Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Chủ nhật, 12/02/2012, 06:42(GMT+7)
 
Tiêu điểm

Thề và thực hiện lời thề là hình thức "Nói đi đôi với làm" cần được phát huy
Sống là đấu tranh, là một sự vươn tới của mỗi người, của tập thể cũng như cả cộng đồng đến những giá trị cao đẹp về chân, thiện, mỹ, thông qua sự ý thức của họ về hạnh phúc, danh dự, vinh quang, trách nhiệm, bổn phận... đối với bản thân và đối với cộng đồng, xã hội.

 

1. Sống là đấu tranh, là một sự vươn tới của mỗi người, của tập thể cũng như cả cộng đồng đến những giá trị cao đẹp về chân, thiện, mỹ, thông qua sự ý thức của họ về hạnh phúc, danh dự, vinh quang, trách nhiệm, bổn phận... đối với bản thân và đối với cộng đồng, xã hội. Để đạt tới những điều đó cần có những chuẩn mực cho hành vi con người trong mỗi tình huống nhất định của cuộc sống, nhằm tạo ra trật tự cần thiết, tạo điều kiện và định hướng cho sự phát triển xã hội để chăm chút và phát huy những cái tốt, cái đẹp; hạn chế và loại trừ dần những cái xấu, cái có hại cho mỗi cá nhân và cho cả xã hội. Các chuẩn mực cho hành vi con người có rất nhiều như chuẩn mực pháp luật, đạo đức, tôn giáo, chuẩn mực của các tổ chức phi nhà nước, trong đó, chuẩn mực đạo đức và pháp luật là những chuẩn mực được xem là quan trọng nhất. Hai loại chuẩn mực này luôn gắn bó mật thiết, hỗ trợ cho nhau trong việc ngăn cản, loại trừ những hành vi có hại, hình thành những hành vi có ích, phù hợp với lịch sử phát triển xã hội trong từng giai đoạn. Nếu như chuẩn mực pháp luật có tính chất hiện thực, là tiêu chuẩn, khuôn mẫu cho hành vi của con người trong những mối quan hệ giữa các thành viên trong xã hội, thì chuẩn mực đạo đức một hiện tượng hội phức tạp hơn, có tác dụng chi phối, hình thành các hành vi của con người không chỉ trong quan hệ với người khác, với cộng đồng mà còn với chính bản thân mình. Nói cách khác, đạo đức liên quan đến vấn đề ở đời và làm người, gồm tất cả những quan niệm, quan điểm, tư tưởng, quy tắc về "đạo làm người"; phản ánh vị trí, vai trò, trách nhiệm của mỗi người đối với người khác, với cộng đồng và với chính bản thân mình. Có thể nói, đạo đức không chỉ là yêu cầu, đòi hỏi của cộng đồng, xã hội đối với hành vi của mỗi cá nhân, mà còn là sự ý thức của mỗi người về bản thân, về nghĩa vụ, bổn phận của mình đối với người khác, đối với xã hội và đối với chính bản thân mình. Do vậy, mỗi người chúng ta phải thường xuyên chăm lo tu dưỡng đạo đức giống như việc rửa mặt hàng ngày, bởi “đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong[1].

2. Một trong những nguyên tắc của đạo đức người cách mạng là “nói đi đôi với làm”, phải làm gương cho mọi người noi theo. Trong suốt cuộc đời mình, Hồ Chí Minh đã luôn giáo dục cán bộ, đảng viên, công chức nhà nước; và chính bản thân Người đã thực hiện điều đó một cách nghiêm túc và đầy đủ nhất. Hồ Chí Minh luôn nêu tấm gương sáng về đạo đức cách mạng của người chiến sĩ cộng sản cho mọi người học tập và làm theo. Người cho rằng, mỗi cán bộ, đảng viên, công chức cần phải luôn ghi nhớ: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước[2]. Từ đó cho thấy, sự gương mẫu của những người có chức vụ, quyền hạn, những cán bộ, công chức nhà nước trong lời nói và trong việc làm hàng ngày có ảnh hưởng rất lớn tới quần chúng nhân dân, tới công việc thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, hạnh phúc, văn minh. Vấn đề nói đi đôi với làm của đội ngũ đảng viên, cán bộ, công chức Việt Nam cần phải có được một sự bảo đảm mạnh mẽ hơn. Theo chúng tôi, trong giai đoạn hiện nay không gì khác hơn là hình thức thề và thực hiện lời thề.

Thề hay còn gọi là tuyên thề, hứa, cam đoan, cam kết… là một sự khẳng định về mục đích, ý nghĩa, giá trị… đối với những việc đã, đang hoặc sẽ làm của cá nhân hay tập thể trước bản thân, trước cộng đồng. Thề và thực hiện lời thề là một biểu hiện đạo đức cao đẹp của con người, đó cũng là đức tính “nói đi đôi với làm” mà mỗi chúng ta cần nghiêm túc nhìn nhận và thực hiện. Người ta thường thực hiện việc thề khi gặp phải nhiệm vụ trọng đại, khó khăn, những thử thách cam go, khó vượt qua hay trước những sự kiện có tính chất bước ngoặt đòi hỏi phải có một sự nỗ lực, kiên trì, quyết tâm hơn… Thề là một sự điều chỉnh có sự kết hợp cả yếu tố bên trong, xuất phát từ niềm tin nội tâm, sự ý thức về trách nhiệm, bổn phận của bản thân và cả những tác động của các yếu tố ngoại cảnh bên ngoài, sự đòi hỏi của chủ thể khác, của tập thể, cộng đồng... Thề giống như một thứ nội lực thúc đẩy mỗi người, mỗi tập thể bằng suy nghĩ, hành động của mình quyết tâm thực hiện bằng được một việc gì đó đối với người khác, đối với tổ chức, quê hương, đất nước hoặc là đối với chính bản thân mình, đôi khi bất chấp cả những khó khăn, nguy hiểm có thể xảy đến đối với bản thân, tổ chức hoặc những người thân của mình… Thề không chỉ củng cố niềm tin, quyết tâm cho người thề, mà còn củng cố sự tin tưởng, niềm hy vọng của các chủ thể khác vào chủ thể thực hiện lời thề. Lời thề thường được xem như vừa là sự tự hứa với bản thân, vừa là sự cam kết với những chủ thể khác như với những người thân yêu của mình (với cha, mẹ, với họ hàng, với bạn bè, với người yêu…), với tổ chức (với nhà nước, với đảng, đoàn..), với các đấng linh thiêng (với trời cao, với đất dầy, với Chúa, thánh thần…). Do vậy, thề vừa mang tính xã hội, vừa mang tính cá nhân. Dưới giác độ xã hội, thề là lời hứa danh dự của người thề với các thành viên khác trong cộng đồng, xã hội; thể hiện thái độ, tình cảm, sự đánh giá của chủ thể thề về những việc sẽ làm, trước sự chứng kiến của các chủ thể khác. Một lời thề được đưa ra, có thể được cộng đồng cho là nghiêm túc, khen ngợi, hoặc cũng có thể chỉ là lời nói cho vui, không có giá trị, không được mọi người để ý hay coi trọng. Dưới giác độ cá nhân thì thề là tự hứa, tự nhủ đối với bản thân về những suy nghĩ, về những việc làm của bản thân trong quá khứ hoặc sẽ làm trong tương lai về những gì mình cho là đúng, là phù hợp hay không đúng, không phù hợp. Sự đánh giá của cá nhân và của xã hội về một lời thề nào đó là đúng đắn, nghiêm túc hay không đúng đắn, không nghiêm túc có thể thống nhất mà cũng có thể không thống nhất, nhất là đối với những việc sẽ được làm trong tương lai. Bởi những lời thề như vậy cần phải được thực tiễn và thời gian kiểm nghiệm.

Lời thề cũng có thể thực hiện được ngay tức thì, song cũng có trường hợp phải sau một thời gian rất dài phấn đấu bền bỉ, trải qua nhiều thử thách, khó khăn, nguy hiểm mới có điều kiện để thực hiện. Nghĩa là người ta có thể thề khi đã có các điều kiện để thực hiện được lời thề và kể cả khi không có hoặc chưa có các điều kiện để thực hiện chúng. Khi này, lời thề như là một động lực hay mục tiêu để phấn đấu vươn tới, đạt được của mỗi cá nhân, tập thể hay của cả cộng đồng.

Trong thực tế, nhiều người vì lời thề danh dự của mình mà đã phấn đấu vượt qua mọi gian khổ, thử thách khốc liệt và đã đạt được mục đích mong muốn của mình, làm rạng danh quê hương, đất nước, đã đạt được những thành tựu lớn lao trong việc lãnh đạo, trong quản lý, trong lao động sáng tạo, trong sản xuất, kinh doanh, trong phát minh, sáng chế, trong nghệ thuật… Và cũng rất nhiều người, vì lời thề mà đã bảo vệ được công lý, lẽ phải, không làm những việc xấu, những việc đồi bại, có hại đối với người khác; vì lời thề mà nhiều người đã không dính vào hoặc từ bỏ được những tệ nạn xã hội, giữ được lòng chung thuỷ, sự trong sạch của mình… Như vậy, có thể thấy là thề có tác dụng rất tích cực đến việc hình thành nhân cách và thực hiện các hành vi có ích của các chủ thể đối với bản thân và với xã hội. Ngược lại, cũng có nhiều người thề, hứa cho vui hoặc với mục đích lừa gạt những người khác, lừa gạt tập thể. Thông thường thì những ai không tin tưởng vào năng lực của mình hoặc với động cơ không trong sáng thì không dám thề hoặc ngượng ngùng, xấu hổ khi phải thề.

Việc thề trong nhiều trường hợp là do sáng kiến của chính chủ thể thề (chủ thể tự nói lên, viết lên những điều mình muốn thề (thực hiện). Trong một số trường hợp khác, việc thề là do những chủ thể khác yêu cầu vì chưa hoặc không tin tưởng lắm vào người thề như người thân, bố mẹ bắt con phải thề, người yêu yêu cầu thề, tổ chức buộc phải cam kết… Hình thức thề có thể được thực hiện thông qua những lời nói bình thường không cần nghi thức, song cũng có trường hợp nó được thực hiện thông qua văn bản như quyết tâm thư, với những nghi thức thiêng liêng, trang trọng như trước bàn thờ tổ tiên, trước cờ của tổ chức, trước trời đất…

Nghi lễ thề thường được tiến hành trước những sự kiện trọng đại hoặc có tính chất bước ngoặt đối với số phận, thậm chí là tính mạng con người như thề trước khi ra mặt trận; thề khi rời xa Tổ quốc, quê hương để làm một việc gì đó; thề khi được kết nạp vào làm thành viên một tổ chức nào đó; thề khi phải thực hiện một nhiệm vụ quan trọng, thiêng liêng, cao cả; thề khi đảm nhiệm một chức vụ quan trọng như làm nguyên thủ quốc gia (khi nhậm chức); thề để xét xử công tâm khi làm thẩm phán; thề để khẳng định những thông tin mình nói ra là đúng sự thật, không bịa đặt, thêm bớt khi làm chứng trong các phiên toà hay một vụ việc nào đó; các vận động viên thường thề thi đấu trung thực, cao thượng; các trọng tài thề công tâm, chính xác khi đánh giá, chấm điểm và nhiều trường hợp khác nữa.

Nhiều lời thề mang tính chất tích cực, có lợi cho bản thân hoặc tổ chức, quê hương đất nước như thề quyết tâm giải phóng đất nước khỏi những kẻ xâm lược, thề phấn đấu để cải tà, từ bỏ con đường tội lỗi, quy chính để làm ăn lương thiện…, song cũng có những lời thề chứa đựng nội dung tiêu cực, có hại cho xã hội như thề sẽ trả thù vì bị xúc phạm hay không tha thứ, giải quyết cho ai một vấn đề gì đó trong khi theo đạo lý thì nên hoặc theo quy định của pháp luật thì phải làm việc đó…

Lời thề không có tính chất bắt buộc phải thực hiện, cho nên nhiều người sau khi thề đã không thực hiện lời thề của mình. Mặc dù không tồn tại các biện pháp bảo đảm thực hiện lời thề nhưng việc giữ lời thề, thực hiện lời thề có ảnh hưởng rất lớn đến danh dự, niềm tin, lòng tự trọng của người thề. Thề sẽ tạo thêm quyết tâm, nghị lực, ý chí cho chủ thể thề để thực hiện tốt công việc nào đó, đồng thời cũng là cơ hội để họ thể hiện mình với môi trường, với những người xung quanh. Đồng thời lời thề danh dự còn có ảnh hưởng tới niềm hy vọng, sự tin tưởng của tổ chức, của những người khác vào chủ thể thề. Nghi lễ thề và thực hiện lời thề cũng chứng tỏ lòng trung thành của chủ thể thề với những chủ thể tiếp nhận lời thề.

Trong thực tế không ít người nói nhưng không làm, thề nhưng lại “nuốt” lời thề, nhiều người bị lên án vì không thực hiện lời thề (không nghiêm chỉnh thực hiện những gì đã thề), nhưng đa số những người thề thường giữ lời thề mặc dù đã phải trải qua nhiều khó khăn, hy sinh, mất mát, thậm chí không ít người đã chết vì lời thề, nhiều người đã tự trừng phạt mình vì đã không thực hiện được những gì đã thề…

Lời thề thường được bảo đảm thực hiện bằng niềm tin và sức mạnh của chính bản thân người thề, trong một số trường hợp còn có sự khích lệ bằng dư luận xã hội và các biện pháp mang tính chất xã hội. Trong thực tế cuộc sống có nhiều trường hợp một số người bị thách đố xem có dám thề không vì những người khác không tin vào những gì người đó nói hoặc làm và nhiều người đã không dám thề vì họ đã hoặc đang hoặc sẽ làm không đúng như những gì họ phải thề.

Khi thực hiện được lời thề người ta sẽ cảm thấy sung sướng, mãn nguyện, tự hào vì đã đạt được, đã làm được những gì mình đã thề (đời chỉ vui khi giữ trọn câu thề), đồng thời cũng củng cố được niềm tin, tình cảm, sự ghi nhận, biết ơn, sự kính trọng của tổ chức, cộng đồng vào chủ thể đã thực hiện lời thề. Lời thề được thực hiện cũng chứng tỏ, năng lực, nghị lực và lòng trung thành, những nỗ lực, những hy sinh phấn đấu của chủ thể thề.

Như vậy, thề có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách, đạo đức, lối sống của mỗi cá nhân hoặc của cả cộng đồng. Nó là những mục tiêu để con người phấn đấu thông qua việc rèn luyện, tu dưỡng nhân cách, tiến hành các hoạt động sản xuất, chiến đấu, học tập…trong cuộc sống hàng ngày. Thề là một yếu tố của đạo đức và là một bộ phận quan trọng của đời sống tinh thần xã hội.

Thề là một trong những biện pháp quan trọng để củng cố niềm tin, sự quyết tâm của con người trong việc phấn đấu để thực hiện được những việc có ích, góp phần giữ gìn, nâng cao truyền thống gia đình, dòng họ, tổ chức cộng đồng và xã hội, qua đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước vì hạnh phúc của con người.

3. Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta đang tập trung xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, vị thế của pháp luật ngày càng được chú trọng hơn, song không được xem nhẹ việc củng cố nâng cao đạo đức xã hội, đạo làm người của mỗi cán bộ, công chức nhà nước, mỗi công dân. Bởi những chuẩn mực đạo đức luôn có tác dụng giáo dục nhân cách, lối sống cho mỗi người theo tinh thần mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người. Nhờ có đạo đức, các hành vi trái những quy tắc sinh hoạt chung của cộng đồng được hạn chế, trật tự xã hội được ổn định, quan hệ giữa người với người được đảm bảo bằng tình thương yêu đồng loại, bằng sự đoàn kết, gắn bó, đùm bọc lẫn nhau, ngày càng trở nên nhân đạo và nhân văn hơn. Khi đời sống xã hội ngày càng phát triển phong phú, đa dạng hơn thì việc điều chỉnh hành vi con người càng cần phải đa dạng, phong phú hơn. Chú trọng đến pháp luật còn đồng thời phải củng cố các công cụ điều chỉnh khác như tập quán, tín điều tôn giáo, dư luận xã hội và cả yếu tố thề, hứa, cam kết của mỗi người đối với những công việc mình đã hoặc sẽ làm để củng cố thêm tinh thần trách nhiệm của mỗi người đối với hành vi của mình vì lợi ích của cộng đồng. Việc tận dụng các công cụ điều chỉnh khác luôn theo định hướng là gạn đục, khơi trong, phát huy những điểm hợp lý, sự tốt đẹp, có ích và loại bỏ những quy định có hại, những quy định không còn phù hợp với xã hội văn minh hiện nay nhằm hướng tới chân, thiện, mỹ và đương nhiên luôn tôn trọng tính tối cao của luật trong một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Trên thế giới, trong một số hoạt động nhà nước nghi thức thề vẫn được duy trì và có tác dụng rất tốt đối với việc điều chỉnh hành vi của các chủ thể thề. Chẳng hạn, nguyên thủ quốc gia khi nhậm chức luôn tuyên thề trung thành với Tổ quốc, phấn đấu vì hạnh phúc của nhân dân…; những người làm chứng trong các phiên toà thề trung thực, chỉ nói sự thật trong việc cung cấp thống tin để đảm bảo tính khách quan, chính xác trong hoạt động xét xử; Thẩm phán luôn thề công minh, trung thực trong xét xử; chủ thể nộp thuế cam kết là tính đúng, tính đủ, không gian lận trong nộp thuế; người làm luận án tiến sĩ phải cam đoan là nội dung bản luận án do mình viết ra không có sự sao chép của người khác; người khai lý lịch hoặc hồ sơ để được học hay được làm việc trong các cơ quan nhà nước phải cam đoan đó là sự thực và phải chịu trách nhiệm về những gì mình đã khai...

       Việc thề và nghi thức thề ở Việt Nam hiện nay thường chủ yếu được duy trì và thực hiện trong các tổ chức xã hội như tuyên thề khi được kết nạp vào Đảng, Đoàn, Đội… hay thề khi thi đấu thể thao… còn trong các hoạt động nhà nước thì rất ít và thường không có tác dụng nhiều. Chẳng hạn, trong các bản khai lý lịch cũng có phần cam đoan là khai đúng sự thật, nhưng sau đó còn có cơ quan xác nhận là người đó đã khai đúng nên nếu có sai phạm gì thì trách nhiệm chủ yếu thuộc về cơ quan xác nhận. Trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, theo chúng tôi, thề không nên chỉ thực hiện trong các tổ chức xã hội mà thiết nghĩ trong các hoạt động nhà nước cũng cần quy định thủ tục thề để bảo đảm tính thiêng liêng, trang nghiêm, long trọng trong những trường hợp cần thiết nhất định. Chẳng hạn, những người được bầu, bổ nhiệm để giữ các chức vụ quan trọng, chủ chốt trong các cơ quan nhà nước ở tất cả các cấp (kể cả Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao…) phải thề trước những người đã bầu ra mình, trước nhân viên của cơ quan mình hoặc trước nhân dân; thẩm phán phải thề trước khi xét xử; người làm chứng phải thề khi cung cấp thông tin… Nội dung các lời thề ngắn gọn như hết lòng phụng sự đất nước và nhân dân, luôn tôn trọng, tận tuỵ phục vụ nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; bản thân không tham nhũng, lãng phí; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, quyết tâm thực hiện những gì mình đã hứa khi tranh cử; khách quan vô tư trong công việc; nói đúng sự thật… Nội dung lời thề cần rõ ràng, ngắn gọn, trong một số trường hợp có thể định lượng được, có mục tiêu rõ ràng và phải có khả năng thực hiện được.

Trong một chừng mực nào đấy, những lời thề (dưới dạng hứa, cam đoan, cam kết...) được xem như có giá trị pháp lý, chúng sẽ là thước đo để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ, công chức nhà nước (thể hiện lời nói có đi đôi với việc làm hay không), là căn cứ để đưa ra các quyết định xử lý nhằm hạn chế tới mức thấp nhất những hiện tượng tương tự có thể xảy ra trong tương lai. Chẳng hạn, những tổ chức, doanh nghiệp hay cá nhân gian lận trong việc khai và nộp thuế thì phải phạt gấp nhiều lần số tiền đã gian lận hay những người gian lận trong việc khai bằng cấp để được học hay làm việc trong các cơ quan nhà nước thì kiên quyết buộc thôi học, thôi việc… và phải bồi thường lại những gì mà họ đã được hưởng không đúng; các thẩm phán khi xét xử phải thề xét xử khách quan, công minh, chính xác và phải chịu trách nhiệm về những phán quyết của mình;...

Lời thề danh dự sẽ là căn cứ để đánh giá, tổng kết sau những khoảng thời gian giữ chức vụ của cán bộ, là cơ sở để nhắc nhở, động viên người thề thực hiện những nội dung tốt, có ích mà họ đã thề, là tiêu chí để đánh giá thành tích, cống hiến của người đã thề.

Nếu có thể, nên có cơ chế để người đã thề sau những thời gian nhất định thực hiện báo cáo lại với các chủ thể mà họ đã thề về những việc mà họ đã làm được sau khi thề (họ đã thực hiện đến đâu, những khó khăn trở ngại nào khiến họ không thể hoặc chưa thể thực hiện được lời thề...). Đề cao trách nhiệm đạo đức của người thề đối với lời thề của mình trước bản thân, trước tổ chức và trước nhân dân… Mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, nhất là những người đang giữ các cương vị quan trọng trong bộ máy Đảng, bộ máy nhà nước và bộ máy các tổ chức xã hội khác học tập theo gương đạo đức Hồ Chí Minh hãy nói đi đôi với làm để dân ta thực sự giàu, nước ta thực sự mạnh và xã hội ta thực sự công bằng, dân chủ, văn minh./.

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội, 2004, t9. tr.293.

 [2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t5, tr.552.

TS. Nguyễn Minh Đoan
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân