Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
Thứ sáu, 21/11/2008, 23:11(GMT+7)
Vấn đề địa phương

Kỹ năng ban hành và giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND cấp tỉnh

     

I. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND cấp tỉnh

1. Khái niệm và hình thức VBQPPL của HĐND, UBND

Theo Điều 1 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) của Hội đồng nhân dân (HĐND), Uỷ ban nhân dân (UBND) năm 2004, VBQPPL của HĐND, UBND là văn bản do HĐND, UBND ban hành theo thẩm quyền theo trình tự, thủ tục do Luật Ban hành VBQPPL của HĐND, UBND quy định, trong đó quy định quy tắc xử sự chung, có hiệu lực trong phạm vi địa phương nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội ở địa phương theo định hướng xã hội chủ nghĩa và được Nhà nước bảo đảm thực hiện.

Khoản 2, Điều 1 Luật Ban hành VBQPPL của HĐND, UBND cũng quy định hình thức   VBQPPL của HĐND là Nghị quyết, của UBND là Quyết định và Chỉ thị.

2. Các trường hợp phát sinh nhu cầu ban hành VBQPPL của HĐND

HĐND ban hành VBQPPL trong những trường hợp sau đây:

- Quyết định những chủ trương, chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên như: Nghị quyết để quyết định biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng, chống buôn lậu và gian lận thương mại; Nghị quyết để quyết định thu phí, lệ phí và các khoản đóng góp của nhân dân và mức huy động vốn theo quy định của pháp luật;

- Quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương: Nghị quyết để quyết định chủ trương, biện pháp phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo; quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp.; Nghị quyết về việc quyết định phương án quản lý, phát triển và sử dụng nguồn nhân lực ở địa phương; Quyết định biện pháp bảo đảm trật tự công cộng, an toàn giao thông, phòng, chống cháy, nổ, bảo vệ môi trường và cảnh quan đô thị; Quyết định biện pháp quản lý dân cư ở thành phố và tổ chức đời sống dân cư đô thị; Thông qua cơ chế khuyến khích phát triển sản xuất, chuyển đổi cơ cấu kinh tế và phát triển các thành phần kinh tế ở địa phương.

- Quyết định biện pháp nhằm ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân, hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao cho như: Quyết định biện pháp bảo vệ sức khoẻ nhân dân, bảo vệ và chăm sóc người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa.

- Quyết định trong phạm vi thẩm quyền được giao những chủ trương, biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nhằm phát huy tiềm năng của địa phương, nhưng không được trái với các VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên như: Quyết định chính sách thu hút và một số chế độ khuyến khích đối với cán bộ, công chức trên địa bàn phù hợp với khả năng của ngân sách địa phương.

- Văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên giao cho HĐND quy định một vấn đề cụ thể như: quyết định số lượng và mức phụ cấp đối với cán bộ không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn trên cơ sở hướng dẫn của Chính phủ.

3. Thẩm quyền ban hành VBQPPL của HĐND cấp tỉnh, nội dung VBQPPL của HĐND cấp tỉnh (Chỉ đưa ra một số lĩnh vực làm ví dụ).

            Về thẩm quyền ban hành VBQPPL của các cấp chính quyền địa phương, Luật quy định cả ba cấp (cấp tỉnh, huyện, xã) đều có  thẩm quyền ban hành. Bởi vì, Hiến pháp năm 1992 (các Điều 119, 120, 123 và 124), Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 đã quy định rõ thẩm quyền quản lý nhà nước của cả ba cấp chính quyền địa phương, cũng như thực hiện nhất quán chủ trương cải cách hành chính là đẩy mạnh phân cấp, việc gì địa phương làm tốt, hiệu quả thì giao cho địa phương, một việc chỉ giao cho một cơ quan quản lý. Theo đó, thẩm quyền ban hành VBQPPL của HĐND cấp tỉnh, về nguyên tắc, được quy định như sau:      

Trong lĩnh vực kinh tế

 - Nghị quyết để quyết định thu phí, lệ phí và các khoản đóng góp của nhân dân và mức huy động vốn theo quy định của pháp luật;

- Nghị quyết về việc quyết định phương án quản lý, phát triển và sử dụng nguồn nhân lực ở địa phương;

- Nghị quyết để quyết định biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng, chống buôn lậu và gian lận thương mại.

Trong lĩnh vực giáo dục, y tế, xã hội, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao

- Nghị quyết để quyết định chủ trương, biện pháp phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo; quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp; bảo đảm cơ sở vật chất và điều kiện cho các hoạt động giáo dục, đào tạo ở địa phương;

- Quyết định chủ trương, biện pháp phát triển sự nghiệp văn hoá, thông tin, thể dục thể thao; biện pháp bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hoá ở địa phương; biện pháp bảo đảm cơ sở vật chất và điều kiện cho các hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục thể thao ở địa phương theo quy định của pháp luật;

 - Quyết định chủ trương, biện pháp phát triển nguồn nhân lực, sử dụng lao động, giải quyết việc làm và cải thiện điều kiện làm việc, sinh hoạt của người lao động, bảo hộ lao động; thực hiện phân bổ dân cư và cải thiện đời sống nhân dân ở địa phương;

- Quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh; biện pháp bảo vệ sức khoẻ nhân dân, bảo vệ và chăm sóc người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa; bảo vệ, chăm sóc bà mẹ, trẻ em; thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình; phòng, chống dịch bệnh và phát triển y tế địa phương.

Trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, tài nguyên và môi trường

- Quyết định biện pháp quản lý và sử dụng đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển tại địa phương theo quy định của pháp luật;

- Quyết định biện pháp bảo vệ môi trường; phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt, suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường ở địa phương theo quy định của pháp luật.

Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội

- Quyết định biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng ngừa, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác ở địa phương

Trong lĩnh vực thi hành pháp luật

- Quyết định biện pháp bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân theo quy định của pháp luật

Trong lĩnh vực xây dựng chính quyền địa phương

- Quyết định chính sách thu hút và một số chế độ khuyến khích đối với cán bộ, công chức trên địa bàn phù hợp với khả năng của ngân sách địa phương; quyết định số lượng và mức phụ cấp đối với cán bộ không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn trên cơ sở hướng dẫn của Chính phủ

HĐND thành phố trực thuộc trung ương

- Quyết định biện pháp phát huy vai trò trung tâm kinh tế - xã hội của đô thị lớn trong mối liên hệ với các địa phương trong vùng, khu vực và cả nước theo phân cấp của Chính phủ;

- Quyết định biện pháp bảo đảm trật tự công cộng, an toàn giao thông, phòng, chống cháy, nổ, bảo vệ môi trường và cảnh quan đô thị;

- Quyết định biện pháp quản lý dân cư ở thành phố và tổ chức đời sống dân cư đô thị.

5. Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND trong hệ thống pháp luật

a. Tính hợp hiến

VBQPPL của HĐND, UBND phải phù hợp với các quy định của Hiến pháp. Ví dụ, Quyết định số 51/2003/QĐ-UB ngày 15/7/2003 của UBND tỉnh Cần Thơ ban hành quy định về hoạt động khai thác cát sông trên địa bàn tỉnh Cần Thơ không được ảnh hưởng đến quyền kinh doanh đã được quy định trong Hiến pháp (trừ trường hợp các ngành kinh doanh có điều kiện hoặc các ngành cấm kinh doanh).

b. Tính hợp pháp

 - Văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND phải được ban hành theo đúng thẩm quyền, đúng hình thức, tuân thủ thủ tục, trình tự quy định; nội dung không được trái với văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên.

- Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh phải phù hợp với nghị quyết, luật của Quốc hội; nghị quyết, pháp lệnh của UBTVQH; Nghị định, nghị quyết của Chính phủ; quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; thông tư, quyết định của Bộ, ngành quản lý ngành, lĩnh vực.

- Quyết định, chỉ thị của UBND cấp tỉnh phải phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật kể trên và nghị quyết của HĐND cấp tỉnh;

- Nghị quyết của HĐND cấp xã phải phù hợp với các văn bản nêu trên, nghị quyết của HĐND cấp tỉnh, cấp huyện; quyết định, chỉ thị của UBND cấp tỉnh, cấp huyện;

c. Tính thống nhất

- Nghị quyết của HĐND được ban hành mới không được mâu thuẫn với các quy định của nghị quyết hiện hành về cùng vấn đề. Trường hợp có quy định khác, cơ quan soạn thảo phải kiến nghị với cơ quan, cá nhân có thẩm quyền về việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ /bãi bỏ các quy định trái với các quy định trong văn bản mới.

- Quyết định, chỉ thị của UBND mới ban hành không được mâu thuẫn với các quyết định, chỉ thị hiện hành về cùng vấn đề. Trường hợp có quy định khác, cơ quan soạn thảo phải kiến nghị với cơ quan, người có thẩm quyền việc sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ /hủy bỏ các quy định trái với các quy định trong văn bản mới. 

Nếu VBQPPL trái với VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên sẽ xử lý theo các cách sau đây: đình chỉ việc thi hành; bãi bỏ /hủy bỏ; sửa đổi /bổ sung.

6. Bảo đảm sự tham gia góp ý kiến về dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND

Để bảo đảm tính dân chủ, công khai, dự thảo văn bản phải được lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân qua các kênh sau:

a. Kênh mở

Các dự thảo văn bản nên lấy ý kiến nhân dân địa phương hay các đối tượng trực tiếp chịu sự tác động bao gồm:

- Văn bản có nội dung quy định về mức đóng góp, huy động vốn của dân cư địa phương; 

- Việc ban hành văn bản có ảnh hưởng quan trọng tới phát triển kinh tế -xã hội của địa phương;

- Việc ban hành văn bản có ảnh hưởng lớn đến đời sống sinh hoạt của một nhóm đối tượng thuộc địa bàn địa phương;

- Văn bản có nội dung liên quan đến vấn đề quản lý đất đai, quy hoạch, xây dựng các công trình công cộng quan trọng thuộc địa bàn.

Ngoài ra, các cơ quan, tổ chức khác (doanh nghiệp, hiệp hội) và cá nhân có quyền tham gia góp ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND. Do đó, cơ quan soạn thảo, cơ quan ban hành cần tạo điều kiện để các đối tượng trên tham gia ý kiến, như: đăng các dự thảo lên báo, tổ chức hội thảo, hội nghị, đưa lên vô tuyến của địa phương.

b. Kênh bắt buộc

- Lấy ý kiến các cơ quan hữu quan như các cơ quan chuyên môn thuộc UBND, các Ban của HĐND đối với các văn bản do UBND, HĐND ban hành thông thường bằng hình thức công văn (gửi công văn đề nghị và dự thảo văn bản). Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận được dự thảo, các cơ quan nói trên phải trả lời bằng văn bản về Dự thảo văn bản của HĐND, UBND cấp tỉnh (Điều 23, Điều 37). Đối với Dự thảo văn bản của HĐND, UBND cấp huyện, trong thời hạn 3 ngày, kể từ ngày nhận được dự thảo, các cơ quan hữu quan phải trả lời bằng văn bản (Điều 30, Điều 41).

 - Lấy ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản. Ví dụ: Văn bản liên quan đến học phí thì lấy ý kiến của cha mẹ học sinh; văn bản liên quan đến mức đóng góp để xây dựng đường liên thôn thì lấy ý kiến của cư dân liên quan; văn bản liên quan đến giải phóng mặt bằng thì lấy ý kiến của người dân trong diện giải phóng mặt bằng; văn bản liên quan đến việc quản lý nhà trọ thì lấy ý kiến các chủ nhà trọ.

Hình thức lấy ý kiến có thể là thảo luận về các vấn đề trong Dự thảo tại cuộc họp hoặc đăng Dự thảo trên báo. Các ý kiến phải được cơ quan soạn thảo nghiên cứu tiếp thu ý kiến để chỉnh lý dự thảo văn bản đồng thời phải được đưa vào hồ sơ để cơ quan có thẩm quyền tham khảoH, xem xét (như cơ quan thẩm định, cơ quan thẩm tra, UBND, HĐND).

7. Bảo đảm tính minh bạch của VBQPPL

Đưa tin, đăng công báo địa phương (Công báo cấp tỉnh)

VBQPPL của HĐND, UBND cấp tỉnh phải được đăng toàn văn trên một tờ báo in chính thức của Đảng bộ cấp tỉnh trong thời hạn chậm nhất là 5 ngày, kể từ ngày HĐND thông qua hoặc Chủ tịch UBND ký ban hành. VBQPPL của HĐND, UBND cấp tỉnh phải được đăng trên Công báo cấp tỉnh chậm nhất là 30 (ba mươi) ngày, kể từ ngày HĐND thông qua hoặc Chủ tịch UBND ký ban hành. (Điều 8, 51 Luật Ban hành VBQPPL của HĐND, UBND, Khoản 1, Điều 7 Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Ban hành VBQPPL của HĐND và UBND).

Niêm yết

- VBQPPL của HĐND, UBND cấp huyện, cấp xã phải được niêm yết tại trụ sở của cơ quan ban hành và những địa điểm khác do Chủ tịch UBND cùng cấp quyết định. Cụ thể:

- VBQPPL của HĐND, UBND cấp huyện phải niêm yết chậm nhất là 3 ngày kể từ ngày HĐND thông qua hoặc Chủ tịch UBND ký ban hành.

- VBQPPL của HĐND, UBND cấp huyện phải niêm yết chậm nhất là 2 ngày kể từ ngày HĐND thông qua hoặc Chủ tịch UBND ký ban hành.

Địa điểm niêm yết VBQPPL của HĐND, UBND có thể là nhà văn hoá cấp huyện, cấp xã (nếu có); trụ sở cơ quan ban hành văn bản; các điểm bưu điện - văn hóa của địa phương. (Khoản 1, 2 Điều 9 Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Ban hành VBQPPL của HĐND và UBND năm 2004)

8. Sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành VBQPPL của HĐND, UBND   

Việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành VBQPPL của HĐND, UBND phải dựa trên các nguyên tắc: VBQPPL của HĐND do HĐND sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ, bãi bỏ; VBQPPL của UBND do UBND sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ, bãi bỏ; VBQPPL của HĐND, VBQPPL của UBND bị đình chỉ việc thi hành, hủy bỏ, bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền. Đồng thời, văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản khác phải xác định rõ tên văn bản, điều, khoản, điểm của văn bản bị sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành.

II. HĐND giám sát việc ban hành VBQPPL

1. Mục đích

HĐND cấp tỉnh giám sát VBQPPL nhằm phát hiện dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND cùng cấp để kịp thời xử lý nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật (tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật xem mục 5).

Hệ thống VBQPPL (Điều 2 Luật Ban hành VBQPPL) bao gồm: Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; Nghị quyết, nghị định của Chính phủ; Quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định, thông tư,  chỉ thị của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; Các văn bản QPPL của Toà án, Viện kiểm sát; Nghị quyết của HĐND; Quyết định, chỉ thị của UBND.

2. Đối tượng giám sát

Đối tượng của hoạt động giám sát văn bản của HĐND bao gồm:

- Quyết định, chỉ thị quy phạm pháp luật của UBND cấp tỉnh.

- Nghị quyết quy phạm pháp luật của HĐND cấp huyện.

Tuy nhiên, trong quá trình giám sát, nếu phát hiện  các văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng không được ban hành bằng hình thức VBQPPL và văn bản do cơ quan không có thẩm quyền ban hành VBQPPL ban hành, bao gồm: văn bản của HĐND, UBND các cấp có chứa quy phạm pháp luật nhưng không được ban hành bằng hình thức văn bản như nghị quyết của HĐND, quyết định, chỉ thị của UBND; văn bản có thể thức và nội dung như VBQPPL (ví dụ: quyết định, chỉ thị, thông tư, nghị quyết), văn bản có thể thức không phải là VBQPPL nhưng có chứa quy phạm pháp luật (ví dụ: công văn, thông báo, quy chế, điều lệ, chương trình, kế hoạch và các hình thức khác) do cơ quan, cá nhân không có thẩm quyền ban hành VBQPPL ban hành như Chủ tịch UBND các cấp, Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện ban hành (bao gồm cả văn bản có thể thức và nội dung như trên được ký thừa lệnh), thì chủ thể giám sát có trách nhiệm xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị xử lý.

3. Nội dung giám sát

- Văn bản được ban hành đúng căn cứ pháp lý: Căn cứ pháp lý là cơ sở cho việc xác định thẩm quyền ban hành văn bản (thẩm quyền nội dung và thẩm quyền hình thức của văn bản). Thông thường căn cứ pháp lý được ghi trong phần mở đầu của văn bản.

- Thẩm quyền ban hành VBQPPL: Văn bản được ban hành đúng thẩm quyền, bao gồm thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung của văn bản. Thẩm quyền về hình thức được luật định, theo đó mỗi một cơ quan chỉ được ban hành những loại VBQPPL nhất định. Thẩm quyền về nội dung trong văn bản có liên quan đến thẩm quyền quản lý của cơ quan đó hoặc được phân công phân cấp (thường nằm rải rác ở các văn bản có liên quan).

- Phạm vi điều chỉnh của văn bản (thường nằm rải rác ở các văn bản có liên quan).

4. Chủ thể giám sát VBQPPL

- Thường trực HĐND

- Các Ban của HĐND

- Đại biểu HĐND

5. Phương thức giám sát

- Giám sát VBQPPL được gửi đến

- Tổ chức đoàn giám sát

- Khi nhận được yêu cầu, kiến nghị của tổ chức, cá nhân 

6. Thẩm quyền xử lý

- Các Ban của HĐND yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung, đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản.

-  Kiến nghị với Thường trực HĐND trình HĐND cùng cấp xem xét, quyết định.

- HĐND cấp tỉnh: bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định, chỉ thị trái pháp luật của UBND cấp tỉnh, nghị quyết của HĐND cấp huyện.

7. Trình tự HĐND cấp tỉnh xem xét VBQPPL có dấu hiệu trái pháp luật

- Đại diện Thường trực HĐND trình VBQPPL có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật và VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên;

- HĐND thảo luận về VBQPPL có dấu hiệu trái Hiến pháp, luật và VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên. Trong quá trình thảo luận, người đứng đầu cơ quan đã ban hành VBQPPL có thể trình bày bổ sung những vấn đề có liên quan;

- HĐND ra nghị quyết về việc VBQPPL không trái với Hiến pháp, luật và VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên; quyết định bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản đó.

8. Các ban xem xét VBQPPL của UBND cấp tỉnh, nghị quyết của HĐND cấp huyện

Các Ban của HĐND trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thường xuyên theo dõi việc ban hành VBQPPL của UBND cùng cấp, nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp.

Trong trường hợp phát hiện VBQPPL, nghị quyết của UBND cùng cấp, nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, các VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND cùng cấp thì các Ban của HĐND trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung, đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản đó. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu, cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thông báo cho Ban của HĐND biết việc giải quyết; quá thời hạn nói trên mà không trả lời hoặc giải quyết không đáp ứng với yêu cầu thì Ban của HĐND có quyền kiến nghị với Thường trực HĐND trình HĐND xem xét, quyết định.

9. Cơ sở pháp lý để xác định nội dung trái pháp luật của văn bản

- VBQPPL có hiệu lực pháp lý cao hơn, đang có hiệu lực pháp luật.

- Văn bản làm cơ sở pháp lý để giám sát phải là văn bản đang có hiệu lực tại thời điểm thực hiện giám sát.

Ngoài ra cũng cần chú ý nguyên tắc áp dụng văn bản được quy định tại Điều 80 Luật Ban hành VBQPPL, đó là trong trường hợp các văn bản có quy định khác nhau về cùng một vấn đề, do cùng cơ quan ban hành thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau. Còn trong trường hợp các VBQPPL có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.          

TS. Nguyễn Thị Kim Thoa
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi

Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp điện tử được hoàn thành với sự giúp đỡ của Dự án Danida
    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08048487•Fax: 08048486•Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân