Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
Thứ năm, 08/01/2009, 02:43(GMT+7)
Vấn đề địa phương

Nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trên địa bàn Phú Yên
Nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trên địa bàn Phú Yên
Ghềnh đá đĩa
Phú Yên, một tỉnh duyên hải miền Trung có diện tích khoảng 5.045km2, dân số hơn 84 vạn người, có biển phía Đông, rừng núi phía Tây với nhiều danh lam thắng cảnh: gành Đá Đĩa, đầm Ô Loan, núi Đá Bia, vịnh Vũng Rô, lực lượng lao động trẻ (chiếm 57% dân số)...

 

Phú Yên, một tỉnh duyên hải miền Trung có diện tích khoảng 5.045km2, dân số hơn 84 vạn người, có biển phía Đông, rừng núi phía Tây với nhiều danh lam thắng cảnh: gành Đá Đĩa, đầm Ô Loan, núi Đá Bia, vịnh Vũng Rô, lực lượng lao động trẻ (chiếm 57% dân số). Tuy nhiên, Phú Yên còn gặp nhiều khó khăn như: có khí hậu khắc nghiệt, thời tiết thay đổi thất thường, chịu nhiều thiệt hại do bão, lũ gây ra; vị trí địa lý cách xa khu vực kinh tế trọng điểm phía bắc (Hà Nội – Hải Phòng – Vĩnh Phúc) và phía Nam (thành phố Hồ Chí Minh – Bình Dương – Đồng Nai – Bà Rịa, Vũng Tàu); chưa xây dựng được cảng biển quốc tế đạt tiêu chuẩn; hạ tầng giao thông yếu kém; đời sống người dân thấp; nguồn nhân lực có trình độ cao chiếm tỷ trọng còn thấp; trình độ quản lý nhà nước, trình độ cán bộ – công chức còn hạn chế; thủ tục hành chính còn rườm rà; chưa có cơ chế thông thoáng khi kêu gọi đầu tư; chưa có các giải pháp đồng bộ về phát triển kinh tế – xã hội; chưa hình thành được các khu công nghiệp mang tính liên kết cao; chưa xác định được mô hình phát triển kinh tế mũi nhọn; chưa xác định được định hướng phát triển kinh tế chủ đạo khi hội nhập…

Trong bối cảnh nước ta đã là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế tất yếu, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế của đất nước nói chung và tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế của tỉnh Phú Yên nói riêng. Tuy nhiên, hội nhập quốc tế cũng là thách thức lớn cho năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, gia tăng sự cạnh tranh khốc liệt và ngày càng gay gắt trên thị trường của các thành phần kinh tế. Vì vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp tỉnh Phú Yên là một nội dung cần được nhận thức và đánh giá khách quan nhằm phát huy cao độ nội lực, hạn chế thấp nhất những tác động tiêu cực.

Trước hết, phải nhận thấy rằng, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp tỉnh Phú Yên là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp trên địa bàn so với đối thủ cạnh tranh trong nước (kể cả doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) và quốc tế trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để tìm kiếm lợi nhuận ngày càng cao hơn. Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tại địa phương này trước hết phải được tạo ra từ thực lực của chính các doanh nghiệp hiện hữu và yếu tố này mang đặc tính nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không phải đơn nhất được tính bằng các tiêu chí về nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp, công nghệ, tài chính v.v.. theo các tiêu chí riêng mà cần đánh giá, so sánh với các doanh nghiệp khác đang cạnh tranh mạnh mẽ trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường và phải mở rộng tầm nhìn ra bên ngoài đối với các doanh nghiệp đa quốc gia khác trong bối cảnh “sân chơi lớn” của doanh nghiệp. Phải nhìn nhận, đánh giá thật khách quan điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanh nghiệp thông qua việc so sánh một cách tương xứng với các đối tác cạnh tranh nhằm đảm bảo tiêu chí khách quan trong năng lực cạnh tranh. Trên cơ sở kết quả của những so sánh này, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, các doanh nghiệp phải thực sự tạo lập được lợi thế so với đối tác của mình bằng chính nội lực của doanh nghiệp có sự kết hợp hỗ trợ gián tiếp của cấp chính quyền địa phương ở tỉnh Phú Yên.

Thực trạng năng lực cạnh tranh

Vốn doanh nghiệp

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh, phần lớn các doanh nghiệp đang hoạt động trong tình trạng không đáp ứng lượng vốn cần thiết cho việc sản xuất, kinh doanh. Vấn đề này đang tác động tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh và làm giảm năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường trong nước và quốc tế. Rõ ràng, yếu tố này đang là tiếng chuông báo động cho các doanh nghiệp có thể sẽ bị thôn tính theo kiểu “cá lớn nuốt cá bé” khi các chính sách bảo hộ của Nhà nước nói chung, của tỉnh Phú Yên nói riêng đã hầu như không còn (tuân thủ lịch trình giảm thuế quan cho khu vực mậu dịch tự do ASEAN – AFTA và tính cạnh tranh bình đẳng trong WTO).

Hoạt động nghiên cứu thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu

Trong thực trạng chung, theo số liệu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thì chưa đầy 10% số doanh nghiệp Việt Nam thường xuyên thăm dò thị trường nước ngoài. Lĩnh vực này được “nhường” cho các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhà nước (42% số doanh nghiệp thỉnh thoảng mới có cuộc đi thăm thị trường nước ngoài, và khoảng 20% không một lần đặt chân lên thị trường ngoài nước). Riêng các doanh nghiệp nhỏ và các doanh nghiệp tư nhân thì khả năng thâm nhập thị trường nước ngoài hầu như không hiện hữu trong thực tế. Mặt khác, trên địa bàn tỉnh, số lượng các doanh nghiệp thực hiện nghiên cứu thị trường thường xuyên rất ít, chỉ chiếm khoảng 16%, còn lại chỉ thực hiện nghiên cứu thị trường khi cần thiết. Do vậy, việc lựa chọn thị trường mục tiêu đã không được quan tâm đầy đủ bằng việc đánh giá, xác định các thị trường cơ bản, thị trường tiềm năng. Đây cũng là yếu tố nói lên thực trạng yếu kém của các doanh nghiệp địa phương trong khả năng cạnh tranh thị trường.

Nhân lực trong doanh nghiệp

Hiện tại, lực lượng lao động của Phú Yên dồi dào nhưng chủ yếu là lao động phổ thông chưa qua đào tạo cơ bản. Do vậy, năng suất lao động chỉ ở mức trung bình hoặc thấp (trên 60%) và tác phong lao động công nghiệp kém (những người có tay nghề cao, có trình độ thường vào các khu công nghiệp phía Nam làm việc). Phần lớn các doanh nghiệp trên địa bàn phải tự đào tạo tay nghề cho người lao động (chiếm 85,06%), lao động được đào tạo qua hệ thống trường dạy nghề tập trung của tỉnh chưa đáp ứng được nhu cầu đào tạo về số lượng cũng như chất lượng nguồn nhân lực (tỉnh chỉ có trường cao đẳng sư phạm, trường xây dựng số 3, chi nhánh học viện ngành tài chính - ngân hàng và một số trung tâm dạy nghề).

Năng lực quản lý và điều hành

Trình độ quản lý của hầu hết các doanh nghiệp đóng trên địa bàn còn thấp, hạn chế trong tiếp cận với những kiến thức, phong cách quản lý hiện đại, đặc biệt là kinh nghiệm giao dịch xuất nhập khẩu, nghiên cứu tiếp cận với thị trường thế giới. Khả năng quản lý cả về kỹ thuật và kinh doanh đều yếu kém. Đối với năng lực điều hành, đa phần các doanh nghiệp trên địa bàn chưa đào tạo được các CEO (Giám đốc điều hành) có trình độ điều hành mang tầm cỡ khu vực và thế giới hoặc chưa được đào tạo một cách cơ bản về kỹ năng điều hành doanh nghiệp, chủ yếu chỉ học hỏi qua kinh nghiệm thực tế.

Chiến lược kinh doanh

Trong điều kiện hội nhập, tính cạnh tranh toàn cầu khắc nghiệt của thị trường là tất yếu nhưng do hạn chế về điều kiện kinh doanh, sản xuất nên các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh chưa chú trọng nhiều đến hàm lượng tri thức và công nghệ trong sản phẩm, chủ yếu dựa vào chất lượng sản phẩm mang tính tự nhiên, chưa thể hiện được ưu thế về chất lượng sản phẩm, tính độc đáo của sản phẩm chưa cao, giá trị gia tăng sản phẩm trong tổng giá trị sản phẩm còn thấp hơn nhiều so với mức trung bình của cả nước và thế giới. Hầu hết các doanh nghiệp chủ yếu nhập khẩu nguyên vật liệu cho sản xuất nên gây tác động trực tiếp tới tính chủ động của các doanh nghiệp trong việc lập kế hoạch kinh doanh, tăng giá thành sản phẩm. Mặt khác, do vị trí địa lý xa các khu công nghiệp trọng điểm nên việc phải nhập khẩu các nguyên liệu phục vụ sản xuất cũng sẽ làm phát sinh thêm các chi phí khác như: chi phí vận chuyển, chi phí các thủ tục hải quan, chi phí cảng, chi phí bảo hiểm.... Thêm nữa, do hạ tầng yếu kém nên các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh cũng phải chịu thêm chi phí dịch vụ hạ tầng như: phí cầu đường, điện, viễn thông, cảng biển. Tất cả các khoản chi phí này đều có ảnh hưởng rất lớn tới chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm và năng lực cạnh tranh của sản phẩm cũng như doanh nghiệp.

Trình độ công nghệ

Thời gian quaT, một số các doanh nghiệp đã chú trọng đổi mới máy móc, thiết bị và công nghệ. Tuy nhiên, do điều kiện khó khăn về vốn nên tốc độ đổi mới còn chậm, chưa theo đúng định hướng phát triển bền vững. Do vậy, hiện vẫn còn rất nhiều doanh nghiệp đang sử dụng các loại thiết bị có công nghệ lạc hậu, hạn chế hiệu quả sản xuất, gây khó khăn trong việc lựa chọn mặt hàng kinh doanh, hạn chế khả năng cạnh tranh bằng giá, giảm năng lực cạnh tranh doanh nghiệp và đặc biệt là gây ô nhiễm môi trường cho tỉnh Phú Yên.

Nguyên nhân

Do hạn chế về các điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của tỉnh Phú Yên nên các doanh nghiệp chưa có đủ thông tin về thị trường, từ đó hoạch định việc sản xuất, kinh doanh chủ yếu là theo kinh nghiệm và cảm tính. Các doanh nghiệp cũng chưa thực hiện việc ứng dụng chiến lược marketing có bài bản, mang tính tổng thể hoặc mang tính đa dạng hóa sản phẩm và thương hiệu. Trên địa bàn tỉnh chủ yếu hiện hữu các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa. Nhiều doanh nghiệp cùng sản xuất, kinh doanh một mặt hàng, làm giảm giá một cách không cần thiết (đặc biệt là các mặt hàng xuất khẩu), dẫn đến tình trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp giảm sút. Mặt khác, tiềm lực về tài chính (đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân) còn hạn chế, chủ yếu là vốn tự có, vốn đầu tư ban đầu và vốn lưu động ít, không mang tính “đầu tư dài hơi”. Đặc tính “cố hữu” này dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp trên địa bàn không có điều kiện lựa chọn điều kiện kinh doanh, thị trường hàng hóa. Tư duy, nhận thức về tầm quan trọng của các thông tin thị trường, các kênh phân phối hàng hóa còn hạn chế và do vậy, không xây dựng được mạng lưới phân phối trực tiếp ở trong nước và nước ngoài. Các kế hoạch về tạo lập thương hiệu sản phẩm và doanh nghiệp chưa được đầu tư thỏa đáng, chưa thực sự coi thương hiệu là tài sản của doanh nghiệp. Phần lớn các doanh nghiệp chưa xây dựng được hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO. Đặc biệt, tính liên doanh - liên kết giữa các doanh nghiệp trên cùng địa bàn chưa chặt chẽ đã làm giảm sức mạnh cộng đồng doanh nghiệp tỉnh Phú Yên. Có thể nhận thấy, các loại phí không cần thiết mà doanh nghiệp phải trả nhiều, năng lực quản lý chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới, công nghệ kinh doanh và khả năng tiếp cận đổi mới công nghệ kinh doanh còn lạc hậu. Mặt khác, hạn chế về yếu tố địa lý, tự nhiên và văn hóa - xã hội do Phú Yên nằm cách xa hai trung tâm kinh tế trọng điểm phía Bắc và phía Nam cũng làm giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Yếu tố nền tảng về hạ tầng cơ sở thấp kém đã tác động mạnh đến sản xuất, kinh doanh và kêu gọi đầu tư vào tỉnh. Vấn đề tư duy hội nhập khi thực hiện phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn đề ra. Về phía chính quyền, chưa chú trọng thực hiện hoạch định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội mang tính vĩ mô và có định hướng chính xác; chưa thực hiện tốt sự liên kết vùng với các địa phương lân cận và các địa phương có kinh nghiệm phát triển; vướng cơ chế, chính sách chung của Nhà nước, chưa tạo ra cơ chế đặc thù cho chính địa bàn tỉnh.

Do vậy, vấn đề đặt ra khi muốn nâng cao năng lực cạnh tranh là phải xem xét thật kỹ lưỡng thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Yên hiện nay như thế nào, cơ chế, chính sách của chính quyền địa phương ra sao, những yếu tố nào tích cực cần phát huy, yếu tố nào tiêu cực cần tìm ra nguyên nhân để có những giải pháp cho phù hợp

Giải pháp

Về phía chính quyền

Với điều kiện về tự nhiên, kinh tế, chính trị và văn hóa - xã hội có ít thuận lợi, nhiều khó khăn, Phú Yên phải hoạch định riêng cho mình cơ chế, chính sách thích hợp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp đóng trên địa bàn trong điều kiện khắc nghiệt mới của môi trường cạnh tranh trong nước và quốc tế.

Một là, xây dựng cơ sở hạ tầng, hình thành các khu công nghiệp, cụm cảng biển quốc tế:

Hiện tại, nếu đem so sánh với các tỉnh thuộc khu vực miền Trung như Khánh Hòa, Đà Nẵng thì cơ sở hạ tầng về đường sá giao thông, cảng biển của Phú Yên quá lạc hậu, yếu kém. Đây cũng là yếu tố hạn chế việc kêu gọi đầu tư và làm giảm năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trên địa bàn với các địa phương khác và với các doanh nghiệp quốc tế. Nếu đầu tư hoặc kêu gọi đầu tư để cải thiện, khắc phục được những yếu tố này sẽ giảm được giá thành vận chuyển, tăng mãi lực hấp dẫn đầu tư. Đối với khu công nghiệp, hiện tại Phú Yên đã hình thành được một số khu công nghiệp nhưng chưa đảm bảo về tính hiện đại, tính liên thông cho các chủ đầu tư. Do vậy, phải đơn giản hóa các thủ tục về giao đất, cho thuê đất trong các khu công nghiệp, có những ưu đãi về chính sách thuế, cho thuê đất, giải phóng mặt bằng.

Hai là, liên kết phát triển

Tính liên kết phát triển vùng, khu vực là rất quan trọng đối với các doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Vấn đề đầu tư, sản xuất và liên kết sản phẩm của các doanh nghiệp hiện nay là tiêu thụ, sản phẩm đầu ra trong mối liên kết liên hoàn và có sự trợ giúp khi thực hiện các dự án đầu tư về sản phẩm công nghiệp, dịch vụ. Do vậy, các cơ quan có thẩm quyền phải định hướng và tạo thành mạng lưới liên kết vùng trên cơ sở quy hoạch tổng thể có định hướng lâu dài và phát triển bền vững.

Ba là, cải cách thủ tục hành chính có liên quan đến doanh nghiệp

Hiện tại, các thủ tục hành chính của cả nước nói chung, của tỉnh Phú Yên nói riêng đang là lực cản của các nhà đầu tư, các doanh nghiệp khi có quá nhiều thủ tục nhiêu khê, tính chuyên nghiệp của các công chức hành chính còn thấp, tư duy theo kiểu “hưởng lợi trước mắt” đã gần như cố hữu trong điều kiện chế độ lương bổng hiện nay. Do vậy, chính quyền tỉnh Phú Yên nên có kế hoạch thực hiện chương trình cải cách hành chính mang tính đồng bộ, triệt để trên cơ sở chương trình cải cách của Chính phủ, tạo ra cơ chế thông thoáng, thủ tục đơn giản, gọn nhẹ khi thực hiện các thủ tục đầu tư, thu hút đầu tư mở rộng các khu công nghiệp trọng tâm, tiền thuế, tiền sử dụng đất, các cơ chế, chính sách ưu đãi các loại vốn vay…

Bốn là, hoạch định chính sách về phát triển doanh nghiệp theo định hướng trọng tâm, những lĩnh vực kinh tế thuộc thế mạnh của tỉnh Phú Yên

Phải hoạch định được các chính sách phát triển doanh nghiệp theo hướng trọng tâm, không dàn trải khi đầu tư và phát triển kinh tế. Mặt khác, phải xác định được các thế mạnh trong các lĩnh vực kinh tế của tỉnh nhà, tránh đầu tư không đúng trọng tâm ngành nghề. Trên thực tế, Phú Yên có đường bờ biển dài, có đội ngũ ngư dân đánh bắt thủy sản giỏi, do vậy, để đảm bảo phát triển bền vững theo định hướng thế mạnh của tỉnh, cần phát triển ngành công nghiệp chế biến thủy sản nhằm gia tăng giá trị các sản phẩm đánh bắt được. Với lợi thế về danh lam thắng cảnh, Phú Yên có thể phát triển ngành dịch vụ du lịch bằng việc hoạch định kế hoạch du lịch theo từng thời gian cụ thể và học tập kinh nghiệm làm du lịch của các nước như Australia, Thái Lan về phát triển ngành du lịch chuyên nghiệp, đầu tư chiều sâu, quảng bá du lịch trong và ngoài nước.

Năm là, đào tạo nguồn nhân lực cao

Như trên đã đề cập, nguồn nhân lực của tỉnh Phú Yên hiện tại chưa đáp ứng nhu cầu các doanh nghiệp, đặc biệt là các ngành nghề đòi hỏi nguồn nhân lực có trình độ cao. Do vậy, phải cấp tốc thực hiện đào tạo tại chỗ (bằng việc mở rộng, nâng cấp các trường nghề, liên kết đào tạo) và gửi đi đào tạo trong nước, nước ngoài những lĩnh vực trọng tâm, mũi nhọn nhằm đáp ứng phát triển kinh tế trong những năm tới. Đặc biệt, cần áp dụng ngay các chính sách hạn chế chảy máu chất xám, thực hiện chế độ kêu gọi, thu hút và đãi ngộ nhân tài.

Về phía doanh nghiệpV

Thứ nhất, về vốn, với những khó khăn nêu trên, các doanh nghiệp phải thực hiện tốt công tác tiếp cận các nguồn vốn của các thành phần kinh tế khác (có thể vốn vay ngân hàng, vốn chứng khoán, huy động vốn trong dân…). Các doanh nghiệp cũng nên thực hiện phương thức liên kết vốn một cách đa dạng trong sản xuất, kinh doanh. Mặt khác, chính quyền các cấp Phú Yên cũng nên thực hiện chính sách ưu đãi, trợ cấp thêm về vốn bằng các hình thức: cấp đất xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; ưu đãi về thuế sử dụng đất; khoanh nợ, giãn nợ và có các chính sách khuyến khích khác.

Thứ hai, về các phương thức cạnh tranh:

- Phương thức 1: Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm.

Hiện nay, phải chú trọng đến việc đa dạng hóa sản phẩm và chất lượng hàng hóa. Chất lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ phải được đặt lên hàng đầu để đảm bảo tính cạnh tranh trước mắt và lâu dài, đảm bảo “chữ tín” với khách hàng. Đặc biệt nên tránh nhiều doanh nghiệp trên địa bàn cùng sản xuất, kinh doanh một loại hàng hóa, dịch vụ. Thực hiện cạnh tranh lành mạnh về các loại hàng hóa dịch vụ thế mạnh của Phú Yên như cá ngừ đại dương, dịch vụ du lịch, cảng nước sâu quốc tế Vũng Rô.

- Phương thức 2: Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.

Đây là điểm mấu chốt của các doanh nghiệp tỉnh Phú Yên. Hiện nay, các doanh nghiệp chưa đáp ứng được thị trường tiêu thụ sản phẩm, chủ yếu chỉ nhắm đến thị trường nội địa mà chưa chú trọng đến thị trường quốc tế. Do vậy, cần thiết phải có sự đầu tư “dài hơi” cho các thị trường tiềm năng này. Muốn vậy, phải thực hiện chiến lược Marketing toàn diện, quảng bá sản phẩm, thương hiệu sản phẩm, thương hiệu doanh nghiệp.

- Phương thức 3: Tăng năng lực của doanh nghiệp trên các phương diện tài chính, công nghệ, nhân lực, quản lý.

Vấn đề tài chính, nhân lực, công nghệ là những khâu trọng tâm cho doanh nghiệp, do vậy, các doanh nghiệp phải thực hiện đồng bộ phương thức này trên cơ sở huy động tổng lực các nguồn vốn, liên kết vốn; thực hiện hoạch định nguồn nhân lực theo phương thức mới, xem nhân viên là thành viên gia đình, cần có sự giáo dục, đào tạo, lắng nghe tâm tư nguyện vọng của người lao động; chú trọng đầu tư đổi mới công nghệ theo định hướng bền vững “hiện đại – thân thiện môi trường”.

Thứ ba, năng lực kinh doanh và hệ thống kinh doanh của doanh nghiệp: Hiện nay, năng lực kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh nếu đem so sánh với các doanh nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Hải Phòng, Đồng Nai… thì còn yếu. Các doanh nghiệp trên địa bàn chủ yếu kinh doanh theo hướng tự phát, kinh doanh dựa trên các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ tự có của tỉnh, chưa đảm bảo tính đa dạng hàng hóa, dịch vụ nên năng lực cạnh tranh còn thấp. Do vậy, các doanh nghiệp phải cải tổ từ gốc của vấn đề, đó là nhìn nhận, đánh giá chính xác những hạn chế, yếu kém của chính mình, thực hiện đào tạo, học tập kinh nghiệm của các doanh nghiệp lớn tại các tỉnh khác. Nếu nâng cao được năng lực kinh doanh thì sẽ thực hiện được các vấn đề có liên quan như công nghệ, chất lượng sản phẩm, trình độ nhân lực…. Mặt khác, các doanh nghiệp cũng phải chú trọng đến việc xây dựng hệ thống kinh doanh bằng việc thực hiện các mô hình liên doanh, liên kết trong và ngoài nước.

Thứ tư, định hướng ngành nghề chủ đạo của doanh nghiệp: Các doanh nghiệp phải vạch ra được định hướng ngành nghề kinh doanh chủ đạo của mình, tránh xu thế kinh doanh tự phát hay chủ yếu dựa vào ý thức chủ quan. Muốn vậy, các danh nghiệp phải thực hiện ngay các định hướng kinh doanh mũi nhọn dựa trên thế mạnh của chính doanh nghiệp và địa phương. Hiện tại, Phú Yên có thế mạnh về kinh doanh công nghiệp chế biến thủy sản, công nghiệp dịch vụ du lịch. Như vậy, đây là hai ngành nghề có tính chủ đạo của tỉnh nên phải chú trọng đầu tư một cách tổng thể, mang tính định hướng lâu dài, chuyên nghiệp.

Như vậy, với những vấn đề nêu trên, thiết nghĩ, các doanh nghiệp Phú Yên nên xem xét lại các thế mạnh đặc trưng của tỉnh, vùng nhằm phát huy tốt các ưu thế này trên cơ sở có những giải pháp hạn chế các yếu điểm nêu trên. Mặt khác, Phú Yên cũng phải mạnh dạn học tập kinh nghiệm từ các tỉnh phát triển khác như thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai… (kinh nghiệm xây dựng và phát triển các khu công nghiệp hiện đại như khu công nghiệp Việt Nam – Singapore của Bình Dương; Chương trình đào tạo nhân lực có trình độ cao như chương trình 300 Thạc sỹ – Tiến sỹ của thành phố Hồ Chí Minh…). Đồng thời có cách thức suy nghĩ mới, làm như thế nào, bằng cách thức, phương pháp gì để nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh mới của WTO. Nếu thực hiện tốt và đồng bộ các giải pháp cần thiết nêu trên, chắc chắn rằng, trong tương lai gần, Phú Yên sẽ là tỉnh phát triển với nền công nghiệp, dịch vụ hoàn hảo mang tính cạnh tranh cao của các doanh nghiệp đóng trên địa bàn. /.

Phan Hải Hồ
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Xác định mô hình tổ chức và hoạt động của hội đồng nhân dân các cấp thành phố Đà Nẵng (26/12/2008)
Chất vấn tại kỳ họp 17 HĐND TP Hà Nội khóa XIII: Ít nhưng "tinh" (12/12/2008)
Nâng cao chất lượng thẩm tra các báo cáo, đề án trình kỳ họp hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố (06/11/2008)
Hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân (30/05/2008)
Kỹ năng ban hành và giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND cấp tỉnh (28/04/2008)
Kỹ năng giám sát tài chính và ngân sách nhà nư­ớc của đại biểu hội đồng nhân dân (28/04/2008)
Kỹ năng ban hành và giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND cấp tỉnh (28/04/2008)
Số 21 ((137) tháng 12/2008) 20/12/2008
Số 02 ((118) T3/2008) 08/01/2009
Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 

Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp điện tử được hoàn thành với sự giúp đỡ của Dự án Danida
    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08048487•Fax: 08048486•Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân