Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
Thứ năm, 08/01/2009, 01:14(GMT+7)
Trao đổi kiến nghị

Vài câu chuyện gợi ý về văn hóa pháp luật ở nước ta trước đây
“Tam quyền phân lập” có nghĩa rằng ba cái quyền độc lập với nhau, không có cái quyền nào được đứng trên quyền nào. Đó là quyền lập pháp, quyền tư pháp, quyền hành pháp. Quyền lập pháp ở trong tay Quốc hội (nghị viện). Tòa án nắm quyền tư pháp. Quyền hành pháp do những người phụ trách chính quyền quản lý (dưới chế độ cũ, những người này là các vị vua quan).

 

Phải chăng ở ta cũng đã có người nghĩ đến “tam quyền phân lập”?

 “Tam quyền phân lập” có nghĩa rằng ba cái quyền độc lập với nhau, không có cái quyền nào được đứng trên quyền nào. Đó là quyền lập pháp, quyền tư pháp, quyền hành pháp. Quyền lập pháp ở trong tay Quốc hội (nghị viện). Tòa án nắm quyền tư pháp. Quyền hành pháp do những người phụ trách chính quyền quản lý (dưới chế độ cũ, những người này là các vị vua quan). Theo chế độ phong kiến, thì mặc dầu có chia ra các ty, các tào, phụ trách từng phần việc, nhưng cuối cùng quyền hành pháp vẫn là to hơn cả. Mọi việc án từ, xét xử đều từ dưới đưa lên, nhưng với những trọng án thì vua (người giữ quyền hành chính tối cao) là người quyết định. cấp tỉnh có ba tòa quan lớn: quan Tổng đốc (hay Tuần vũ đứng đầu), quan Bố chánh chủ yếu coi về việc hộ, quan Án sát phụ trách việc hình, nhưng quyền to là quan Tổng đốc mà kết thúc vẫn là phải theo chỉ dụ của nhà vua. phương Tây, mãi cho đến khi có những lý thuyết dân chủ (thế kỷ 18), đường lối tam quyền phân lập mới được rõ ràng. nước ta, hàng trăm năm theo chế độ quân chủ, uy quyền nhà vua vẫn cứ ngự trị. Vào thời gian chúng ta bị thực dân thống trị, thì không cần phải nói cũng biết rằng pháp luật dù có, cũng chỉ là hình thức. Quyền hành pháp nắm tất cả. Một cấp như cấp huyện, khi xử án, viên tri huyện đồng thời tuyên bố dõng dạc: bản chức là Tri huyện kiêm Thẩm phán. Ngay cả gần đây, cũng có những trường hợp các ủy ban hành chính làm luôn công việc của Tòa án, hoặc có trường hợp xét xử rồi, còn phải hỏi thêm ý kiến những cấp khác nữa, mà ý kiến trả lời lại là ý kiến quyết định. Đó là những hạn chế (cả về quan niệm, về hoàn cảnh. Giờ đây, chúng ta trong quá trình cải cách hành chính, cải cách tư pháp nên chú ý vào vấn đề này.

Tình trạng chung đối với người dân và người phụ trách hành chính tư pháp ở nước ta ngày xưa là như thế. Nhưng đi sâu vào một số hiện tượng, một số hoạt động của người xưa, thì thực ra không phải chúng ta không có lúc đã tiếp cận được vấn đề này. Xin được kể một câu chuyện nhỏ.

Hồi thế kỷ 19 ở nước ta, dưới triều các vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức, ở huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, có ông Vũ Phạm Khải (1807-1872), đỗ cử nhân và được cử làm quan. Ông trải qua các chức Hậu bổ, Tri huyện rồi lên các chức Lang trung, Tham biện, Biên tu... cuối đời là quyền Bố chính tỉnh Thái Nguyên, rồi bị giáng chức, làm Toản tu ở Sử quán. Ông được công nhân là bậc tài cao học rộng, có đạo đức liêm khiết và đức tính cương trực. Ông biên soạn rất nhiều, có nghiên cứu sâu vào hình luật Việt Nam. Các ông vua như Thiệu Trị, Tự Đức đều trân trọng ông, các bạn có học vị, chức vị cao hơn ông (như Hoàng giáp Phạm Văn Nghị) đã xem ông là “mắt cao vượt một thời tâm hùng hơn muôn kẻ”. Nhưng ông không được giao chức vụ cao hơn, và cũng bị nhiều người ghen tị, chèn ép. Vua Tự Đức nhận ra điều này, đã hỏi ý kiến một vị quan khác là Nguyễn Đình Tân. Ông Tân nói với vua: “Vũ Phạm Khải là người khảng khái, không a phụ với người quyền quí, không có thái độ xu viêm phụ nhiệt như nhiều người. Hễ thấy ai có lỗi là bẻ thẳng trước mặt, nên nhiều người không ưa”.

Và quả thực Vũ Phạm Khải là một con người cứng cỏi. Ông luôn giữ vững sự công bằng, kiên quyết trong khi tiến hành phận sự của mình, bất chấp uy quyền thế lực của kẻ bề trên. Có một lần, xảy ra vụ án mạng, các cơ quan ở tỉnh, ở huyện đã xem xét, rồi trình lên. Triều đình giao cho các quan Hữu tư xét lại. Quan Hữu tư (phụ trách việc án từ) cũng đồng ý để buộc tội nặng nạn nhân. Vũ Phạm Khải lúc bấy giờ đang giữ chức Lang trung Bộ Hình, điều tra lại cẩn thận, không tán thành các kết luận khắc nghiệt ấy. Việc phải đem ra cho các quan trong triều bàn bạc. Lúc bấy giờ, ông Trương Đăng Quế có vai trò như một vị Tể tướng, vì ông có chức vị cao hơn cả, lại được gần gũi nhà vua. Ông Quế đồng ý với các quan Hữu tư, cho lời buộc tội là đúng. Vũ Phạm Khải phản đối. Các quan vừa nể, vừa sợ Trương Đăng Quế, nên không ai có ý kiến. Ông Trương còn nghiêm nghị nói:

- Tôi được phụng chỉ duyệt bản án, tôi quyết y án ấy.

Nhấn mạnh việc phụng chỉ, ông Trương đã vin vào nhà vua để trấn áp các quan. Vâng mệnh vua, thì còn ai dám trái.

Nhưng Vũ Phạm Khải đã ngang nhiên chống lại:

- Tôi ở bộ Hình, tôi quyết bác án ấy.

Hai ông đã to tiếng với nhau. Án là án hình sự. Quan hình sự không đồng ý thì phải duyệt lại và chờ nhà vua thực sự ra chỉ dụ, chứ vin vào mệnh vua thì còn bàn bạc làm gì. Trương Đăng Quế tức giận, hỏi:

- Ông không nghe theo lời tôi à?

Vũ Phạm Khải cứng cỏi đáp:

- Vì pháp luật, tôi không thể theo lời ngài.

Thật là một câu nói hay. Việc án từ, việc xử xét là phải theo luật. Không thể dựa vào ý kiến của một ai, dù người ấy có vị trí, có quyền hành đến đâu, cũng không thể đứng cao hơn luật được. Câu nói gọn gàng đơn giản nhưng cho ta thấy rõ ràng Vũ Phạm Khải đã thấy được sự độc lập của quyền tư pháp. Ông đã ngang nhiên đòi hỏi vị quan cấp trên, là thủ trưởng của mình phải nhớ đến pháp luật. “Vì pháp luật, tôi không thể theo ngài”. Nói như vậy, chứng tỏ là tôi đòi hỏi quyền tư pháp phải được tôn trọng. Ngài nắm quyền hành chính, nhưng không thể dùng quyền hành chính mà áp chế quyền tư pháp được.

Thấy hai người tranh cãi nhau gay gắt, một vị quan khác cũng vào bậc trọng thần là Hà Duy Phiên liền đứng ra, lựa lời hòa giải. Không ngờ ông Khải quay lại, hỏi ông Phiên:

- Ông định bênh vực tôi hay bênh vực ông Trương? Nếu ông có ý bênh ông Trương, thì thiết tưởng địa vị như Trương tướng công, không cần ai phải bênh vực cả.

Cái này lại cũng ngụ ý là pháp chế phải rõ ràng. Đây không phải là chuyện bênh vực hay không bênh vực. Và chuyện bênh vực phải là bênh vực chân lý, chứ không phải bênh vực cá nhân. Người nắm quyền hành chính có tư cách riêng, quyền tư pháp cũng vậy, cần gì phải có người bênh vực? Đã bênh vực, thì còn đâu là pháp, còn đâu là luật nữa. Rõ ràng, Vũ Phạm Khải không dùng được cách nói của chúng ta ngày nay, nhưng cái ý về tam quyền phân lập thì ông đã tiếp cận.

Kết thúc cuộc tranh cãi, một vị quan khác là Hoàng Quýnh, đứng dậy, mỉm cười:

- Ngày nay lại có người dám trái ý một vị đại thần như vậy.

Thật ra, thì ông Khải đúng. Ông vốn làm việc cẩn thận, xét đoán hồ sơ một cách kỹ càng. bộ Hình, ông hết sức thận trọng vì chức vụ, ông không dám coi thường tính mệnh, danh dự của con người. Bao giờ ông cũng xuất phát từ đạo công bằng (và lòng nhân ái) để tìm hiểu thực trạng. Ông luôn tìm cách gỡ tội cho phạm nhân. Khi thấy không gỡ được mới tìm lý do xác đáng để buộc tội. Vụ án này, ông dám bác ý kiến các quan Hữu tư, bác cả ý kiến Trương Đăng Quế, là vì ông đã đứng hẳn trên tư cách con người cầm cân pháp luật.

Cuối cùng, bản án đã được xét lại. Cũng phải công nhận rằng Trương Đăng Quế tuy có ý chuyên quyền, có phần ỷ vào tư cách bề trên của mình, nhưng cũng là người đứng đắn, biết phục thiện. Có lẽ câu nói của Vũ Phạm Khải đã làm cho ông phải suy nghĩ, phải nhớ đến sự tôn trọng pháp quyền. Ông đã trình bày ý kiến của ông Khải lên nhà vua. Nhà vua đã duyệt lại và chấp thuận theo ý ông Khải. Đa số các quan đã kính phục ông Khải vì hành động này (Xin xem thêm sách “Bút nhọn làm gươm”, truyện ký danh nhân của Vũ Ngọc Khánh, NXB Văn học 2002, nói rất kỹ về bản án này).

Xét án từ phải có những câu hỏi phản đề

Chuyện này cũng là một chuyện về tư pháp nhưng người xét xử là một ông vua. Nhà nước phong kiến của chúng ta dành cho vua một quyền uy tối thượng. Có những ông vua (có lẽ là đa số) thật ra cũng chẳng có tri thức gì về pháp luật mà cũng chẳng có lòng nhân ái gì, chỉ khoanh tay rũ áo: mọi việc hoàn toàn do các đình thần dâng sớ đề nghị chủ trương rồi nhắm mắt châu phê mà thôi! Nhưng cũng có những ông vua xử sự một cách khác, để biểu lộ sự thông minh, sáng suốt của mình, và cũng để đảm bảo sự công bằng của chế độ, của xã hội. Sau đây, là chuyện xử án của vua Minh Mệnh (làm vua 1820-1840).

Hồi đó, ở tỉnh Thừa Thiên có một vụ án mạng. Thủ phạm là một người con gái tên là Thị Hai, mới hai mươi tuổi. Cô này chưa lấy chồng, đang ở nhà với cha mẹ và với anh cả đã có vợ. Gia đình có sự xích mích, cô ta đã đánh chết người chị dâu tên là Thị Bụi. Biên bản khám nghiệm ghi rõ: người thiệt mạng bị thủng một con mắt, mất mấy lớp da đầu, đứt một lỗ tai, và mang rất nhiều thương tích trên khắp người. Huyện đường phụ trách việc khám nghiệm này tiến hành cuộc thẩm vấn, định án, gửi hồ sơ lên tòa án tỉnh. Tòa án tỉnh cũng y án này, quyết định cho Thị Hai bị giảo giam hậu (giam để chờ hình phạt thắt cổ). Tỉnh hoàn thành hồ sơ làm tờ tấu lên nhà vua, để xin nhà vua quyết định.

Nạn nhân bị chết thật là thương tâm, ai nhìn vào kẻ bị nạn cũng thấy đau lòng, đánh giá Thị Hai là tàn bạo, độc ác. Khi tra hỏi, Thị Hai cũng hoàn toàn nhận tội. Bắt phải thắt cổ để đền mạng cũng là một sự phán quyết công bằng. Dư luận đều đồng ý, tỉnh và huyện chắc chắn là nhà vua nhất định sẽ duyệt y và chỉ chờ lời phán quyết.

Án trên đây được trình lên vua Minh Mệnh. Nhà vua xem xét một thời gian rồi ban một lời dụ choáng người. Vua châu phê: Cho tha bổng Thị Hai, các quan huyện, tỉnh, bộ luận tội không công minh phải giáng cấp. Bộ Hình phải trình lên danh sách những người điều tra, xét xử để thi hành trừng phạt. Các quan từ huyện đến tỉnh, đến bộ đều ngã người ra vì sự quyết định này của vua. Họ đọc kỹ lời châu phê của vua:

 “Thị Hai là con gái 20 tuổi. Chị dâu là Thị Bụi cũng vào tuổi 23. Tuổi tác hai người không xê xích nhau là mấy, có thể nói là xấp xỉ bằng nhau. Bảo rằng có cuộc ẩu đả thể tất hai người phải bị thương như nhau, tại sao Thị Bụi lại phải mang thương tích nhiều như thế?

Ví dụ Thị Hai có khỏe mạnh và hung dữ mà ức hiếp chị dâu như thế, đến nỗi Thị Bụi không thể chống cự và tự vệ được, thế thì chồng Thị Bụi ở đâu? Nếu anh chồng sợ mang tiếng bênh vợ, coi vợ hơn em, thì cha mẹ chồng Thị Bụi ở đâu? Cứ cho là mẹ chồng có thể bênh con gái mà có thành kiến với con dâu, nhưng cha chồng phải giữ thái độ khách quan hơn, vậy thì cha chồng Thị Bụi ở đâu?

Và cho dầu cả cha mẹ chồng có thể quá bênh con gái, mà để con gái đánh chị dâu, thế thì gia nhân tôi tớ ở đâu, mà không chạy lại can hai cô chủ?

Rồi nếu như bọn này, cũng vì một lý do nào đó, mà không dám can, thế thì hàng xóm chung quanh sao thấy có sự hành hung, mà hành hung đến mức nghiêm trọng, không có người này, ắt có kẻ khác chạy tới can thiệp. Có lý đâu tất cả mọi người đành thúc thủ, chịu để cho Thị Hai hành hung đến thế, hành hung đến mức Thị Bụi bị đánh thủng cả mắt, đứt cả tai, toác mấy lớp da đầu và bầm tím cả thân mình mà chết?

Những sự việc trên chứng tỏ kẻ bạc mệnh bình sinh tất phải chua ngoa, lăng loàn lắm. Cho nên em dâu căm ghét đã đành, chồng cũng không ưa, ông bà già cũng ghét, gia nhân tôi tớ không ai động lòng, mà hàng xóm láng giềng cũng không một ai thương hại. Cuộc ẩu đả xảy ra mà không ai thèm can, ấy là chưa nói có thể có một số còn tham dự vào đấy nữa cũng nên. Vì cứ biên bản, thì thương tích nhiều và khác nhau như vậy, chưa hẳn đã do một người gây nên tất cả.

Nay, có lời cung khai của Thị Hai thì thị đã nhận tội lấy một mình, có lẽ vì sợ liên lụy đến cha mẹ, anh em, bà con làng xóm, hành vi ấy là cao thượng. Thị dẫu có tội, nhưng bấy nay bị tra khảo giam cầm đã nhiều, như thế cũng đã vừa. Nay phê cho tha bổng.

Còn các quan huyện, tỉnh, bộ tiến hành cuộc điều tra không chu đáo, luận tội thiếu công minh, phải giáng nhị cấp lưu. Bộ Hình phải trình lên những người can vào việc để thi hành trừng phạt”.

Chuyện kể thêm rằng, vua Minh Mệnh đã phán xét bản án này vào mùa thu, ông gọi đó là kỳ thu thẩm. Nhà vua có một thói quen là thường lựa mùa thu để duyệt các án từ mà bộ Hình trình lên. Ông cho rằng vào mùa thu, khí trời mát mẻ, trí óc con người nhờ ảnh hưởng của thời tiết, có thể trở nên sáng suốt, minh mẫn. Nếu xét việc vào các mùa hè, mùa đông thì dễ bị nóng nực, hoặc lạnh lẽo làm cho con người sinh ra tính khí hoặc thái độ bất thường. Khi xét định các án từ, vua lại tự đặt cho mình kỷ luật là chỉ dùng nửa khẩu phần trong mỗi bữa ăn.¡ n ít như vậy, có thể chưa đủ no, nhưng thân thể sẽ được nhẹ nhàng, tinh thần được yên tĩnh, do đó mà có đủ minh mẫn. Việc duyệt bản án của Thị Hai trên đây đã tiến hành vào thời kỳ mà nhà vua “thu thẩm”.

Cái kết luận về bản án Thị Hai của vua Minh Mệnh có đúng hay không; thì tùy ở mọi người cân nhắc. Chắc chắn là còn nhiều công việc về sau, như việc xử lý với bố mẹ chồng, chồng Thị Bụi, việc giải quyết những thắc mắc của bên bố mẹ, anh em họ hàng của Thị Bụi, ta không bàn đến. Nhưng rõ một điều là không giết thêm một mạng người nữa. Và nhất là bài học cho những người cầm cân pháp luật. Rõ ràng là theo Minh Mệnh, việc đi tìm đủ chứng cớ như làm việc khám nghiệm, xét mức độ của sự phạm tội dù có kỹ lưỡng đến đâu, vẫn còn phải biết đặt ra những câu hỏi phản đề để không những làm cho đạt lý mà còn phải thấu tình nữa. Còn thói quen của nhà vua, xử kiện theo mùa, đặt ra là kỳ thu thẩm, cũng chứng tỏ nhà vua hiểu rõ vấn đề, quan tâm đến những ảnh hưởng bên ngoài như thời tiết, không gian v.v.. Rõ ràng là thấu đáo và có tinh thần trách nhiệm. Rất ít người có trách nhiệm cầm cân pháp luật để biết chú ý đến các vấn đề ấy (Xin xem thêm sách: “Những vua chúa sáng danh trong lịch sử Việt Nam” của Vũ Ngọc Khánh, NXB Thanh Niên, H. 2007).

*     *

*

Những mẩu chuyện nhỏ trên đây có lẽ cũng cho ta thấy phần nào bước tiến của nền tư pháp nước ta những ngày còn sống dưới chế độ phong kiến. Giữ gìn pháp luật, mặc dầu trình độ xã hội chưa tiến bộ để có cách nhìn nhận hiện đại (bắt đầu với xã hội dân chủ phương Tây từ thế kỷ 18), song người thức giả vì tình hình cụ thể, vì trách nhiệm đã tiếp cận được với quan niệm mới, dù chưa có ý thức rõ rệt. y là một nét tiến bộ có ý nghĩa văn hóa rõ ràng. Chuyện kể tiếp theo sau lại cho ta thấy chất nhân văn rất rõ nét. Dù là xã hội bị ràng buộc bởi những quan niệm hạn chế, con người có ý thức nhân văn tuy độc quyền, võ đoán đến đâu, cũng có thể có những suy nghĩ, những thái độ ứng xử để không bị trở thành chuyên chế, vô nhân. Người ta có thể cho vua Minh Mệnh là khắc nghiệt, là độc tài, nhưng việc làm và những suy nghĩ của ông, chỉ trong bản án cụ thể này đã chứng tỏ một trình độ văn hóa, một trình độ nhân văn rất đáng trân tr?ng. /.

GS.Vũ Ngọc Khánh
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
Số 21 ((137) tháng 12/2008) 20/12/2008
Số 02 ((118) T3/2008) 08/01/2009
Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 

Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp điện tử được hoàn thành với sự giúp đỡ của Dự án Danida
    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08048487•Fax: 08048486•Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân