|
Về tổ chức các kỳ họp Quốc hội
|
||
|
Một trong các hình thức làm việc cụ thể là hội họp. Hầu như tất cả các cơ quan, các tổ chức trong quá trình hoạt động đều có hội họp. Qua các thống kê sơ bộ thì hội họp ở các cơ quan hành chính sự nghiệp nhiều hơn ở các đơn vị sản xuất, kinh doanh.
I. Một vài vấn đề về các cuộc họp thông thường
Một trong các hình thức làm việc cụ thể là hội họp. Hầu như tất cả các cơ quan, các tổ chức trong quá trình hoạt động đều có hội họp. Qua các thống kê sơ bộ thì hội họp ở các cơ quan hành chính sự nghiệp nhiều hơn ở các đơn vị sản xuất, kinh doanh. Điều đó cũng dễ hiểu vì hội họp không phải là sản phẩm của đơn vị sản xuất, kinh doanh. Trong nhiều trường họp càng hội họp nhiều, doanh nghiệp càng không có sản phẩm. Vì vậy đã có đồng chí lãnh đạo than phiền là có quá nhiều cuộc họp, nếu sau các cuộc họp mà xã hội có thêm nhiều tiền, nhiều gạo, nhiều của cải thì cứ họp thật nhiều vào, còn nếu không phải như thế thì dẹp bớt các cuộc họp để làm việc khác. Trái lại, ở các cơ quan hành chính sự nghiệp, trong nhiều trường hợp hội họp chính là làm việc, được coi là "sản phẩm", có những cơ quan còn coi là "sản phẩm chính" và trong báo cáo công tác kết quả hoạt động của các cơ quan này là một chuỗi các cuộc họp đã được thực hiện liên tiếp. Hiện nay có những phó chủ tịch huyện, phó chủ tịch tỉnh riêng đi họp đã không đủ thời gian (tuần chỉ có 5 ngày làm việc nhưng trong tuần lại có mười đến hai mươi cuộc họp, vì ngoài chức danh phó chủ tịch ra còn có 10 đến 20 chức trưởng, phó các ban kiêm nhiệm nữa). Ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây người ta cũng bàn nhiều về hiệu quả của các cuộc họp (các nhà kinh tế lao động Liên Xô đã đánh giá trong những năm 70 - 80 của thế kỷ trước có khoảng 30-40% các cuộc họp không xuất phát từ yêu cầu công việc, do đó nhiều cuộc họp vô bổ). Ở nước ta, trong cơ chế cũ người ta cũng ước tính thời gian hội họp chiếm khoảng 20 - 25% ngày công chế độ. Không ít các cuộc họp người chủ trì không chuẩn bị chu đáo về nội dung, thời gian họp không thích hợp và người dự họp đến phòng họp vẫn chưa biết họp về việc gì nên kết quả của cuộc họp rất kém, thậm chí không có kết quả, mà còn tiêu tốn nhiều thời gian và công sức. Vì vậy hiện nay trong nước cũng như trên thế giới người ta đang bàn luận nhiều đến việc tổ chức các cuộc họp. Trước hết người ta mổ xẻ tìm ra các nguyên nhân của hội họp nhiều mà hiệu quả ít. Có hàng trăm nguyên nhân khác nhau, nhưng một số nguyên nhân rất đáng lưu ý sau: - Cấp trên thường dội xuống cấp dưới hàng loạt các nghị quyết, quyết định, chỉ thị và yêu cầu phải triển khai ngay. Có trường hợp cùng một thời gian cơ quan, doanh nghiệp phải triển khai các nghị quyết của địa phương cùng với các quyết định của ngành và nhiều nghị quyết, quyết định khác nên phải họp liên miên. Trong trường hợp này, họp chủ yếu là để phổ biến, quán triệt (không có thảo luận, bàn bạc gì nhiều). Đôi khi trong một cuộc họp ngắn nhưng người chủ trì phổ biến đến hai, ba nghị quyết, quyết định hoặc chỉ thị. Vì họp cho có họp, đọc lướt cho xong nên sau cuộc họp hầu như không đọng lại thông tin gì nhiều trong mỗi người dự họp. Vì thế có dư luận rằng chưa "phổ" xong đã "biến" hết. - Không ít các cuộc họp thường đi đôi với "đánh chén". Người chủ trì lấy cuộc họp làm bình phong cho bữa liên hoan (không lẽ bày ra ăn uống mà không có lý do). Người dự họp coi việc đi họp là được "cải thiện", nhất là ở một số vùng nông thôn xa xôi. Vì thế có người rất mong có cuộc họp. Ở không ít cơ quan, ngoài chế độ cho phép ra, có một thời việc "đánh chén" được biến tướng thành "phong bì", vì vậy việc đi họp được coi là biện pháp tăng thu nhập. Có cơ quan, có cuộc họp làm cả hai (vừa phong bì, vừa đánh chén). Do vậy, có người chỉ mong có nhiều cuộc họp. Trong trường hợp này họp là "cái chính" bị biến thành "cái phụ"; phong bì và đánh chén là "cái phụ" thì lại trở thành "cái chính". - Không ít cuộc họp do người điều hành không chủ động, thiếu kiên quyết, không tính toán thời gian nên có tình trạng một số người ngẫu hứng nói lê thê, "cà kê dê ngỗng" đủ thứ chuyện trên trời dưới đất không liên quan gì đến nội dung cuộc họp mà không bị nhắc nhở. Lại có tình trạng chủ tọa nói hết cả thời gian, không ai còn thì giờ để nói thêm gì nữa. Vì thế người dự họp mặc kệ, thờ ơ, mơ màng chỉ quay qua, quay lại cho hết thời gian... Để khắc phục tình trạng này, nên tham khảo một quy định của Lê - nin khi Người chủ trì các cuộc họp của Hội đồng Dân ủy là bất cứ ai nếu phát biểu lần đầu thì được 10 phút, phát biểu bổ sung thì chỉ 5 phút, người nói sau chỉ nói những ý kiến mới hoặc có khía cạnh mới. Nhờ vậy tiết kiệm được rất nhiều thời gian. - Do các nguyên nhân cộng hưởng, một số cuộc họp ồn ào, mất trật tự, nói chuyện riêng, nghịch ngầm; kẻ nói không có người nghe. Hoặc là người có chức quyền biến cuộc họp thành buổi diễn thuyết của riêng mình, không còn thời gian nào để nhiều người có thể thảo luận. Hoặc họp quá dài, quá lâu, người họp cảm thấy không "bổ béo" gì, phát sinh tâm lý ai cũng muốn cho qua để tan họp (mặc dù còn nhiều chuyện chưa rõ "đầu cua, tai nheo" thế nào)… Làm gì để cuộc họp có hiệu quả? Đó là câu hỏi cần có lời giải. Một nhà tổ chức lao động khoa học của Liên Xô trước đây, F.E.Gie-ô-din-xki đã đưa ra hai vấn đề có tính nguyên tắc: Một là cuộc họp đó có xuất phát từ yêu cầu sản xuất, công tác hay không và có thật sự cần thiết không thì mới triệu tập họp. Hai là có phải tất cả những người đến dự họp đều cần cho cuộc họp hay không? Nếu không thì dù số người đó chiếm số đông, quá nửa cũng phải cho họ về để làm việc chuyên môn. Để từng bước nâng cao hiệu quả của hội họp, các nhà khoa học lao động đã đưa ra các vấn đề sau: 1. Vai trò quan trọng của người tổ chức và điều hành cuộc họp - Phải triệu tập đúng thành phần; nắm vững mục đích cuộc họp; nắm vững khối lượng công việc và tiến hành tương ứng với thời gian cho phép; nắm chắc yêu cầu phải đạt tới; có chuẩn bị những gợi ý, định hướng thảo luận; phát trước tài liệu (nếu cần). - Báo cáo phải rõ ràng, chốt lại được các vấn đề trọng tâm phải trao đổi; nếu chỉ là thông tin thì phải nhấn đậm các thông tin cần chuyển tải, truyền đạt để người nghe nắm bắt. - Người điều khiển thảo luận phải vui vẻ, lịch thiệp, cởi mở, sẵn sàng lắng nghe mọi ý kiến, hiểu cho được nội dung phát biểu của mỗi người để sàng lọc lấy ý hay; tránh phê phán ngay trực diện người đang nói hoặc lúc lúc lại nói chen ngang rất dài gây ức chế cho người phát biểu và khiến người khác nhụt chí. Đặc biệt là phải điều hành được các ý kiến phát biểu đúng nội dung và thời gian; khởi động nhanh khi mới bắt đầu thảo luận; điều chỉnh được những ý kiến lệch trọng tâm; khuyến khích, khơi dậy được các ý kiến còn tiềm ẩn. Điều hành theo đúng giờ đã định; kết luận các vấn đề hợp lý, đúng đắn và chính xác. - Nếu cuộc họp chỉ để lấy ý kiến thì người chủ trì, người lãnh đạo phải xác định nghe là chính, tránh tình trạng lái mọi ý kiến sang ủng hộ ý kiến riêng của mình dù nhiều người chưa đồng tình. 2. Các thành viên dự họp - Cần xem trước chương trình và các tài liệu của cuộc họp (nếu có), chuẩn bị các tài liệu riêng của mình phục vụ cho cuộc họp, tránh tình trạng dựa dẫm, bị động; phát biểu không có chuẩn bị, hoặc mua vui bằng chuyện tếu thay cho ý kiến phát biểu. - Ý kiến phát biểu phải đúng yêu cầu, đúng trọng tâm, có thể nêu vấn đề, lật đi, lật lại sự việc và ý kiến để tìm phương án hợp lý, chứng minh bằng lý luận và thực tiễn. Càng nói ngắn gọn, xúc tích, rõ ràng, dễ hiểu trong thời gian cho phép càng tốt. - Tập trung tư tưởng để đóng góp ý kiến, thảo luận; nghiêm túc trong khi họp, không biến mình thành nguyên nhân của sự lộn xộn, mất trật tự, không tự giải trí, giải lao trong khi đang họp, không thờ ơ, ngáp vặt, uể oải, ngủ gật, đi lại lộn xộn, nói chuyện ồn ào, làm việc riêng... II. Tổ chức các kỳ họp của Quốc hội Các kỳ họp của Quốc hội có nhiều điểm khác với các cuộc họp thông thường: - Quốc hội tiến hành các kỳ họp theo Luật tổ chức Quốc hội, còn các cuộc họp thông thường thì nói chung chưa được luật hoá. Luật tổ chức Quốc hội có hẳn một chương (chương V) trong đó quy định thời điểm họp, nội dung họp, dự kiến chương trình và quyết định chương trình họp, thành phần và khách mời dự họp. - Kỳ họp của Quốc hội - xét về thời gian - cho đến nay vẫn là dài nhất so với nhiều cuộc họp khác, vì Quốc hội chỉ có hai kỳ họp trong một năm (không làm việc thường xuyên, liên tục như nhiều nghị viện trên thế giới ),trong khi khối lượng công việc vô cùng lớn. - Trên giác độ nhà nước, kỳ họp của Quốc hội quyết định những vấn đề lớn lao nhất của đất nước trong từng thời kỳ; xét theo chức năng thì Quốc hội là cơ quan duy nhất lập hiến, lập pháp (không có cuộc họp thông thường nào quyết định được những vấn đề này). - Thành phần và số lượng thành viên dự kỳ họp Quốc hội luôn luôn ổn định (không thể co giãn như nhiều cuộc họp thông thường). Nội dung công việc trong các kỳ họp cũng ổn định (chỉ có cơ cấu mức độ công việc giữa kỳ họp đầu năm và cuối năm có khác chút ít). - Quốc hội tiến hành kỳ họp chính là làm việc, làm việc căng thẳng, cật lực. Vì những đặc điểm mang tính ổn định và nội dung, tính chất của kỳ họp nói trên mà hiệu quả (kết quả) kỳ họp phụ thuộc chủ yếu vào ba loại vấn đề lớn là việc chuẩn bị cho kỳ họp, điều hành kỳ họp và tinh thần làm việc của đại biểu Quốc hội. Chúng ta hãy xem xét từng loại vấn đề: 1. Việc chuẩn bị cho kỳ họp Đây là nhiệm vụ của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) được quy định tại khoản 2 Điều 7 Luật Tổ chức Quốc hội hiện hành. Việc chuẩn bị gồm hai khối công việc lớn là chuẩn bị nội dung và chuẩn bị các công việc hành chính. - Về nội dung, thông thường trong một kỳ họp của Quốc hội có hai phần công việc lớn được giải quyết, đó là thảo luận, quyết định các vấn đề kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và thảo luận, quyết định các vấn đề về luật pháp (thông qua các đạo luật, quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, ra nghị quyết về việc thi hành luật...). Quy trình công nghệ của việc chuẩn bị hai loại công việc này hiện nay là, các cơ quan của Quốc hội chuẩn bị trước và trình ra UBTVQH (từ một đến ba lần mỗi việc); UBTVQH xem xét cho ý kiến, nếu đạt được yêu cầu thì mới trình ra Quốc hội. + Chuẩn bị các vấn đề kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh: Chất liệu của "sản phẩm" này do hai nguồn cơ bản hợp thành. Một là kết quả giám sát của các Ủy ban, của Hội đồng Dân tộc của Quốc hội. Hai là kết quả triển khai các nhiệm vụ đó của Chính phủ. Nếu phạm vi giám sát rộng rãi (đề cập đến những nội dung cơ bản, trên những địa bàn chủ yếu) và các cuộc giám sát tương đối đủ về số lượng (mỗi Ủy ban khoảng hai cuộc trở lên nhằm vào những vấn đề then chốt, bức xúc) thì mới có khả năng khái quát và đánh giá sát, đúng tình hình, làm cơ sở cho UBTVQH thảo luận, quyết định. Nếu ngược lại, có quá ít các cuộc giám sát, lại chàng màng ở những việc râu ria, "hiếu hỉ, vui vẻ" là chính, thì sẽ không đánh giá đúng tình hình, việc thảo luận, quyết định của UBTVQH sẽ rất khó khăn. Về báo cáo kết quả triển khai thực hiện nhiệm vụ kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và ngân sách của Chính phủ cũng là vấn đề rất đáng quan tâm. Kinh nghiệm cho thấy, khi nào các báo cáo của Chính phủ đầy đủ mọi vấn đề và đều được đánh giá rõ ràng, chuẩn xác thì việc thảo luận của UBTVQH sẽ thuận lợi và quyết định sẽ chính xác hơn. Có một vài lần, một số thành viên UBTVQH đã có nhận xét là báo cáo của Chính phủ mới chỉ đề cập chủ yếu đến vấn đề kinh tế, trong đó cũng chỉ nói chủ yếu đến thu hút vốn đầu tư và tăng trưởng kinh tế. Vấn đề văn hóa, xã hội và các vấn đề khác quá mờ nhạt trong khi tình hình lại rất bức xúc. Báo cáo thẩm định cũng chỉ nói đến kinh tế và ngân sách. Như vậy có thể nói rằng, các báo cáo của Chính phủ (nhất là ở kỳ họp cuối năm) càng đầy đủ các thông tin cơ bản ở tất cả các lĩnh vực và càng phản ảnh rõ ràng, cụ thể rồi nâng lên tầm khái quát (những cái ưu, những cái khuyết) thì việc chuẩn bị của UBTVQH đưa ra kỳ họp Quốc hội càng tốt, càng có hiệu quả hơn. Trong việc này, Ủy ban kinh tế và ngân sách (trước đây), Ủy ban Kinh tế; Ủy ban tài chính - ngân sách (hiện nay) có vai trò cực kỳ quan trọng. Tuy nhiên, báo cáo của Chính phủ là báo cáo kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh thì việc thẩm định không chỉ dừng lại ở kinh tế và ngân sách, mà một số Ủy ban khác cũng phải thẩm định những nội dung tương ứng (kể cả khi trình ra kỳ họp của Quốc hội chứ không chỉ trong việc chuẩn bị của UBTVQH). + Việc chuẩn bị các dự án luật cho kỳ họp Quốc hội: Một dự án luật có thể đưa ra kỳ họp Quốc hội được hay chưa phụ thuộc vào hai vấn đề lớn là chất lượng dự thảo luật và chất lượng thẩm tra của cơ quan thẩm tra. Về chất lượng soạn thảo dự án luật, ngoài việc thực hiện đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ra, muốn có một dự thảo luật tốt trước hết ban soạn thảo phải thật sự khách quan, đứng trên lợi ích của toàn xã hội, chứ không vì lợi ích cục bộ và phải quy tụ được trí tuệ của nhiều chuyên gia giỏi về các lĩnh vực có liên quan. Bởi vì ở mỗi ngành, mỗi lĩnh vực, chuyên gia ở đó có thể có kiến thức chuyên môn sâu, có thực tế phong phú nhưng chưa chắc đã có đầy đủ các kiến thức của nhiều ngành luật có liên quan đến dự án luật. Vì vậy ít nhất phải tập hợp được ba loại chuyên gia, đó là chuyên gia pháp luật chuyên ngành, chuyên gia các ngành luật có liên quan và chuyên gia kỹ thuật lập pháp. Khi đã có dự thảo luật thì phải chuẩn bị tờ trình. Đây là một tài liệu rất quan trọng, nó có ý nghĩa như một bản thuyết trình phân tích đầy đủ tính khoa học, tính thực tiễn, cách thiết kế các chương, điều; những nội dung cơ bản, những vấn đề còn có ý kiến khác nhau... Đáng chú ý là vừa qua có một số dự án luật, tờ trình rất sơ sài (chỉ nói đã dự thảo bao nhiêu lần, có mấy chương, mấy điều) không nói được những vấn đề cần tập trung cho ý kiến, thậm chí tránh né những vấn đề phức tạp. Trong trường hợp này cơ quan thẩm tra phải xử lý tất cả các khuyết tật đó, giúp cho UBTVQH giải quyết tối đa các tồn đọng trước khi đưa ra kỳ họp Quốc hội. Về nguyên tắc, phải thực hiện đúng khoản 5 Điều 26 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành là "Tờ trình nêu rõ sự cần thiết phải ban hành, mục đích, yêu cầu, phạm vi, đối tượng và nội dung chính của dự án, những vấn đề cần xin ý kiến chỉ đạo và những vấn đề còn có ý kiến khác nhau;...". Về việc thẩm tra dự thảo luật, báo cáo thẩm tra phải thể hiện rõ các chính kiến bằng các lập luận có căn cứ khoa học (không tránh né, không dung hòa). Có như vậy mới giúp cho UBTVQH quyết định được chính xác. Ban soạn thảo phải thẳng thắn tiếp thu những vấn đề hợp lý, rõ ràng, khách quan thì mới chỉnh sửa tốt dự án luật (theo quy định hiện hành thì cơ quan thẩm tra có vai trò tham mưu giúp UBTVQH và Quốc hội, còn giá trị pháp lý của các ý kiến thẩm tra đối với cơ quan soạn thảo thì chưa được quy định rõ). Kinh nghiệm cho thấy càng chuẩn bị kỹ, càng rà soát tỉ mỉ từng chi tiết và mỗi vấn đề khúc mắc đều có "một cơ số" tài liệu giải trình cần thiết, thì khi trình càng thuận lợi và càng giảm được hao phí thời gian tranh luận. - Về việc chuẩn bị các công việc hành chính, ngoài những việc đã được quy định trong Luật tổ chức Quốc hội thì có một vấn đề thường xảy ra là thời gian trình bày các báo cáo trước Quốc hội hoặc bị kéo dài (lấn sang thời gian của việc khác), hoặc là dư thừa, dang dở thời gian (rất khó tiếp vào việc khác). Vì vậy trong công tác chuẩn bị phải thống kê rất rõ số lượng báo cáo phải đọc, số trang của từng báo cáo và tổng số trang của tất cả các báo cáo. Thông thường thời gian đọc mỗi trang in khổ A4 từ 2,5 đến 3 phút. Từ "định mức" đó mà xác định thời gian cần thiết để đọc toàn bộ các văn bản. Việc gửi tài liệu trước cho đại biểu là hết sức cần thiết. Ở các cuộc họp thông thường, đọc trước tài liệu được coi là một kinh nghiệm tốt thì đối với kỳ họp của Quốc hội, với nhiều việc lớn trong một thời gian dài, thì đại biểu có được một lượng thông tin trong đầu bằng cách nghiên cứu tài liệu trước khi vào họp là cực kỳ cần thiết và bổ ích. 2. Việc điều hành kỳ họp Không chỉ các phiên họp toàn thể mà tất cả các phiên làm việc ở tổ, ở đoàn, việc điều hành đều có vai trò chi phối kết quả phiên họp. Như vậy, ngoài chủ toạ phiên họp toàn thể còn có 22 tổ trưởng và hơn 30 tổ phó của 22 tổ góp phần quan trọng vào kết quả kỳ hợp (trừ Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, tổ và đoàn là một, còn các tổ khác mỗi tổ có từ 2 đến 5 đoàn. Như vậy tổ có quy mô lớn hơn đoàn). Tại các phiên họp toàn thể trong các kỳ họp vừa qua, việc điều hành có rất nhiều tiến bộ, cần được phát huy. Trước hết, từ chủ tịch đến các phó chủ tịch đều nắm khá chắc nội dung, thông tin về công việc được phân công điều hành trong phiên họp. Việc này nói thì đơn giản nhưng với những việc lớn như thảo luận kinh tế - xã hội, thông qua những đạo luật khó, những phức tạp bất ngờ của chất vấn - trả lời chất vấn... thì việc thâu tóm thông tin, lượng ước trước tình huống là cực kỳ khó khăn, song chủ tọa các phiên họp đã thực hiện khá tốt. Hai là, với tinh thần thực sự cầu thị, các vị chủ tọa phiên họp đã tạo ra được bầu không khí ngày càng phát huy dân chủ, thẳng thắn, với các ý kiến nhiều chiều, nhiều khía cạnh đã làm cho các vấn đề được lật đi, lật lại để xem xét toàn diện. Ba là, bên cạnh việc chỉ định phát biểu đồng đều, chủ tọa còn biết chỉ định những đại biểu có chuyên môn sâu về một lĩnh vực để góp phần giải tỏa thông tin về những vấn đề khó, ít người am tường. Bốn là, với sự nhạy cảm, chủ tọa ngày càng nhuần nhuyễn hơn khi lượng ước mức độ ý kiến, mức độ cần thảo luận cho mỗi vấn đề và khi nào thì kết thúc được. Vì vậy, tuyệt đại bộ phận thời điểm kết thúc và kết luận các vấn đề được đông đảo đại biểu đồng tình. Năm là, các ý kiến kết luận ngày càng có độ chắc chắn, chính xác hơn và hợp lý hơn. Song việc điều hành trong các phiên họp toàn thể cũng còn có những điểm phải tiếp tục hoàn thiện. Trước hết, rất cần chủ tọa phải nhắc nhở đại biểu, các đoàn đại biểu Quốc hội bảo đảm quân số đông đủ trong các phiên họp, đó là trách nhiệm của đại biểu (sẽ nói sau) nhưng có rất nhiều việc quan trọng phải quyết định bằng phiếu, bấm nút mà tỷ lệ đạt không cao làm phát sinh những suy nghĩ không chỉ trong Quốc hội, mà còn cả trong dư luận nhân dân (vì tỷ lệ so sánh là so với tổng số đại biểu chứ không so với số đại biểu có mặt). Hai là, khi thảo luận thông qua luật, cần theo dõi chặt chẽ hơn nữa các ý kiến của đại biểu để yêu cầu các cơ quan chức năng giải trình đầy đủ (do giải trình không hết các ý kiến, kiến nghị nên nhiều ý kiến phải nói đi nói lại nhiều lần, tốn thêm thời gian). Thứ ba là việc lựa chọn các thành viên Chính phủ, người đứng đầu các cơ quan nhà nước trả lời chất vấn, hiện đang có nhiều ý kiến mà tập trung nhất là cử tri muốn lần lượt được nghe các bộ trưởng giải trình tất cả các vấn đề quan trọng trong đời sống xã hội, chứ không chỉ một vài việc thường xuyên tập trung vào vài ba bộ như một số kỳ họp. Ví dụ cử tri ven biển rất muốn biết chủ trương và lượng vốn đầu tư của Nhà nước cho việc đánh bắt cá xa bờ để so sánh với thực tế của địa phương mình đang có nhiều việc rắc rối. Việc khám chữa bệnh cho người nghèo, khám chữa bệnh bằng thẻ bảo hiểm y tế kết quả ra sao. Vì sao tồn đọng các vụ việc về đất đai và việc vi phạm luật đất đai lại nhiều như vậy... Nên chăng mỗi kỳ họp, UBTVQH nên lấy ý kiến của các đoàn đại biểu Quốc hội để biết cần phải trả lời những câu hỏi nào, những câu hỏi đó đúng vào ngành nào, bộ nào thì người đứng đầu cơ quan đó phải trả lời (không nên chỉ định tập trung vào một số bộ, ngành như vừa qua). Đại biểu hỏi thêm chỉ nên hỏi để làm rõ câu hỏi đã được trả lời, không nên đặt ra câu hỏi hoàn toàn mới (dễ làm cho người trả lời bị động hoặc lạc đề...). Mặt khác, phải đưa chất vấn thành hoạt động thường xuyên ở các phiên họp của UBTVQH để kịp xử lý những vấn đề cấp bách, bức xúc. Nghĩa là thực hiện đầy đủ hơn hoạt động chất vấn theo quy định của Luật tổ chức Quốc hội. Các phiên làm việc ở tổ, đoàn cần khắc phục những hiện tượng một số đại biểu coi sinh hoạt ở tổ, đoàn không quan trọng bằng phiên họp toàn thể, nên dễ tranh thủ đi làm việc khác; chưa triệt để tận dụng thời gian (nhất là buổi làm việc cuối tuần); giống như các cuộc họp thông thường, một số người cho rằng ở đây chỉ có "ta với ta" nên hay nói chuyện riêng, hay làm việc khác vì ỷ lại đã có chủ tọa điều hành và thư ký ghi rồi. Ở đầu buổi thảo luận cũng thường có thời gian trống, có khi đến 20 phút. Người điều khiển (tổ trưởng, tổ phó) nên nghiên cứu kỹ hơn vấn đề cần thảo luận để có thể có các gợi ý, hoặc thực hiện "phát hỏa" đầu tiên (nếu cần thiết). Nói rộng hơn là có thể tham khảo kinh nghiệm của người tổ chức và điều hành các cuộc họp thông thường (ở phần I). 3. Tinh thần làm việc của các đại biểu Quốc hội Tinh thần, thái độ làm việc của đại biểu Quốc hội có tác động toàn diện, sâu sắc đến kết quả kỳ họp. Yêu cầu đối với các đại biểu trong mỗi kỳ họp cũng không khác gì nhiều đối với các thành viên trong các cuộc họp thông thường. - Phải đọc dần các tài liệu đã được gửi tới trước (báo cáo kinh tế - xã hội, các dự án luật...) để hiểu được nội dung, có thể tham gia thảo luận; chuẩn bị các tài liệu của địa phương mình, ngành mình có liên quan đến những vấn đề đó (hiện nay vẫn còn tình trạng một số đại biểu không ngó gì đến tài liệu, ôm nguyên cả bọc đã nhận được về kỳ họp, thậm chí, có đại biểu còn quên không mang theo. Như vậy việc gửi trước vừa tốn cước phí, vừa tốn công). Đọc, hiểu được, tranh luận được đòi hỏi đại biểu phải hết sức cố gắng, tranh thủ thời gian, vì đây là những vấn đề khó, có độ phức tạp cao, có khối lượng lớn, số lượng văn bản tất cả các loại, mỗi kỳ hợp có khoảng 1.500 đến 3.000 trang (đây cũng là điểm khác với các tài liệu trong các cuộc họp thông thường). Trong quá trình diễn biến của kỳ họp, tiếp tục nghiên cứu các tài liệu còn lại, các tài liệu bổ sung. - Chuẩn bị kỹ các ý kiến để tham gia thảo luận, đặc biệt là những vấn đề, những lĩnh vực mà mình hiểu biết sâu, có nhiều thông tin có thể trao đổi. Về việc này, đã có nhiều đại biểu chuẩn bị rất công phu, một số đại biểu viết thành bài. Nhưng có một số tình tiết cần khắc phục là có đại biểu phát biểu sau, vì ý kiến đã viết thành bài sẵn nên vẫn đọc nguyên xi các thông tin đã "bão hòa", do đó mức độ trùng lặp khá cao. Vì vậy, đại biểu phải theo dõi liên tục để điều chỉnh ý kiến của mình cho hợp lý, nâng cao hiệu quả đóng góp của mình. Một hiện tượng khác cũng cần lưu ý là có những đại biểu rất ngại phát biểu hoặc ngược lại có đại biểu việc gì cũng muốn nói một vài lần (mặc dù thông tin cũng không thật "đắt giá", bổ ích lắm). Vấn đề được đặt ra là trách nhiệm, mức độ và hiệu quả của ý kiến phát biểu. Có lẽ nên tham khảo "nguyên tắc": với thời lượng được phát biểu tối thiểu mà chuyển tải được thông tin bổ ích tối đa; nói ngắn mà không thiếu, nói dài mà không thừa những thông tin cần nói. - Đại biểu phải tham dự đầy đủ mọi phiên họp, vì đây là vấn đề thuộc tiêu chuẩn đại biểu (có điều kiện hoạt động cho Quốc hội). Ở một vài kỳ họp trước, có phiên họp toàn thể vắng ngót trăm đại biểu là điều rất khó giải thích với nhân dân. Có lẽ, đại biểu chỉ nên vắng mặt trong trường hợp bất khả kháng. Để đạt kết quả cao, đại biểu cần tập trung toàn bộ tâm trí, sức lực cho các công việc của kỳ họp. Đại biểu nên hết sức tránh những tình trạng, những tư thế thiếu thẩm mỹ, có khi vô tình bị "trình diễn" trên màn hình trông rất phản cảm…
|
|
|||||||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||||||










