Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
Thứ năm, 08/01/2009, 03:26(GMT+7)
Vấn đề địa phương

Phát triển làng nghề ở Bắc Ninh theo hướng bền vững
Một trong những nội dung quan trọngcủa sự nghiệp phát triển công nghiệp nông thôn, đồng thời đóng vai trò quyết định trong việc xoá đói giảm nghèo ở nước ta nói chung và Bắc Ninh nói riêng là sự phát triển của các làng nghề.

 

Một trong những nội dung quan trọngcủa sự nghiệp phát triển công nghiệp nông thôn, đồng thời đóng vai trò quyết định trong việc xoá đói giảm nghèo ở nước ta nói chung và Bắc Ninh nói riêng là sự phát triển của các làng nghề. Bắc Ninh là tỉnh có nhiều làng nghề truyền thống, trong đó có những nghề nổi tiếng như đúc đồng, đồ gỗ gia dụng, đồ gỗ mỹ nghệ, làm giấy... Trong những năm qua, các làng nghề ở Bắc Ninh đã đóng góp cho xã hội một lượng hàng hoá khá phong phú, giải quyết việc làm và tăng thêm thu nhập cho bà con tại các làng quê.

Tuy ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của Bắc Ninh, nhưng trên thực tế việc phát triển các làng nghề ở Bắc Ninh vẫn còn nhiều bất cập. Từ việc nghiên cứu thực trạng phát triển làng nghề ở Bắc Ninh, nhất là những vấn đề đang đặt ra hiện nay về ô nhiễm môi trường; chúng tôi xin đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm phát triển làng nghề ở Bắc Ninh theo hướng bền vững.

1. Thực trạng phát triển làng nghề ở Bắc Ninh

Làng nghề ở Bắc Ninh có lịch sử tồn tại từ hàng trăm năm nay, được phân bố rộng khắp trên địa bàn tỉnh và hoạt động hầu hết ở các ngành kinh tế chủ yếu. Trong những năm qua, nhất là khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới thì hoạt động làng nghề ở Bắc Ninh đã có bước nhảy vọt lớn, sôi động chưa từng thấy. Đến nay, Bắc Ninh có 62 làng nghề chủ yếu trên các lĩnh vực như đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu, sản xuất giấy, gốm, sắt, thép tái chế, đúc đồng..., trong đó có 31 làng nghề truyền thống và 31 làng nghề mới, chiếm khoảng 10% tổng số làng nghề truyền thống của cả nước. Các làng nghề tập trung chủ yếu ở 3 huyện Từ Sơn, Yên Phong và Gia Bình (3 huyện này có 42 làng nghề, chiếm gần 68% của cả tỉnh). Nhiều làng nghề của Bắc Ninh như: gỗ Đồng Kỵ, gốm Phù Lãng, đúc đồng Đại Bái, tranh Đông Hồ... đã có từ lâu đời và nổi tiếng trong và ngoài nước.

Trong số 62 làng nghề ở Bắc Ninh, có thể phân thành 3 nhóm như sau: (i) Số làng nghề phát triển tốt: có 20 làng nghề, chiếm 32%; gồm các làng nghề sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ, sắt, thép, đồng, giấy, dệt... Những làng nghề này sản xuất các sản phẩm phù hợp với thị trường, luôn có sự đầu tư tăng cường năng lực sản xuất. (ii) Số làng nghề hoạt động cầm chừng không phát triển được: 26 làng nghề, chiếm 42%, bao gồm những làng nghề sản xuất, chế biến các sản phẩm từ nông nghiệp như chế biến từ gạo (mì, bún, bánh, nấu rượu...), nuôi trồng, chế biến tơ tằm, mộc dân dụng... (iii) Số làng nghề hoạt động kém, có nguy cơ mai một, mất nghề: 16 làng nghề, chiếm 26%. Đây là những làng nghề mà sản phẩm làm ra không còn thích hợp với thị trường, do sự cạnh tranh gay gắt của các sản phẩm công nghiệp như gốm, dụng cụ cầm tay, tranh dân gian, mây tre đan...

Năm 2005, giá trị sản xuất công nghiệp trong các làng nghề, khu, cụm công nghiệp làng nghề đạt 2.260, 65 tỷ đồng, chiếm 55,4% giá trị sản xuất công nghiệp ngoài nhà nước và gần 34% tổng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh; nộp ngân sách nhà nước 60, 2 tỷ đồng, chiếm 65% tổng số thu từ khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Hoạt động của các khu, cụm công nghiệp làng nghề ở Bắc Ninh bước đầu đã phát huy tác dụng, sản xuất kinh doanh phát triển, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động. Các làng nghề trong tỉnh đã góp phần giải quyết việc làm cho trên 72.000 lao động thường xuyên và trên 10.000 lao động thời vụ, có mức thu nhập ổn định từ 500.000 đồng đến 1 triệu đồng /tháng. Tại các làng nghề, số người giàu và khá ngày càng tăng, 100% số hộ đều có tivi, xe máy, mức thu nhập ở các làng nghề cao gấp từ 3 đến 4, 5 lần so với các làng thuần nông, đã góp phần giảm tỷ lệ đói nghèo trong toàn tỉnh xuống còn 5,5% hiện nay.

Làng nghề Bắc Ninh là nơi cung cấp nguồn hàng xuất khẩu quan trọng của tỉnh với kim ngạch từ 1.200 tỷ đến 1.500 tỷ đồng /năm. Trong đó, chỉ tính riêng hai làng nghề Đa Hội, Trịnh Xá ở xã Châu Khê (huyện Từ Sơn) chuyên tái chế sắt thép phế thải với sản lượng hàng năm trên 75.000 tấn, đạt giá trị sản xuất trên 500 tỷ đồng. Các làng nghề Đồng Kỵ, Phù Khê, Hương Mạc ở huyện Từ Sơn chuyên sản xuất các mặt hàng đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu, hàng năm mỗi làng sản xuất bình quân trên 1 triệu đơn vị sản phẩm các loại như bàn ghế, tủ, giường, tranh, tượng... đạt tổng giá trị trên 500 tỷ đồng. Làng nghề sản xuất giấy ở xã Phong Khê, huyện Yên Phong, có tới 150 dây chuyền sản xuất giấy, mỗi năm đạt giá trị sản lượng trên 400 tỷ đồng.

Tuy nhiên, làng nghề ở Bắc Ninh đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề như sản xuất còn chưa ổn định, khả năng tổ chức quản lý, thiết bị và nguồn lực tài chính, kiến thức thị trường, kỹ năng marketing, cơ sở hạ tầng và kỹ thuật công nghệ còn nhiều bất cập. Nhiều cơ sở kinh doanh còn thiếu vốn đầu tư cho sản xuất, máy móc, trang thiết bị thô sơ với công nghệ lạc hậu, nên chất lượng sản phẩm làm ra đạt thấp, không cạnh tranh được trên thị trường trong và ngoài nước. Các cơ sở sản xuất còn hạn chế về năng lực quản lí, trình độ kỹ thuật, thiếu mặt bằng sản xuất, đầu tư kỹ thuật chắp vá; bởi vậy các làng nghề trong tỉnh chưa khai thác được tiềm năng kinh tế của nghề truyền thống. Hầu hết, các làng nghề trong tỉnh chưa được quy hoạch, còn mang tính tự phát. Tuy số lượng cơ sở lớn, lực lượng lao động đông, nhưng qui mô của từng cơ sở quá nhỏ, vốn ít, công nghệ lạc hậu, sản xuất thủ công là chính, sản phẩm đơn giản, năng suất, chất lượng sản phẩm chưa cao dẫn đến sức cạnh tranh yếu; việc quảng bá, tiếp thị sản phẩm, xây dựng thương hiệu còn rất hạn chế… Về phía nhà nước, việc triển khai quy hoạch phát triển làng nghề chưa có giải pháp thiết thực để khuyến khích phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Việc xây dựng chiến lược tiêu thụ sản phẩm của làng nghề còn nhiều bất cập…

Chất lượng sản phẩm tại các làng nghề còn chưa đồng đều, mẫu mã sản phẩm không phù hợp với phong cách hiện đại… làm giảm tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, nhất là thị trường quốc tế. Phần lớn làng nghề truyền thống còn bị động về thị trường tiêu thụ sản phẩm, mẫu mã chậm cải tiến, khả năng cạnh tranh thấp, chưa vươn ra thị trường lớn ở châu Âu, châu Á. Hầu như, chưa có làng nghề nào đăng ký thương hiệu sản phẩm hoặc xuất xứ hàng hóa, thiếu đối tác mạnh để xuất khẩu trực tiếp. Việc đầu tư cơ sở hạ tầng các làng nghề còn chậm và dàn trải... Thêm vào đó lại thiếu khả năng tổ chức quản lý, thiết bị và nguồn lực tài chính, kiến thức thị trường, kỹ năng marketing, cơ sở hạ tầng và kỹ thuật công nghệ cộng với chất lượng sản phẩm tại các làng nghề còn chưa đồng đều, mẫu mã sản phẩm không phù hợp với phong cách hiện đại, một số mặt hàng do sản xuất theo yêu cầu của khách hàng đang mất dần tính văn hoá truyền thống; vệ sinh môi trường làng nghề chưa được quan tâm đúng mức đang là mối quan ngại lớn đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương.

Tình trạng ô nhiễm môi trường ở nhiều làng nghề rất đáng lo ngại, không những ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ của người dân mà còn làm giảm năng suất cây trồng, vật nuôi, nhất là ở các làng nghề sản xuất giấy tại địa phận các xã Phong Khê (Yên Phong), Phú Lâm (Tiên Du). Năm 2006 có đến 138 cơ sở bị phạt do ô nhiễm môi trường nhưng đến nay mới chỉ có 2 cơ sở nộp phạt. Nhưng điều đáng lo ngại hơn nữa là, do hệ thống cấp nước hầu như không có, người dân chủ yếu sử dụng giếng khoan, giếng tự đào, nên không đảm bảo các yêu cầu về vệ sinh. Chẳng hạn như, hầu hết các hệ thống nước thải của cả xã Phong Khê đều tập trung đổ ra sông Ngũ Huyện Khê, gây ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng. Cuộc sống của người dân nơi đây luôn phải chịu sức ép của khói bụi, tiếng ồn, ô nhiễm khí clo..., ảnh hưởng đến sức khoẻ. Theo kết quả xét nghiệm của Viện Khoa học và công nghệ môi trường thuộc Trường đại học Bách khoa Hà Nội, thì 100% mẫu nước thải ở các làng nghề đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép, nước mặt, nước ngầm đều có dấu hiệu ô nhiễm. Ô nhiễm không khí lại tập trung chủ yếu ở các làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ, nhựa, sơn mài... Vì vậy, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề hiện đang là vấn đề nan giải nhằm tạo sự cân bằng giữa mục tiêu phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.

Kết quả khảo sát của Sở Tài nguyên - Môi trường Bắc Ninh cho thấy, mỗi ngày các làng nghề của xã Châu Khê thải ra 40-50 tấn xỉ than, xỉ kim loại, 2.600-2.700 m3 nước, 255-260 tấn khí chủ yếu là CO2 và khoảng 6 tấn bụi. Môi trường đất chịu tác động của các chất độc hại từ các nguồn thải đổ bừa bãi và nước mưa bị nhiễm bẩn ngấm xuống. Dải đất canh tác phía sau các hộ sản xuất đều bị bỏ hoang do ô nhiễm. Hàng năm mỗi hộ sản xuất lấn ra xung quanh khoảng 20- 50 m2 bằng các loại chất thải rắn. Ước tính trong 5-7 năm tới, diện tích mặt nước và đất canh tác liền kề các hộ sản xuất sẽ bị san lấp hoàn toàn hoặc không sử dụng được. Môi trường không khí tại khu vực làng nghề cũng bị ô nhiễm nặng do bụi và khí thải, tiếng ồn, nhiệt độ cao từ các lò đúc, cán thép, máy cắt, dập đinh, dệt lưới, xưởng mạ và các hoạt động vận tải. Các hoạt động sản xuất của làng nghề đang làm ô nhiễm và thay đổi hoàn toàn môi trường sinh thái, cảnh quan khu vực. Vật tư, sản phẩm và các loại chất thải đổ xung quanh nơi sản xuất và cả trên đường giao thông. Nhà ở và xưởng sản xuất xen nhau, bụi, mức ồn cao và liên tục đã tạo nên một khung cảnh hỗn độn và ô nhiễm. Trong làng hầu như không còn cây bóng mát, ở một số ao nuôi cá đã có hiện tượng cá chết hàng loạt sau khi bơm nước từ sông Ngũ Huyện Khê vào.

2. Một số phương hướng và giải pháp phát triển làng nghề theo hướng bền vững

2.1. Phương hướng

- Phát triển làng nghề ở Bắc Ninh phải đặt trong tổng thể quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và phát triển công nghiệp của tỉnh. Đồng thời, cần có chính sách đầu tư liên kết hợp tác giữa các làng nghề với nhau, liên kết giữa làng nghề với cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và với các doanh nghiệp công nghiệp lớn để hợp tác gia công và tiêu thụ sản phẩm.

- Phát triển làng nghề trong những năm tới cần phải tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng GDP của công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - dịch vụ; góp phần tăng thu nhập ở khu vực nông thôn, hạn chế khoảng cách thu nhập giữa thành thị và nông thôn, tăng kim ngạch xuất khẩu từ tiểu thủ công nghiệp, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tại chỗ.

- Phát triển làng nghề cần theo hướng chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp và từng bước đi lên công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, trong mối quan hệ hữu cơ không thể tách rời giữa công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và nông, ngư, lâm nghiệp.

- Phát triển làng nghề là góp phần thực hiện nhiệm vụ tạo việc làm cho người lao động ngay tại địa phương, đảm bảo việc làm cho lực lượng lao động hiện có và lực lượng lao động được bổ sung thường xuyên; thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động bằng cách chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang các hoạt động phi nông nghiệp theo quan điểm “ly nông bất ly hương”.

- Phát triển làng nghề cần hình thành các khu sản xuất tập trung ở các làng nghề để tạo thuận lợi về kết cấu hạ tầng, mặt bằng... để các cơ sở sản xuất, các hộ làng nghề đầu tư mở rộng quy mô, phát triển sản xuất kinh doanh.

- Phát triển làng nghề cần theo hướng đa dạng hoá hình thức sở hữu, mô hình tổ chức sản xuất, định hướng ưu tiên đưa công nghệ tiên tiến, hiện đại kết hợp với công nghệ cổ truyền trong các làng nghề.

- Phát triển làng nghề cần chú ý đến vấn đề môi trường và phải đặt nó trong sự phát triển tổng thể, coi đó là một yếu tố quan trọng của sự phát triển bền vững; do đó cần tập trung di dời các cơ sở công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp gây ô nhiễm (không khí, nước, tiếng ồn) nằm xen kẽ trong khu dân cư đến các khu sản xuất tập trung để tập trung xử lý vấn đề ô nhiễm môi trường, đảm bảo sức khỏe cộng đồng.

- Phải xuất phát từ nhu cầu thị trường để lựa chọn mặt hàng, chủng loại, nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu thị trường về số lượng, chất lượng và giá cả sản phẩm; cần tập trung phát triển những ngành nghề, những sản phẩm có thế mạnh mà địa phương đã và đang có; sản phẩm của làng nghề phải có sức cạnh tranh với sản phẩm cùng loại được sản xuất trong nước và sản phẩm nhập khẩu của nước ngoài.

- Phải gắn với chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế và đẩy mạnh xuất khẩu. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã mở ra nhiều cơ hội cho các làng nghề tạo việc làm để tăng trưởng sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu song cũng đặt ra nhiều khó khăn, thách thức cho sự phát triển; vì vậy, việc phát triển các làng nghề cần chủ động chuẩn bị đầy đủ về nội lực để từng bước phát triển theo hướng bền vững.

2.2. Giải pháp

Việc giữ gìn và phát huy giá trị của các làng nghề không những có vai trò quan trọng trong phát triển du lịch mà còn tác dụng đến việc duy trì nét đẹp văn hóa truyền thống quê hương, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất, mua bán hàng thủ công mỹ nghệ, tạo việc làm và thu nhập cho người lao động, góp phần xây dựng văn hóa, văn minh nông thôn. Do đó, để khai thác tiềm năng và phát triển làng nghề Bắc Ninh theo hướng bền vững, trước mắt cần phải thực hiện một số giải pháp sau:

- Tiến hành quy hoạch các làng nghề truyền thống, có các biện pháp hữu hiệu để giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tạo điều kiện cho các cơ sở mở rộng sản xuất kinh doanh. Các chuyên gia môi trường cho rằng, Nhà nước cần có chính sách đồng bộ từ quy hoạch, đầu tư xây dựng nhà xưởng đến bảo vệ môi trường. Vì phát triển làng nghề không chỉ nhằm mục tiêu kinh tế - xã hội mà còn phải quan tâm tới bảo vệ môi trường, bảo tồn, duy trì những di sản văn hoá của các địa phương. Do đó, muốn phát triển làng nghề theo hướng bền vững, bên cạnh chính sách khoa học công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm, chính sách tín dụng, thông tin thị trường, giao lưu học hỏi, đào tạo nguồn nhân lực… thì cần quan tâm tới quy hoạch hạ tầng cho các làng nghề, phát triển bền vững gắn với bảo vệ môi trường.

- Có kế hoạch, lộ trình để từng bước tiến tới thực hiện triệt để việc tách khu sản xuất ra khỏi khu dân cư, quy hoạch xây dựng hợp lý khu công nghiệp làng nghề mới và có kế hoạch quản lý tốt môi trường, như đề ra những quy định về quản lý bảo vệ môi trường và an toàn lao động trong các làng nghề; định mức và thu lệ phí môi trường đối với các hộ, tổ sản xuất để triển khai và duy trì các hoạt động quản lý và bảo vệ môi trường của xã. Thành lập đội quản lý vệ sinh môi trường của làng nghề để kiểm tra thường xuyên tình trạng môi trường trong khu vực sản xuất, thu gom chất thải, xử lý bụi giao thông. Có chế tài xử lý thật mạnh đối với những cơ sở không tuân thủ nghiêm túc việc bảo vệ môi trường. Chẳng hạn như, cắt điện, không cho vay vốn… đối với các cơ sở này.

- Tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường và sức khoẻ cộng đồng cho các chủ sản xuất, người lao động và nhân dân kết hợp với thanh tra xử phạt thích đáng đối với các trường hợp vi phạm các quy định về môi trường. Triển khai áp dụng các tiến bộ trong sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm lượng chất thải. Từng bước hoàn phục môi trường ở khu dân cư, trả lại cảnh quan sạch đẹp cho làng, xã. Đối với các lò đúc, cán, ủ kim loại cần xây dựng hệ thống xử lý bụi và khí SO2 bằng tháp rửa, dùng dung dịch nước vôi, quy định các bãi tập kết xỉ than, xỉ kim loại để sử dụng làm vật liệu san nền. Đối với các xưởng mạ kẽm cần xây dựng hệ thống bể xử lý nước thải đơn giản, các thùng chứa axit, hoá chất mạ phải được bảo quản đúng quy định, xử lý nước thải mạ theo phương pháp kết tủa, huyền phù sau đó lắng và lọc bùn.

- Xây dựng các cụm công nghiệp làng nghề. Các cụm công nghiệp này đảm bảo được các tiêu chí về điện, nước, hệ thống xử lý chất thải và diện tích mặt bằng thuận lợi cho việc quảng bá, giới thiệu sản phẩm. Tỉnh cần phải có những chính sách ưu đãi như: Hỗ trợ tiền vốn, đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho con em bị thu hồi đất, chú trọng đưa các công nghệ tiên tiến vào sản xuất, tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm, nhất là thị trường ngoài nước, tạo điều kiện cho các cơ sở yên tâm làm ăn lâu dài.

- Hoàn thiện kết cấu hạ tầng và bảo đảm vệ sinh môi trường, cảnh quan làng nghề đáp ứng nhu cầu phát triển làng nghê trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Mỗi làng nghề nên lựa chọn những gia đình còn giữ được nghề truyền thống, có mặt bằng rộng để phục vụ cho việc giới thiệu quảng bá sản phẩm. Tùy theo điều kiện cụ thể mỗi làng nghề nên cố gắng có phòng giới thiệu sản phẩm chung để tạo thành hệ thống dịch vụ, bán sản phẩm, đồ lưu niệm cho du khách, vừa giúp cho việc quảng bá hình các làng nghề ở Bắc Ninh, vừa giúp tăng thêm thu nhập cho nhân dân trong vùng. Ngoài ra, ở từng làng nghề cần có quy hoạch chi tiết các khu vực bãi đỗ xe, khu ăn uống, vệ sinh công cộng.

- Rà soát, điều chỉnh, bổ sung, ban hành mới các chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề phù hợp với giai đoạn hiện nay. Chú ý các chính sách thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào việc phát triển các làng nghề. Ưu tiên giải quyết mặt bằng phù hợp cho các loại hình sản xuất trong làng nghề gắn với các cụm công nghiệp. Xây dựng Quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển làng nghề nông thôn của tỉnh. Hỗ trợ các làng nghề ổn định thị trường truyền thống, mở rộng thị trường mới. Xây dựng chiến lược sản phẩm gắn với chiến lược thị trường. Khuyến khích các cơ sở trong làng nghề đầu tư đổi mới công nghệ thiết bị theo phương châm kết hợp công nghệ tiên tiến với công nghệ thủ công truyền thống nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm để đủ sức cạnh tranh trên thị trưêng…

Nguyễn Hữu Loan
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Xác định mô hình tổ chức và hoạt động của hội đồng nhân dân các cấp thành phố Đà Nẵng (26/12/2008)
Chất vấn tại kỳ họp 17 HĐND TP Hà Nội khóa XIII: Ít nhưng "tinh" (12/12/2008)
Nâng cao chất lượng thẩm tra các báo cáo, đề án trình kỳ họp hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố (06/11/2008)
Hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân (30/05/2008)
Nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trên địa bàn Phú Yên (20/05/2008)
Kỹ năng ban hành và giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND cấp tỉnh (28/04/2008)
Kỹ năng giám sát tài chính và ngân sách nhà nư­ớc của đại biểu hội đồng nhân dân (28/04/2008)
Kỹ năng ban hành và giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND cấp tỉnh (28/04/2008)
Số 21 ((137) tháng 12/2008) 20/12/2008
Số 02 ((118) T3/2008) 08/01/2009
Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 

Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp điện tử được hoàn thành với sự giúp đỡ của Dự án Danida
    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08048487•Fax: 08048486•Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân