh có 96/104 xã có sân thể thao, 542/814 thôn, sóc, ấp, khu phố có nhà văn hóa, 165.489 gia đình được công nhận danh hiệu "Gia đình văn hóa", chiếm tỷ lệ: 91%, có 495/814 khu dân cư đạt danh hiệu "Khu dân cư tiên tiến và văn hóa", trong đó: đồng bào dân tộc chiếm tỷ lệ 60,80%.

Những kết quả đạt được đang là những tiền đề quan trọng để Bình Phước có điều kiện bảo tồn và gìn giữ văn hóa vùng đồng bào các dân tộc thiểu số trong tiến trình hội nhập vào nền văn hóa dân tộc Việt Nam và thế giới, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, giữ vững an ninh - quốc phòng và xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc trong tỉnh.

 

Từ thực tiễn công tác bảo tồn và gìn giữ bản sắc văn hóa các dân tộc trên địa bàn tỉnh những năm qua ở Bình Phước, bước đầu rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:

Một là, hằng năm cấp ủy, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở đã có chương trình thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII và Kết luận Hội nghị Trung ương 10 khóa IX về "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc"; triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 23 của Bộ Chính trị khóa X về "Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật trong tình hình mới", chương trình thực hiện Nghị quyết số 07 của Đảng bộ tỉnh và đưa cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa đi vào cuộc sống của đồng bào các dân tộc.

Hai là, Phát huy hiệu quả thiết thực của chương trình bảo tồn và gìn giữ bản sắc văn hóa các dân tộc trên địa bàn tỉnh Bình Phước trực tiếp góp phần xây dựng khối đại đoàn kết trong đồng bào các dân tộc tỉnh Bình Phước, củng cố mạnh mẽ cơ sở, niềm tin về ý thức cộng đồng, ý thức tự tôn dân tộc, tinh thần yêu nước, truyền thống cách mạng, một lòng một dạ đi theo Đảng, Bác Hồ kính yêu tạo động lực vững chắc để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của tỉnh.

Ba là, công tác bảo tồn và gìn giữ bản sắc văn hóa vùng đồng bào các dân tộc phải đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất của các cấp ủy, chính quyền các cấp và sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan ban ngành, đoàn thể địa phương nhằm tập trung phát triển kinh tế, nâng cao đời sống cho đồng bào dân tộc là biện pháp quan trọng hàng đầu để bảo tồn gìn giữ truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc thiểu số.

Bốn là, quan tâm tổ chức thực hiện và phát huy hiệu quả công tác nghiên cứu, sưu tầm về văn hóa các dân tộc thiểu số và tổ chức các hoạt động lễ hội truyền thống của đồng bào các dân tộc, qua đó giúp cho chính quyền và đồng bào các dân tộc hiểu sâu sắc, toàn diện hơn về đời sống văn hóa tinh thần. Việc duy trì và phát triển văn hóa cồng chiêng, các làn điệu múa dân gian, hát dân ca góp phần củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc trong tiến trình "xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc".

Năm là, từ thực tiễn quá trình đổi mới và hội nhập đã và đang diễn ra sôi động trên địa bàn tỉnh đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự giao thoa giữa các nền văn hóa, giúp cho văn hóa của mỗi dân tộc thiểu số vừa giữ được bản sắc riêng vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa của các dân tộc khác, của nhân loại, thông qua các hoạt động giao lưu văn hóa của các địa phương, của khu vực, của quốc gia và giao lưu văn hóa quốc tế.

Để tiếp tục làm tốt công tác bảo tồn và giữ gìn văn hóa vùng đồng bào dân tộc trong tỉnh Bình Phước, những nhiệm vụ tiếp theo được đặt ra là:

Thứ nhất, giải quyết hài hòa mối quan hệ tương tác giữa phát triển kinh tế với bảo tồn và phát triển văn hóa trong tỉnh. Vì phát triển kinh tế là nền tảng, mục tiêu trọng tâm, là cơ sở, điều kiện bảo đảm để văn hóa tồn tại và phát triển. Ngược lại, khi những giá trị văn hóa có điều kiện phát triển bền vững sẽ tạo sự đồng thuận trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc tạo tiền đề quan trọng để kinh tế phát triển nhanh và vững chắc.

Thứ hai, tiếp tục quan tâm đầu tư thỏa đáng cho công tác nghiên cứu khoa học, sưu tầm, xuất bản các bộ sử thi, các loại sách giáo khoa song ngữ, khôi phục lại nhà Rông, nhà Dài truyền thống vì đây là địa điểm sinh hoạt văn hóa có ý nghĩa tâm linh rất lớn của đồng bào, cho thanh niên các dân tộc thiểu số. Đồng thời cho phép khôi phục và tổ chức lại các lễ hội còn có ý nghĩa tâm linh và giáo dục đối với đời sống văn hóa cộng đồng, thường xuyên tổ chức các lễ hội giao lưu văn hóa như tuần lễ văn hóa, liên hoan văn hóa ở các địa phương và khu vực.

Thứ ba, quan tâm đầu tư thích đáng xây dựng các thiết chế văn hóa ở cơ sở, nhất là ở thôn, làng, khu dân cư tập trung. Đầu tư nâng cao hiệu quả của các đội tuyên truyền cổ động, quan tâm đầu tư xây dựng công viên văn hóa các dân tộc của tỉnh. Củng cố nâng cao chất lượng hoạt động của Hội Văn học nghệ thuật, Bảo tàng tỉnh, đẩy mạnh công tác sưu tầm, tái tạo, bảo tồn các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể thông qua các dự án cụ thể với quy trình chặt chẽ và đúng quy định của Luật Di sản văn hóa.

Thứ tư, tập trung giải quyết vấn đề đất đai, dân tộc, nhằm giải quyết tận gốc những vấn đề bất ổn về kinh tế - xã hội trong thời gian qua. Đồng thời, để gần dân, sát dân hơn, những người làm công tác văn hóa cần chủ động nắm bắt tâm tư, nguyện vọng hưởng thụ văn hóa chính đáng của đồng bào và làm tốt công tác tham mưu cho chính quyền về các vấn đề văn hóa - xã hội một cách kịp thời. Đối với công tác với từng buôn, cần phát huy vai trò của già làng, trưởng bản và các nghệ nhân trong công tác tuyên truyền, vận động giáo dục, thuyết phục bà con buôn làng noi theo trong công tác xóa đói, giảm nghèo, thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nhận thức đầy đủ về ý nghĩa và giá trị của công tác bảo tồn và giữ gìn văn hóa các dân tộc trong tỉnh trong điều kiện hội nhập kinh tế./.

 Nguồn: tapchicongsan.org.vn

Huỳnh Quang Tiên, Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Phước
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Góp ý Luật Đất đai sửa đổi: Các công chứng viên nói gì? (09/04/2013)
Sửa Hiến pháp và chính quyền đô thị (27/03/2013)
Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn của Hà Nội hiện nay (01/02/2012)
Hà Nội, TP. HCM: Được xử phạt vi phạm hành chính cao hơn - có khả thi? (10/11/2011)
Chuyển đổi mô hình tăng trưởng và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển của Hà Nội (26/10/2011)
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị ở thành phố Hà Nội (26/08/2011)
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã ở các tỉnh Tây Nguyên hiện nay (10/06/2011)
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị ở thành phố Hà Nội (26/08/2011)
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo trong hai dự thảo luật

Công khai thông tin với việc thực hiện phản biện xã hội

Thư của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gửi Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

CÔNG BỐ VÀ TRAO NGHỊ QUYẾT BỔ NHIỆM VIỆN TRƯỞNG VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt Nam

Khai mạc trọng thể Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV

Lựa chọn chính sách cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân