|
Kiểm soát lạm phát - giải pháp kiềm chế trước mắt và rất cần giải pháp căn bản lâu dài
|
||
|
Có thể tạm lùi một chút về tốc độ tăng trưởng để giảm bớt tăng trưởng nóng và quan tâm nhiều hơn đến chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế...
Vấn đề lạm phát của nền kinh tế nước ta đã được nhắc đến nhiều từ giữa năm 2007. Có thể thấy, liên tục từ 1998 đến nay, tốc độ tăng trưởng GDP năm sau đều cao hơn năm trước và năm 2007 đạt mức cao nhất trong vòng 10 năm. Tuy nhiên, cũng đã có sự cảnh báo về sự tăng trưởng nóng, về sự bền vững của tăng trưởng. Hiện nay, tình hình kinh tế - xã hội những tháng đầu năm 2008 đã và đang có những diễn biến bất lợi. Tăng trưởng kinh tế vẫn cao, nhưng không đạt mục tiêu đề ra, tăng trưởng của công nghiệp - xây dựng thấp. Một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô có biểu hiện xấu.Giá tiêu dùng liên tiếp tăng và tăng cao. Chỉ số giá tiêu dùng 3 tháng đã là 9,19%, nêu tính cả tháng 4 đã là trên 11%, ảnh hưởng rất bất lợi đến sản xuất kinh doanh, đến đầu tư phát triển và tác động xấu đến đời sống nhân dân. Thị trường tài chính, thị trường chứng khoán có nhiều biến động bất thường, nhập siêu tăng cao, cán cân thương mại và cán cân thanh toán thiếu vững chắc. Trước tình hình và diễn biến của nền kinh tế - xã hội, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết về 8 nhóm giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững, trong đó kiềm chế lạm phát là mục tiêu ưu tiên số hàng đầu. Thực ra, lạm phát là tình trạng khá phổ biến ở các nước, đặc biệt là ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi. Cũng cần phải thấy, lạm phát có tác động cả tích cực và cả tiêu cực đối với tăng trưởng kinh tế thông qua nhiều kênh khác nhau. Một tỷ lệ lạm phát thấp, ổn định sẽ tạo ra một động lực đáng kể để giúp đạt được mức tăng trưởng ổn định. Nếu mức lạm phát quá cao và tăng liên tục, bất thường sẽ gây bất ổn cho nền kinh tế. Vấn đề quan trọng là phải kiểm soát được lạm phát (kiểm soát chứ không phải là chống hay kiềm chế), kiểm soát cho được và duy trì lạm phát ở mức thấp và ổn định. Để kiểm soát lạm phát được duy trì ở mức hợp lý, cần phải hiểu và xác định cho đúng, cho hết nguyên nhân của tăng giá và lạm phát. Nguyên nhân gốc của tăng giá và lạm phát phải nhìn nhận từ mối quan hệ cung cầu và quan hệ tiền tệ - hàng hoá trong nền kinh tế. Có nguyên nhân khách quan, nhưng cũng có không ít nguyên nhân chủ quan trong chính sách và điều hành đã làm cho các quan hệ cung cầu, quan hệ tiền - hàng bị mất cân đối và đã có lúc mất cân đối nghiêm trọng. Khi lượng tiền trong lưu thông quá lớn, được đưa vào lưu thông bằng nhiều kênh, kiểm soát không chặt chẽ thì sẽ tạo sự mất cân đối về cung - cầu về tiền - hàng. Điều này cộng với một số động thái không đúng lúc đã khiến giá cả không những không giảm mà còn tăng. Hơn nữa, tổng số vốn đầu tư toàn xã hội ngày càng tăng, kể cả vốn đầu tư từ NSNN, từ nội bộ nền kinh tế, từ vốn ngoài nước. Vốn đầu tư tăng nhanh là điều tốt. Nó chứng tỏ sự chuyển dịch tích cực quan hệ tích luỹ và tiêu dùng. Tuy nhiên, sự tăng nhanh về quy mô phải đi kèm việc phân bổ vốn hợp lý, có chủ định trong một chiến lược và quy hoạch dài hạn, phải đem lại hiệu quả kinh tế thực sự. Có thể thấy hiệu quả đầu tư, hiêu quả và chất lượng của tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với quy mô đầu tư. Vốn đầu tư ngày càng tăng, nhưng kết quả mang lại chưa tương xứng. Hệ số ICOR quá cao (khoảng 5), chi phí sản xuất xã hội ngày càng nhiều. Tình trạng lãng phí và thất thoát vốn, tài sản vẫn rất đáng quan tâm. Có chương trình dự án lớn, tiêu tốn hàng triệu, hàng tỷ USD, nhưng chỉ giúp tăng trưởng kinh tế trong năm đầu tư xây dựng, còn là gây lãng phí, tổn thất cho nền kinh tế, là gánh nặng nợ cho hệ thống tài chính, cho nền kinh tế. Đó là những nguyên nhân rất bản chất của tăng giá và lạm phát, tất nhiên không thể không tính tới tình hình thế giới biến đổi nhanh và khó lường, đặc biệt là sự biến động của giá cả như giá dầu, vàng, nguyên liệu. Nhưng cần biết đến nguyên nhân khách quan để chủ động dự báo và ứng phó. Còn quan trọng vẫn là có giải pháp khắc phục nhằm vào những nguyên nhân chủ quan. Có thể nói, nếu các biện pháp kiểm soát tăng giá, kiểm soát lạm phát đúng bản chất hơn, quyết liệt hơn và mang tính hệ thống, đồng bộ hơn thì có thể hạn chế được sự tăng giá liên tục và những hệ luỵ của nó. Trong bối cảnh hiện nay, áp dụng biện pháp thắt chặt tiền tệ và chính sách tài khoá thắt chặt là cần thiết. Muốn thắt chặt chính sách tiền tệ phải có giải pháp kiểm soát tổng phương tiện thanh toán, tổng dư nợ tín dụng, chủ động linh hoạt trong sử dụng chính sách, công cụ tiền tệ trong đó có công cụ lãi suất, tỷ giá. Sử dụng chính sách tài khoá thắt chặt buộc phải giảm bớt đầu tư từ nhà nước, tiết kiệm chi tiêu từ NSNN, trước mắt phải cắt giảm và sắp xếp lại đầu tư xây dựng.. Cần phải tính toán thật kỹ về mức độ cắt giảm để đừng quá gây sốc cho nền kinh tế, hạn chế tác động đến việc làm và đời sống người lao động, sự tồn tại phát triển của các doanh nghiệp, đồng thời cũng không gây tâm lý bất lợi đối với các nhà đầu tư. Tuy nhiên, đây là những biện pháp mang tính ngắn hạn. Về lâu dài, cần tính toán những biện pháp mang tính căn bản hơn cho cả nền kinh tế của năm 2009 - 2010. Có thể tạm lùi một chút về tốc độ tăng trưởng để giảm bớt tăng trưởng nóng và quan tâm nhiều hơn đến chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế. Nhìn chung, các biện pháp, chính sách kiềm chế tăng giá và lạm phát được đề ra và triển khai khá quyết liệt. Nhưng, phần nhiều là những quyết sách mang tính ngắn hạn. Cần phải tính tới những giải pháp chiến lược hơn về chính sách tài chính quốc gia, cơ cấu nguồn lực của nền kinh tế, cơ cấu lại nguồn vốn, đổi mới thực sự hoạt động của ngân hàng nhà nước. Cần sớm làm rõ cơ chế hoạt động của ngân hàng Nhà nước - với tư cách là ngân hàng trung ương. Cần sử dụng nhiều hơn các biện pháp kinh tế và luật pháp đối với nền kinh tế, hạn chế dần các biện pháp hành chính. Bên cạnh các biện pháp thắt chặt tiền tệ, cần áp dụng chính sách tài khoá thắt chặt, với một hệ thống cảnh báo và giám sát thực sự hiệu lực và hiệu quả. Cần xem xét, đánh giá lại các nguồn lực quốc gia, các nguồn vốn đầu tư để có căn cứ cho các quyết định. Để tạo sự chủ động cho nền kinh tế phát triển bền vững, thì trước hết phải hình thành một hệ thống chính sách thật đồng bộ, có căn cứ và tính đến tác động lâu dài. Không chỉ là liên quan đến lĩnh vực tiền tệ hay tài chính mà là sự đồng bộ cho toàn thể nền kinh tế. Thứ hai, phải rà soát, đánh giá lại toàn bộ những biện pháp mang tính kỹ thuật, cơ chế khi chúng ta thực hiện các cam kết quốc tế và để thực hiện đầy đủ, thành công các cam kết. Kể cả việc tạo dựng hàng rào kỹ thuật bảo vệ sản xuất trong nước, giữ vững an ninh kinh tế tài chính, đặc biệt là an ninh tài chính quốc gia. Thiết lập hệ thống cảnh báo từ xa, chủ động ứng phó trong mọi tình huống, hạn chế những tác động bất lợi cho nền kinh tế. Có biện pháp hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng khả năng xuất khẩu, từng bước giúp họ vươn ra thị trường quốc tế. Tiếp tục đón nhận các nguồn vốn đầu tư nước ngoài, nhưng nên có chọn lọc, có dự báo và kiểm soát được sự chuyển dịch của các luồng vốn, đặc biệt là luồng vốn ngăn hạn, các nguồn vốn đầu tư gián tiếp. Từ đó có sự chủ động trong điều hành, kiểm soát lượng tiền lưu thông cũng như quyết định việc sử dụng các nguồn tiền đó. Để làm được điều này, phải hết sức kiên quyết và linh hoạt. Thứ ba, phải thực hiện một chính sách tiết kiệm rất triệt để. Chính sách tiết kiệm phải được thực hiện kiên quyết hơn với những biện pháp cụ thể, rõ ràng. Điều quan trọng là tiết kiệm thông qua sử dụng đúng mục đích các nguồn lực của đất nước và đã sử dụng thì phải sớm đem lại kết quả. Tất cả những nguồn lực, tài sản, vốn liếng của quốc gia phải được quản lý, phân bổ và sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả. Thứ tư, tự do vốn hoá là cần thiết, nhưng cần có lộ trình, bước đi thận trọng. Phải sớm giải quyết và có lộ trình cụ thể, chủ định để giảm dần thâm hụt ngân sách. Giảm thiểu tín dụng chỉ định, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các tổ chức tài chính; quản lý tỷ giá hối đoái theo hướng thị trường tự do. Và cuối cùng, cần tăng cường hiệu lực của giám sát và đánh giá hoạt động của các tổ chức tài chính theo chuẩn mực quốc tế. Nắm và kiểm soát thực trạng năng lực và sức khoẻ thực của các tổ chức tài chính và toàn bộ nền tài chính quốc gia ở mọi thời điểm. Cần làm cho hệ thống tài chính thực sự đóng vai trò tích cực trong phát triển kinh tế và tuyệt đối tránh không là mầm mống gây ra các rắc rối cho nền kinh tế và nền tài chính quốc gia.
|
|
||||||||||||||||||||||||
|
||||||||||||||||||||||||










