Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
Thứ năm, 08/01/2009, 02:31(GMT+7)
Vấn đề địa phương

Đại biểu HĐND với kỹ năng phân tích thông tin

Chức năng và nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của người đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân ở địa phương, quyết định và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri. Do đó, để thực thi đầy đủ và có hiệu quả nhiệm vụ của mình, các đại biểu HĐND cần nhiều loại thông tin cần thiết về mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội ở địa phương, đồng thời biết tổ chức thu thập, khai thác và sử dụng thông tin một cách có hiệu quả, để biến thông tin thành công cụ hữu hiệu giúp mình trong việc thảo luận, cho ý kiến và quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương mình.

Trong trường hợp không được cung cấp thông tin kịp thời, hoặc thiếu thông tin, hoặc thông tin không cụ thể, khách quan… thì các đại biểu sẽ rất khó khăn trong việc xem xét và quyết định các vấn đề trình ra kỳ họp HĐND. Đây là một trong những ví dụ cho thấy, để làm tròn trách nhiệm của người đại diện, các đại biểu HĐND không chỉ cần được cung cấp thông tin, mà còn phải có những yêu cầu, tiêu chí đặt ra cho thông tin được cung cấp và hơn thế nữa, cần phải có những kỹ năng nhất định để khai thác và sử dụng thông tin.

Thực trạng  cung cấp thông tin

Hộp

Có thể xác định các nguồn thông tin cho đại biểu như sau:

(i) Các tài liệu, báo cáo chính thức do các cấp chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức nghề nghiệp gửi đến;

(ii) Các báo cáo nghiên cứu, phân tích trong nước và của nước ngoài; các sách, báo, tạp chí; tài liệu của các viện nghiên cứu, các trường đại học…

(iii) Thông tin do mình thu thập được trong quá trình tiếp xúc với cử tri, tham gia vào các công việc ở địa phương.

(iv) Thông tin qua các phương tiện truyền thống và thông tin không qua các phương tiện truyền thông: báo chí, đài phát thanh và qua mạng Internet của Chính phủ…

Trên thực tế, hầu hết các tài liệu, thông tin được gửi đến các đại biểu HĐND hiện nay là qua kênh chính thức, tức là từ uỷ ban nhân dân (UBND) và các sở, ban, ngành. Các tài liệu của các tổ chức nghiên cứu, tư vấn đánh giá có tính chuyên môn độc lập ít khi được sử dụng đến và về cơ bản, cho đến nay vẫn chưa được cung cấp cho các đại biểu HĐND một cách có bài bản, có tính hệ thống và dùng làm công cụ để đối chiếu, so sánh giữa các nguồn tin với nhau.

Về số lượng, thông tin được cung cấp cho đại biểu HĐND bao gồm nhiều chủng loại như báo cáo, tờ trình của UBND, của các ngành, của các ban của HĐND Tuy nhiên, do việc cung cấp thông tin được thực hiện không đồng đều trong thời gian kỳ họp và giữa hai kỳ họp HĐND, nên xảy ra tình trạng tại kỳ họp thì các đại biểu HĐND được cung cấp quá nhiều thông tin, do đó không đủ thời gian để xử lý các tài liệu, thông tin phục vụ cho các hoạt động của mình tại kỳ họp.

Ngoài ra, việc tiếp cận tài liệu, thông tin giữa các đại biểu HĐND là không đồng đều. Ví dụ, đại biểu là lãnh đạo của UBND hoặc HĐND hoặc của sở, ngành thì có nhiều thông tin và được cập nhật thường xuyên, trong khi đó, các đại biểu khác lại có ít thông tin và nếu có, thì thông tin không được cập nhật.

Có thể thấy rằng, điểm mạnh trong cơ chế cung cấp thông tin hiện nay cho các đại biểu HĐND là thông tin đa dạng, giá rẻ, tiện dụng, đồng thời, các đại biểu HĐND không mất thời gian, kinh phí để tổ chức, thu thập thông tin. Nói cách khác, các đại biểu HĐND còn ở vào thế bị động, “được” cung cấp thông tin theo cách làm thông thường và chưa ở vào thế chủ động để tổ chức có được thông tin và “đuổi” theo loại thông tin mà mình cần.

Điểm yếu trong cơ chế cung cấp thông tin hiện nay là tính độc lập, tính khách quan trong thông tin chưa cao, do các cơ quan, tổ chức chỉ cung cấp những thông tin, tài liệu có lợi cho mình. Ngoài ra, thông tin không được cung cấp đầy đủ, không cụ thể và nhiều khi không toàn diện, gây khó khăn trong việc tìm và kiểm chứng thông tin.

Trong nhiều trường hợp, còn có dự án, tài liệu được coi là thông tin mật nên các đại biểu rất khó sử dụng, chứ chưa nói đến việc cung cấp chúng cho cử tri. Nói cách khác, các đại biểu HĐND còn quá lệ thuộc vào nguồn thông tin do các cấp chính quyền cung cấp, trong khi tự mình chưa có khả năng để tổ chức và khai thác thông tin một cách có hiệu quả.

Khả năng tiếp cận thông tinK, như đã phân tích ở trên, giữa các đại biểu HĐND là không đồng đều. Do đó, yêu cầu chung là đại biểu phải có năng lực tự tổ chức nguồn tin hoặc nhờ vào sự giúp đỡ của cơ quan, tổ chức nơi đại biểu công tác. Tuy nhiên, có thể kết hợp cả hai cách, vừa tự tổ chức lấy hệ thống thông tin của riêng mình, vừa dựa vào sự giúp đỡ chính thức hoặc các hình thức dịch vụ cung cấp thông tin.

Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đại biểu HĐND, việc tổ chức cung cấp, xử lý và sử dụng thông tin một cách có hiệu quả; đồng thời phải đảm bảo tính độc lập hơn, khách quan hơn, cụ thể hơn và đầy đủ hơn của thông tin, là công việc có tầm quan trọng lớn.

Kỹ năng phân tích và sử dụng thông tin cho mục đích hoạch định chính sách

Mục đích của việc phân tích thông tin là để đối chiếu, kiểm chứng với nguồn tin được cung cấp để tăng độ tin cậy vào nguồn tin mà mình xử lý, từ đó có thể sử dụng thông tin đã qua phân tích vào vấn đề mà mình quan tâm.

Hộp

 

Về kỹ năng phân tích và sử dụng thông tin cho mục đích hoạt động của đại biểu HĐND, có thể phân tích ý kiến của đại biểu Quốc hội khoá XI Nguyễn Ngọc Trân về thất thoát trong xây dựng cơ bản mà đại biểu đã nêu trong phiên chất vấn Bộ trưởng Bộ Kế hoạch - Đầu tư  Võ Hồng Phúc tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XI, tháng 6 năm 2004. Đại biểu Nguyễn Ngọc Trân đã đưa ra thông tin về tình trạng thất thoát đến 30% trong xây dựng, đầu tư. Còn Bộ trưởng Bộ Kế hoạch - Đầu tư, trong ý kiến trả lời chất vấn của mình thì cho rằng, không có tình hình như vậy. Trong ví dụ này, chúng ta thấy, con số thất thoát đến 30% là nguồn tin mà do chính đại biểu đưa ra, không chính thống, có thể do báo chí nêu hoặc đại biểu được phản ánh qua hoạt động tiếp xúc cử tri hoặc giám sát của mình.

Trong hoạt động của HĐND ở một số tỉnhT, thành phố trực thuộc trung ương, cũng có tình hình tương tự. Ví dụ, các đại biểu HĐND thành phố Hồ Chí Minh đã phân tích và đánh giá lại dự toán ngân sách cho việc mở đường Điện Biên Phủ, theo đó, đã có sự đối chiếu và so sánh để có thể giảm hàng trăm tỷ đồng số tiền chi cho việc đền bù và giải tỏa mặt bằng.

Trong các trường hợp này, thì đại biểu đã dựa vào nguồn tin thứ yếu, chưa có cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn và chưa qua kiểm chứng, do vậy, đại biểu đã không nêu được nguồn của thông tin để có thể đối chiếu, so sánh.

Thông thường, các đại biểu HĐND thường yếu thế hơn lãnh đạo UBND hoặc sở, ngành trong việc tiếp nhận thông tin, vì chính người điều hành, quản lý có đầy đủ thông tin hơn  trong lĩnh vực của mình. Còn hầu hết các đại biểu HĐND không có được những lợi thế nhất định về thông tin mà những người điều hành có, đối với vấn đề được chất vấn. Do đó, đại biểu HĐND cần chủ động yêu cầu cung cấp thông tin về vấn đề mà mình quan tâm, cần sử dụng quyền được cung cấp thông tin của mình qua việc yêu cầu cung cấp thông tin từ phía các cơ quan thuộc ủy ban, các sở, ngành để có báo cáo chính thức về những vấn đề mà người dân quan tâm. Ngoài ra, đại biểu có thể tiến hành phân tích, so sánh các thông tin về lĩnh vực mà mình quan tâm. Ví dụ, khi so sánh chi phí dự án đầu tư của tư nhân trong nước và dự án đầu tư của nhà nước, sẽ thấy đầu tư của nhà nước cao hơn tư nhân trong nước rất nhiều. Thông thường, mức độ chi phí đầu tư của nhà nước cao hơn của tư nhân là khoảng 30% hoặc hơn.

Các kỹ năng mà đại biểu HĐND cần phải có để thu thập và xử lý thông tin cụ thể như sau:

Xác định phạm vi thông tin mà đại biểu cần

Việc xác định đúng vấn đề mà đại biểu quan tâm sẽ định hướng cho đại biểu cần tìm và tìm đúng loại thông tin có liên quan. Trên thực tế, mỗi đại biểu HĐND được đào tạo về một ngành chuyên môn và công tác trong một lĩnh vực cụ thể. Vì vậy, đại biểu cần tập trung vào việc tìm kiếm thông tin thích hợp về chuyên ngành đào tạo hoặc lĩnh vực công tác của mình để chuẩn bị và trình bày ý kiến về vấn đề mà mình đã được chuẩn bị.

Yếu tố thứ hai là đại biểu đại diện cho nhóm cử tri, khu vực bầu cử mà mình là đại diện. Việc quan tâm thu thập thông tin và phát biểu về vấn đề mà chính người dân /cử tri của khu vực mà mình đại diện quan tâm, sẽ tạo ảnh hưởng tốt đến hình ảnh của đại biểu khi tiếp xúc cử tri và điều này giúp tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa đại biểu với địa phương hay nhóm đối tượng, nhóm cử tri mà mình đại diện.

Đối với những thông tin trong một dự án, một báo cáo, ví dụ, trong một dự thảo văn bản để trình HĐND xem xét, thông qua, thì đại biểu phải quan tâm đến các thông tin cụ thể mà đại biểu cần, như thông tin về thực trạng của vấn đề, về sự cần thiết phải ban hành văn bản, kinh nghiệm trong và ngoài nước Đối với các dự án, báo cáo mà đại biểu phải xem xét, quyết định, cần quan tâm nhiều hơn các loại thông tin về khả năng hiện thực của dự án, vấn đề được thông qua và hiệu quả kinh tế - xã hội mà dự án mang lại.

Mặt khác, trong hoạt động giám sát, đại biểu HĐND phải xác định mình cần những loại thông tin gì để bảo đảm hiệu quả và hiệu lực của công tác giám sát. Sau đó, sử dụng các thông tin đã thu thập được trong hoạt động giám sát để đánh giá hiệu quả hoạt động của chính quyền và các quan chức công quyền. 

Một vấn đề đặt ra hiện nay là chúng ta chưa gắn kết được các loại thông tin với nhau khi thực thi nhiệm vụ chủ yếu của HĐND là ban hành nghị quyết, quyết định về kinh tế, xã hội, văn hóa của địa phương. Điều này có thể thấy rõ qua việc các Ban của HĐND tổ chức nhiều hoạt động giám sát, nhưng chưa chuyển hóa được những thông tin đã thu thập để xây dựng thành chính sách chung. Nói cách khác, vấn đề đặt ra ở đây là phải hướng hoạt động giám sát của HĐND vào việc ban hành chính sách.

Các kỹ năng phân tích thông tin

Thứ nhất là phân tích thông tin theo chuỗi thời gian (time series) để nhận được sự biến động của vấn đề theo thời gian để thấy vấn đề trở nên nghiêm trọng hay tốt hơn;

Thứ hai là phân tích vấn đề tại một thời điểm nhưng ở nhiều địa bàn, địa phương để xâu chuỗi các vấn đề lại với nhau (cross sectional). Ví dụ, về dự án trồng rừng do nhà nước chủ trương và do hộ gia đình thực hiện ở các địa phương; hoặc là dự án về phát triển cơ sở hạ tầng như điện, đường, trường, trạm ở các quận /huyện hoặc xã để thấy được thực trạng của tình hình.

Thứ ba, so sánh theo một chuẩn mà mình chọn, ví dụ, lấy dự án của tư nhân có cùng quy mô, tính chất để làm chuẩn so sánh với dự án tương tự do chính phủ đầu tư;

Thứ tư, đánh giá và rút ra một số kết luận như: vấn đề được cải thiện như thế nào, vấn đề trở nên nghiêm trọng hay không; so sánh với các địa phương khác nhau;

Hơn thế nữa, đối với đại biểu HĐND, thì việc sử dụng các kỹ năng phân tích là để rút ra được những kết luận có tính tổng quan như sau:

(a) sự biến đối của vấn đề, tức là xem xét và đánh giá vấn đề qua các mốc thời gian; qua các địa phương để thấy rõ thực trạng và diễn biến của vấn đề;

(b) ai sẽ ủng hộ và vì sao lại ủng hộ chính sách đó; ai sẽ phản đối biện pháp do các đại biểu HĐND đưa ra và vì sao lại phản đối. Tinh thần chung là phải xuất phát từ lợi ích chung của địa phương để xem xét và quyết định việc ban hành một chính sách mới hoặc sửa đổi, bổ sung một chính sách hiện hành.

Việc nhận biết những người ủng hộ và những người không đồng tình, phản đối và tại sao họ lại có những quan điểm như vậy là rất quan trọng để lựa chọn và thực hiện chính sách thành công. Trong trường hợp này, việc tổ chức các cuộc họp để lấy ý kiến nhân dân một cách rộng rãi hoặc tiến hành các phương pháp điều tra, phỏng vấn người dân là rất quan trọng.

(c) ai chịu trách nhiệm về tình hình nói trên, tức là xác định nguyên nhân mà những người có trách nhiệm phải trả lời. Thông tin về vấn đề này cũng rất quan trọng để bảo đảm hình thành và vận hành bộ máy tổ chức thực hiện dự án, giải pháp khi đã được thông qua.

(d) kiến nghị, lựa chọn, dự kiến đề xuất… để sửa đổi hoặc bổ sung cho giải pháp thích hợp, không nhất thiết phải bằng pháp luật hoặc sự can thiệp của chính quyền trung ương.

 

(Bài đăng trên HKLP số 25 (102) Tháng 7 năm 2007)

Người Hiến Kế
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Xác định mô hình tổ chức và hoạt động của hội đồng nhân dân các cấp thành phố Đà Nẵng (26/12/2008)
Chất vấn tại kỳ họp 17 HĐND TP Hà Nội khóa XIII: Ít nhưng "tinh" (12/12/2008)
Nâng cao chất lượng thẩm tra các báo cáo, đề án trình kỳ họp hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố (06/11/2008)
Hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân (30/05/2008)
Nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trên địa bàn Phú Yên (20/05/2008)
Kỹ năng ban hành và giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND cấp tỉnh (28/04/2008)
Kỹ năng giám sát tài chính và ngân sách nhà nư­ớc của đại biểu hội đồng nhân dân (28/04/2008)
Kỹ năng ban hành và giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND cấp tỉnh (28/04/2008)
Số 21 ((137) tháng 12/2008) 20/12/2008
Số 02 ((118) T3/2008) 08/01/2009
Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 

Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp điện tử được hoàn thành với sự giúp đỡ của Dự án Danida
    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08048487•Fax: 08048486•Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân