|
Xác định mô hình tổ chức và hoạt động của hội đồng nhân dân các cấp thành phố Đà Nẵng
|
||
|
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (Khóa X) về Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước khẳng định: “Cải cách hành chính là một khâu quan trọng trong sự nghiệp đổi mới”[1]. Nghị quyết cũng đã nêu ra 10 nhóm chủ trương và giải pháp lớn trong việc đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước. Một trong những nội dung của những giải pháp đó là: “…Tổ chức hợp lý chính quyền địa phương, phân biệt rõ giữa chính quyền nông thôn và chính quyền đô thị, theo đó: Một là, đối với chính quyền nông thôn: Không tổ chức Hội đồng nhân dân ở huyện. Hai là, đối với chính quyền đô thị: Cấp đô thị có Hội đồng nhân dân là thành phố trực thuộc Trung ương, thành phố thuộc tỉnh, thị xã. Không tổ chức Hội đồng nhân dân ở quận và ở phường”[2]. Nghị quyết cũng chỉ rõ việc tổ chức thực hiện: “…Sau khi có Nghị quyết sẽ tổ chức làm thí điểm, sau khi Quốc hội sửa Hiến pháp và các luật liên quan thì sẽ triển khai thực hiện đại trà”[3]. 1. Hai phương án về mô hình tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân trong chính quyền đô thị ở Đà Nẵng Pháp luật hiện hành quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân (HĐND), Uỷ ban nhân dân (UBND) giữa tỉnh, huyện, xã với thành phố, quận, phường gần như giống nhau, trong khi quản lý nhà nước giữa chính quyền đô thị và nông thôn có nhiều điểm khác nhau. Điều đó dẫn đến HĐND các đô thị tuy có đủ các cấp nhưng hiệu quả hoạt động chưa cao[4], bởi vì, đặc trưng của việc quản lý đô thị là phải đảm bảo tính thống nhất và liên thông trên địa bàn về quy hoạch đô thị, hạ tầng cơ sở như điện, đường, xử lý rác thải, bảo vệ môi trường và các vấn đề khác; sự chia cắt theo nhiều cấp chính quyền sẽ phá vỡ tính thống nhất và liên thông này, làm hiệu lực quản lý của các cấp mang tính chồng chéo, trùng lặp. HĐND các cấp hiện nay có hai chức năng chủ yếu là quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng về kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng tại địa phương và giám sát hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tuân theo pháp luật. Trong mô hình chính quyền đô thị, đối với HĐND, thành phố Đà Nẵng cũng đã đặt ra hai phương án: Phương án 1: Chỉ tổ chức HĐND ở cấp thành phố và cấp xã thuộc huyện Hòa Vang, bỏ HĐND các quận, huyện và HĐND phường. Trong mô hình này, HĐND chỉ được tổ chức ở cấp thành phố (HĐND thành phố) và cấp xã (HĐND các xã thuộc huyện Hòa Vang), không tồn tại HĐND các quận, HĐND huyện Hòa Vang và HĐND các phường thuộc quận. Phương án này có điểm mạnh là HĐND thành phố là cơ quan đại diện cao nhất cho nhân dân toàn thành phố, đã thông qua các Nghị quyết để quyết định những vấn đề quan trọng nhất ở địa phương. Do vậy, các cơ quan hành chính các cấp chỉ cần căn cứ vào đó để tổ chức chỉ đạo thực hiện. Thực hiện phương án này, bộ máy quản lý đô thị sẽ trở nên gọn nhẹ, giải quyết các vấn đề của địa phương sẽ tập trung, đồng bộ hơn; tính thống nhất cao hơn. Tiết kiệm được một khoản đáng kể kinh phí duy trì bộ máy HĐND quận, huyện, phường hoạt động (giảm 1408 người). Trách nhiệm cơ quan hành chính của quận, huyện, phường rõ ràng hơn. Khi đó, hệ thống các cơ quan hành chính từ thành phố đến quận, huyện, phường phải là các cơ quan thực sự hành động, chủ động và năng động trong tổ chức thực hiện các Nghị quyết của HĐND thành phố. Về lâu dài, đối với các xã ngoại thành, có cấp chính quyền đầy đủ ở cơ sở (có HĐND và UBND) sẽ giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh mang tính đặc thù của làng, xã theo đơn vị hành chính tự nhiên; việc ghi nhận các ý kiến phản ánh tâm tư, nguyện vọng của cử tri và của các tầng lớp nhân dân sẽ thuận lợi và kịp thời hơn. Tuy nhiên, điểm hạn chế của phương án này là nếu còn cấp chính quyền cơ sở đầy đủ ở các xã (HĐND, UBND các xã thuộc huyện Hòa Vang) đặt trong điều kiện thành phố Đà Nẵng có tốc độ đô thị hoá rất nhanh theo quy hoạch hiện nay sẽ có nhiều bất cập, thậm chí xung đột giữa cách thức quản lý đô thị và quản lý nông thôn trên địa bàn thành phố. Việc còn HĐND xã sẽ hạn chế phần nào tính đồng bộ, tập trung, thống nhất trong công tác quản lý đô thị; việc chỉ đạo điều hành của thành phố từ trên xuống sẽ bị cắt khúc, không xuyên suốt. HĐND xã được quyết định các vấn đề cụ thể tại địa phương theo thẩm quyền, do đó, khi HĐND xã làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân thì việc giải tán HĐND đó sẽ gặp những trở ngại nhất định (trước đây thuộc thẩm quyền của HĐND huyện). Phương án 2: Chỉ tổ chức HĐND ở cấp thành phố, bỏ HĐND ở tất cả các quận, huyện và phường, xã. Trong mô hình này, HĐND chỉ được tổ chức ở cấp thành phố (HĐND thành phố), bỏ HĐND các quận, HĐND huyện Hòa Vang, HĐND các phường thuộc các quận và HĐND các xã thuộc huyện Hòa Vang. Điểm mạnh của phương án này là ngoài các điểm mạnh như trong Phương án 1, việc thực hiện phương án bỏ HĐND quận, huyện, phường, xã trong mô hình chính quyền đô thị của thành phố Đà Nẵng có thêm hai yếu tố thuận lợi sau: Phù hợp với đặc điểm tình hình của thành phố Đà Nẵng (đô thị hóa nhanh, các xã dần chuyển thành phường theo định hướng quy hoạch phát triển của thành phố) ; tiết kiệm được một khoản đáng kể kinh phí duy trì bộ máy HĐND quận, huyện, phường, xã hoạt động (giảm 1716 người). Tuy nhiên nó có điểm hạn chế là việc tổ chức triển khai và giám sát việc thực hiện các Nghị quyết HĐND thành phố khi toàn bộ các cấp HĐND từ quận, huyện đến tận cơ sở phường, xã không còn nữa và trong điều kiện số lượng đại biểu HĐND thành phố ít, đa số lại hoạt động kiêm nhiệm sẽ có những trở ngại rất lớn. Vấn đề đại diện cho ý chí, nguyện vọng của cử tri, phát huy dân chủ ở cơ sở (phường, xã) sẽ gặp những vướng mắc, khó khăn nhất định (việc tiếp nhận ý kiến, kiến nghị, phản ánh, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân ở cơ sở). Mỗi phương án điều có những điểm mạnh và điểm hạn chế. M ăn cứ vào thực tế đặc điểm tình hình, điều kiện của thành phố Đà Nẵng thì “Đà Nẵng chỉ giữ lại HĐND cấp thành phố là bước tinh giản hợp lý (Phương án 2)”[5]. Bởi vì, tuy Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương (khóa X) của Đảng chỉ đề cập đến việc thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị với phương án bỏ HĐND các quận, huyện và phường, giữ lại HĐND thành phố và xã. Nhưng với đặc điểm tình hình và điều kiện thực tế của thành phố Đà Nẵng thì việc bỏ tất cả HĐND từ cấp quận, huyện đến phường, xã mà chỉ giữ lại HĐND thành phố, được xem là phương án tối ưu phù hợp với tình hình, đặc điểm của thành phố Đà Nẵng với những lý do sau: - Đối với thành phố Đà Nẵng chỉ có 11 xã nông thôn, chiếm không đến 20% trong tổng số các phường /xã của thành phố Đà Nẵng (11/56 phường, xã) và nhiều xã thuộc huyện Hòa Vang hiện nay mang tính chất đô thị rất rõ nét. Cấu trúc địa lý, cơ sở hạ tầng, hệ thống giao thông, thông tin liên lạc của thành phố Đà Nẵng từ thành phố đến nông thôn tương đối hoàn chỉnh nên việc chỉ đạo điều hành từ thành phố đến tận cơ sở phường, xã có nhiều thuận lợi. Trong điều kiện đô thị hoá nhanh như hiện nay, trong tương lai gần, cộng đồng dân cư theo tự nhiên (làng, xã) sẽ có nhiều biến động theo quy hoạch của thành phố (chuyển thành các phường). - Thực hiện Phương án 2, bộ máy quản lý đô thị sẽ gọn nhẹ hơn, góp phần giải quyết các vấn đề của thành phố tập trung, thống nhất, đồng bộ và kịp thời hơn; tăng cường vai trò, trách nhiệm của cơ quan hành chính các cấp. Mặc khác, thực hiện phương án này sẽ giảm được số lượng lớn nhân sự đại biểu của quận, huyện, phường, xã (1716 người), đúng xu hướng tinh giản, gọn nhẹ bộ máy của Nhà nước hiện nay, tiết kiệm được một khoản chi phí lớn duy trì bộ máy HĐND từ cấp quận /huyện trở xuống[6]. Trong phương án này, việc tổ chức thực hiện hai chức năng cơ bản của HĐND sẽ thực hiện như sau: a. Chức năng quyết định HĐND thành phố thực hiện đầy đủ chức năng quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng an ninh theo đúng quy định tại Điều 1 Luật Tổ chức HĐND và UBND, đồng thời thực hiện các nhiệm vụ cụ thể trong các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, xã hội, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, khoa học công nghệ, tài nguyên và môi trường, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội và trong lĩnh vực thi hành pháp luật được quy định từ các Điều 11 đến 18 của Luật trên. Khi bỏ HĐND các quận, huyện, phường, xã, trên cơ sở Nghị quyết được HĐND thành phố thông qua - nhất là các Nghị quyết về giao chỉ tiêu kinh tế - xã hội 06 tháng, năm cho các địa phương - UBND thành phố và UBND các quận, huyện, phường, xã sẽ cụ thể hóa thành các văn bản Quyết định, Chỉ thị chỉ đạo thực hiện của cấp mình (theo thẩm quyền của từng cấp). Như vậy, hệ thống các cơ quan hành chính (UBND các cấp) sẽ là các cấp cụ thể hóa Nghị quyết của HĐND thành phố một cách trực tiếp (đối với UBND thành phố) và gián tiếp (đối với UBND quận, huyện, phường, xã) theo đúng quy định về phân cấp quản lý và các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của UBND các cấp, đồng thời chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các Nghị quyết của HĐND thành phố. Tuy nhiên, khi thực hiện mô hình chính quyền đô thị bỏ HĐND các quận, huyện và phường, xã, thì cũng giống như trong Phương án 1, các nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật hiện hành quy định cho HĐND các cấp đó phải được chuyển tải phù hợp (điều chỉnh, bổ sung) vào nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND thành phố hoặc của các cơ quan hành chính các cấp tương đương, bảo đảm không làm gián đoạn việc triển khai các hoạt động tại địa phương. Như vậy, trong các Nghị quyết của HĐND thành phố, bên cạnh việc quyết định những vấn đề mang tính chất chung của thành phố, trong những trường hợp cần thiết, rất cần phải quyết định cả những vấn đề cụ thể phát sinh của từng địa phương quận, huyện và thậm chí là cả phường, xã, làm cơ sở cho các địa phương cụ thể hóa và tổ chức thực hiện Nghị quyết của HĐND thành phố thông qua UBND cấp mình. Giống như trong Phương án 1, đối với những vấn đề phát sinh ngoài thẩm quyền của UBND các cấp phải báo cáo xin ý kiến HĐND thành phố. b. Chức năng giám sát Theo quy định của pháp luật, giám sát của HĐND bao gồm: giám sát của HĐND tại kỳ họp; giám sát của Thường trực HĐND; giám sát của các Ban của HĐND và giám sát của đại biểu HĐND. Trong mô hình chính quyền đô thị, khi không còn HĐND quận, huyện và phường, xã (đương nhiên sẽ không còn Thường trực, các Ban và đại biểu HĐND cấp đó) thì việc thực hiện chức năng giám sát phải được nghiên cứu và đặt ra một cách nghiêm túc. Hoạt động giám sát việc thực hiện pháp luật nói chung và Nghị quyết của HĐND thành phố nói riêng ở các địa phương (quận, huyện, phường, xã) sẽ được thực hiện tập trung thông qua hoạt động của Thường trực HĐND, các Ban và đại biểu HĐND thành phố. Đặc biệt khi đó, vai trò chủ động tổ chức các hoạt động giám sát của Tổ đại biểu HĐND thành phố đơn vị quận, huyện và của từng đại biểu trong tổ đại biểu đó có ý nghĩa rất lớn[7]. c. Về mối quan hệ từ trên xuống Không có HĐND các cấp nữa nên mối quan hệ từ HĐND thành phố chủ yếu được thực hiện theo chiều ngang: Với UBND thành phố (trong việc cụ thể hóa và giám sát thực hiện Nghị quyết của HĐND thành phố), với Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội của thành phố (trong việc phối hợp tổ chức các hoạt động giám sát). Các cơ quan UBND, ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân thành phố có trách nhiệm tổng hợp tình hình chung trong hệ thống của mình và báo cáo tại kỳ họp HĐND thành phố. d. Các điều kiện để bảo đảm thực hiện phương án Cần tăng phù hợp số lượng đại biểu HĐND thành phố; tăng số lượng và chất lượng đại biểu hoạt động chuyên trách; tăng cường hoạt động của tổ đại biểu HĐND thành phố đơn vị quận, huyện; phân công đại biểu chuyên trách trực tiếp theo dõi các quận, huyện. Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ với tổ chức Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội trong hoạt động giám sát; thường xuyên thông báo cho nhau về kết quả giám sát. Bảo đảm các điều kiện hoạt động thiết thực cho đại biểu HĐND thành phố để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ đại biểu theo quy định. e. Về tổ chức, nhân sự Việc giải quyết các nhân sự đại biểu HĐND quận, huyện và phường khi thực hiện việc không tổ chức đối với các cơ quan này cần phải được đặt trong sự chỉ đạo định hướng chung về công tác tổ chức bộ máy của Nhà nước và phải coi đây là trách nhiệm của tất cả các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể, chứ không thể tách riêng và coi là trách nhiệm chính của HĐND các cấp. Đối với số đại biểu kiêm nhiệm gồm: Bí thư, Phó Bí thư quận /huyện ủy kiêm nhiệm chức danh Chủ tịch HĐND quận/huyện (07 người), Bí thư/Phó Bí thư Đảng ủy phường /xã kiêm nhiệm chức danh Chủ tịch HĐND phường /xã (56 người) và các đại biểu kiêm nhiệm các chức danh khác (1.583 người) thì nay không còn kiêm nhiệm nữa, trở lại vị trí công tác đang đảm nhiệm. Đối với số đại biểu chuyên trách: Có thêm 11 đại biểu là Phó Chủ tịch HĐND 11 xã, tổng cộng có 70 đại biểu chuyên trách (HĐND quận/huyện 14 người; HĐND phường /xã 56 người). Trong phương án này, chủ yếu giải quyết đối với số đại biểu hoạt động chuyên trách của HĐND quận/huyện và phường. Đối với HĐND quận/huyện: hiện nay chức danh Phó Chủ tịch, ủy viên thường trực của HĐND quận/huyện hoạt động chuyên trách, có 14 người (7 quận /huyện), có thể giải quyết theo phương án cho bầu bổ sung đại biểu HĐND thành phố và phân công làm đại biểu chuyên trách trực tiếp theo dõi các quận /huyện (vẫn thuộc sự quản lý của Thường trực HĐND thành phố, sinh hoạt tại cơ quan Thường trực HĐND thành phố chứ không biệt phái hẳn xuống các quận /huyện) hoặc bố trí công tác khác tương đương tại UBND, các tổ chức, cơ quan cùng cấp tại địa phương. Đối với HĐND phường: hiện nay chức danh Phó Chủ tịch HĐND phường hoạt động chuyên trách (có 45 người), có thể giải quyết bố trí công tác tương đương tại UBND, các tổ chức, cơ quan cùng cấp tại địa phương. Tổng cộng có 59 đại biểu HĐND các quận /huyện và phường hiện nay đang hoạt động chuyên trách. Việc giải quyết đối với các đại biểu đang hoạt động chuyên trách tại HĐND các quận /huyện và phường (công tác, chế độ chính sách) cần thực hiện theo phương án đề xuất trên đây, đồng thời bảo đảm theo đúng các quy định của Nhà nước (có vận dụng ưu đãi bảo đảm chế độ tiền lương và các chế độ khác của Nhà nước) và trên cơ sở tâm tư, nguyện vọng của các đại biểu. 2. Đề xuất những điều kiện cần có khi thực hiện chuyển đổi mô hình Một là, các cơ quan trung ương cần xây dựng cơ sở pháp lý để thực hiện mô hình chính quyền đô thị, cụ thể là việc điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung hệ thống các văn bản pháp lý về tổ chức và hoạt động của HĐND đối với các địa phương được lựa chọn làm thí điểm thực hiện mô hình đô thị. Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật về việc chuyển tải phù hợp những nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND quận, huyện, phường, xã theo quy định của pháp luật hiện nay cho HĐND thành phố hoặc UBND cùng cấp, bảo đảm không làm gián đoạn hoạt động ở cơ sở. Hai là, cần tăng phù hợp số lượng đại biểu của HĐND thành phố, đặc biệt là tăng số lượng và chất lượng của đại biểu hoạt động chuyên trách ít nhất lên 30% để bảo đảm cho việc tổ chức triển khai hoạt động của HĐND thành phố (trách nhiệm của trung ương đối với các địa phương được chọn làm thí điểm mô hình chính quyền đô thị)[8]. Nếu thực hiện theo Phương án 2 thì thành phố Đà Nẵng chỉ còn HĐND thành phố với 47 đại biểu, trong khi lại giảm toàn bộ 1716 đại biểu HĐND từ quận, huyện đến phường, xã. Với đặc thù như vậy, đòi hỏi số lượng đại biểu HĐND thành phố phải được tăng cường cả về số lượng và chất lượng. Số lượng đại biểu HĐND thành phố Đà Nẵng cần có tối đa là 65 người và được tính theo số dân cụ thể ở các quận, huyện. Theo đó, mỗi quận, huyện có ít nhất 05 đại biểu. Địa phương nào có từ trên 6 vạn dân (60.000) trở lên thì cứ mỗi 1, 5 vạn dân tăng thêm được bầu thêm 01 đại biểu HĐND. Đối với đại biểu HĐND chuyên trách của thành phố sẽ giải quyết theo hướng: Thường trực HĐND có 02 đại biểu chuyên trách (Phó Chủ tịch và ủy viên Thường trực). Lãnh đạo các Ban (Trưởng ban, phó Trưởng ban) phải hoạt động chuyên trách (hiện nay mỗi Ban chỉ có 01 đại biểu chuyên trách) và bổ sung 01 thành viên mỗi Ban hoạt động chuyên trách, tổng cộng 09 đại biểu. Mỗi quận, huyện có 01 đại biểu HĐND thành phố hoạt động chuyên trách (07 đại biểu). Đối với quận Hải Châu, Thanh Khê và huyện Hòa Vang có số dân trên một vạn người thì được bổ sung thêm 01 đại biểu chuyên trách, tổng cộng 10 đại biểu. Tổng cộng có 21 đại biểu HĐND thành phố hoạt động chuyên trách, tương ứng khoảng 32% trên tổng số đại biểu dự kiến (65 người). Ba là, xây dựng và ban hành Quy chế về việc thực hiện chức năng giám sát của HĐND thành phố, trong đó chú trọng trách nhiệm tổ chức giám sát của các tổ đại biểu HĐND[9], hoạt động giám sát của các đại biểu HĐND, nhất là đại biểu chuyên trách ở các quận, huyện (trách nhiệm của Thường trực HĐND thành phố). Bốn là, bảo đảm các điều kiện hoạt động cho đại biểu HĐND thành phố, nhất là các đại biểu chuyên trách. 3. Những kiến nghị cụ thể - Cho phép thành phố Đà Nẵng được thực hiện Phương án 2 nói trên (chỉ có HĐND thành phố, không có HĐND quận, huyện, phường, xã) cho phù hợp với đặc điểm tình hình và điều kiện thực tế của thành phố Đà Nẵng. - Cho phép tăng số lượng đại biểu HĐND thành phố lên tối đa 65 người theo cơ cấu đề nghị của thành phố (mỗi quận, huyện có ít nhất 05 đại biểu. Địa phương nào có từ trên 6 vạn dân trở lên thì cứ mỗi 1, 5 vạn dân tăng thêm được bầu thêm 01 đại biểu HĐND thành phố). Cho phép thành phố Đà Nẵng được tổ chức bầu bổ sung số đại biểu HĐND thành phố còn thiếu (18 người) ngay sau khi các văn bản sửa đổi, bổ sung về tổ chức và hoạt động của HĐND được Quốc hội và các cơ quan trung ương ban hành có hiệu lực thi hành và sau khi Đề án của thành phố Đà Nẵng được trung ương phê duyệt. - Cho phép tăng số lượng đại biểu chuyên trách của HĐND thành phố theo hướng: a/ Tăng đại biểu chuyên trách lên 21 người theo cơ cấu: Thường trực HĐND: 02 người (Phó Chủ tịch và ủy viên Thường trực). Các Ban của HĐND: 09 người (Trưởng ban, Phó Trưởng ban và 01 ủy viên /mỗi Ban, tổng số 3 ban). Đại biểu chuyên trách theo dõi trực tiếp các quận, huyện: 10 người. b/ Cho phép dự kiến cơ cấu các đại biểu chuyên trách hiện nay của HĐND các quận, huyện là nguồn nhân sự bầu bổ sung đại biểu HĐND thành phố (14 người) và là nguồn dự kiến phân công làm đại biểu chuyên trách trực tiếp theo dõi các quận, huyện sau khi trúng cử. Trường hợp chưa tổ chức bầu cử bổ sung, đề nghị cho phép giải quyết số đại biểu chuyên trách hiện nay của HĐND các quận, huyện theo hướng cơ cấu vào sinh hoạt tại các tổ đại biểu HĐND thành phố đơn vị quận, huyện và được giữ nguyên chế độ lương và các chế độ khác như hiện nay. - Trong thời gian chờ Quốc hội sửa đổi Hiến pháp, các luật liên quan (Luật Tổ chức HĐND và UBND…) và ra Nghị quyết về việc thí điểm[10] chính quyền đô thị, thì cần cho phép HĐND các đô thị chủ động hoạt động với phạm vi rộng và sâu hơn trong thực hiện các chức năng quyết định và giám sát để từng bước hoàn thiện cơ chế hoạt động, vì đây là mô hình mới cần có các bước thử nghiệm khi không còn HĐND các cấp cơ sở[11].
* TS. Phó Trưởng khoa Chính trị học, Học viện Chính trị khu vực III Đà Nẵng. [1] Ban Tuyên giáo trung ương. Tài liệu nghiên cứu các Nghị quyết Hội nghị trung ương 5, Khóa X. Nxb CTQG. Hà Nội 2007, tr 127, 128.
|









