|
Gió thổi khắp mặt đất - “Quan dân” để lập pháp
|
||
|
Người Trung Quốc có một bộ sách lạ mà cả thế giới ngưỡng mộ gọi là Kinh Dịch. Kinh Dịch vốn là sách không chữ. Nó dùng ngôn ngữ ký hiệu với hai ký hiệu rất đơn giản, một nét đứt - - (âm) và một nét liền _(dương). Hai nét này cứ chồng lên nhau thành tứ tượng, rồi bát quái, rồi thành lục thập tứ quái (64 quái).
Người Trung Quốc có một bộ sách lạ mà cả thế giới ngưỡng mộ gọi là Kinh Dịch. Kinh Dịch vốn là sách không chữ. Nó dùng ngôn ngữ ký hiệu với hai ký hiệu rất đơn giản, một nét đứt - - (âm) và một nét liền _(dương). Hai nét này cứ chồng lên nhau thành tứ tượng, rồi bát quái, rồi thành lục thập tứ quái (64 quái). Chỉ với 64 quái, với mỗi quái gồm 6 gạch, gọi là hào, mà Kinh Dịch biểu đạt được mọi sự dịch chuyển trong vũ trụ. Nhưng chỉ có biểu tượng hai gạch thôi thì khó hiểu và nảy sinh những cách hiểu khác nhau. Do đó, ông Cơ Xương (tức Chu Văn Vương) - khi bị Trụ Vương nhốt trong ngục Dữu Lý - mới viết lời cho từng quái một để mọi người dễ hiểu và thống nhất cách hiểu các biểu tượng. Kế nghiệp cha, Chu Công Đán tiếp tục viết ý nghĩa của từng hào trong một quái. Phần người cha viết gọi là thoán từ. Phần người con viết gọi là hào từ. Hai phần này hợp thành Dịch Kinh. Người đời sau bảo Dịch Kinh là một con chim nhưng chưa có cánh, tức là còn khó hiểu lắm, nên viết thêm phần Thập dực (10 cánh chim), cũng gọi là Dịch truyện, để giải thích Dịch Kinh. Dịch Kinh cộng với Dịch truyện thành bộ Kinh Dịch (cũng gọi là Chu Dịch) hoàn chỉnh lưu hành phổ biến ngày nay. Kinh Dịch như là một bản phác thảo ban đầu về các quy luật chuyển dịch trong tự nhiên, xã hội và con người. Nguyễn Hiến Lê bảo cả vũ trụ chứa trong Kinh Dịch. Chính vì vậy, ngày nay Kinh Dịch được ứng dụng vào nhiều lĩnh vực của tự nhiên, xã hội. Người ta đã nghiên cứu ứng dụng Kinh Dịch trong toán học, y học, sinh học, vật lý học, trị quốc, kinh doanh…Với tư cách là người nghiên cứu luật học, chúng tôi cũng thử vận dụng Kinh Dịch để tìm các lời giải đáp cho các vấn đề luật học. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin dùng quái Phong Địa quan để góp ý cho nhà lập pháp. Mỗi một quái trong lục thập tứ quái là một trùng quái được hợp thành từ hai quái đơn. Phong Địa quan được hợp thành bởi quái trên (thượng quái) là Tốn (phong - gió), quái dưới (nội quái) là Khôn (địa - đất). Ý nghĩa biểu trưng ở đây là gió thổi khắp mặt đất, khắp muôn vật. “Quan” có nghĩa là xem xét. Cho nên Kinh Dịch nói rằng: “Phong hành địa thượng quan, tiên vương dĩ tỉnh phương quan dân thiết giáo” (Gió thổi trên đất là tượng cho sự xem xét, đấng tiên vương coi đó, đi thăm từng phương, xem xét dân chúng mà đặt ra giáo hoá.” Như vậy, ý nghĩa trị quốc đã rõ: người cầm quyền phải quan sát, xem xét dân chúng như gió thổi khắp mặt đất để đặt ra các quy tắc trị quốc. Ngày nay, điều này thật đúng với công việc của người đại biểu nhân dân. Đại biểu có chức năng đặt ra các quy tắc cho dân sinh hoạt (lập pháp). Điều này đòi hỏi người đại biểu phải bao quát được mọi mặt đời sống của người dân như gió thổi khắp trên mặt đất. Trước khi làm luật, người đại biểu phải cũng phải “đi thăm từng phương, xem xét dân chúng”. Đối chiếu với công việc của người đại biểu, đây chính là việc tiếp xúc cử tri của Quốc hội. Phải “quan dân” để “đặt ra giáo hoá.” Quốc hội cũng phải “quan dân” để lập pháp. Tiếp xúc cử tri có mối quan hệ mật thiết với lập pháp. Không tiếp xúc cử tri tốt thì không thể lập pháp tốt. Luật phản ánh các quan hệ phổ biến trong xã hội. Nếu nhà làm luật không “đi thăm từng phương, xem xét dân chúng” thì không thể nhận thức được các quy luật phổ biến, các xu hướng phổ biến, các lợi ích phổ biến trong xã hội để biểu quyết những quy tắc tổng quát cho xã hội sinh hoạt. Thực trạng “luật trên trời cuộc đời dưới đất” có nguyên nhân một phần từ sự “quan dân” của các đại biểu. Luật không được cuộc sống đón nhận có nghĩa là người đại biểu chưa phát huy được hiệu quả trong việc “đi thăm từng phương, xem xét dân chúng”. Do đó, để lập pháp tốt cần cải tiến hoạt động tiếp xúc cử tri của các dân biểu. Nhưng cải tiến như thế nào? Câu trả lời lại đã có trong Kinh Dịch. Kinh Dịch có câu: “Quán nhi bất tiến, hữu phu ngung nhược” (Rửa tay mà chẳng tiến rượu thịt, có lòng thành tín, đáng kính vậy). Câu này lấy hình ảnh rót rượu tế lễ để nói về quan hệ giữa vua và dân. Người tế lễ trước khi rót rượu phải rửa tay sạch, sau đó mới tiến lễ. Kinh Dịch bảo rửa tay sạch là đủ rồi, không cần phải tiến lễ; nhà cầm quyền mà thành tín, thực lòng, tay sạch thì dân chúng sẽ kính trọng, không cần phải khoa trương, hình thức. Điều này cũng đúng với nhà lập pháp. Muốn luật của mình được dân tôn trọng, nhà lập pháp cũng cần phải thành tín khi “quan dân”. Đã xem xét, lắng nghe dân chúng thì phải xem xét, lắng nghe thật chứ không làm hình thức. Nếu quả thật, có tới 95% ý kiến cho biết họ chưa từng được tiếp xúc với các đại biểu Quốc hội như một cuộc thăm dò dư luận của báo Tiền phong điện tử, thì việc “quan dân” của các đại biểu Quốc hội còn hình thức. Để luật được dân đón nhận, dân biểu cần “quan dân” thực chất, chứ không chỉ làm hình thức trong vài ngày trước và sau các kỳ họp. Tuy nhiên, không thể khuyên một cách đạo đức rằng các đại biểu phải tiếp xúc cử tri một cách thành thực chứ không hình thức. Vấn đề là phải có cơ chế để buộc người đại biểu gần dân. Cơ chế đó liên quan đến chế độ bầu cử. Muốn buộc đại biểu tiếp xúc thật sự với dân thì người dân phải là người có vai trò thực sự quyết định khả năng tái nhiệm của đại biểu. Đại biểu sẽ tiếp xúc hình thức đối với dân khi họ biết rằng, những người dân mà họ tiếp xúc sẽ không phải là những người quyết định việc họ có được lựa chọn trong nhiệm kỳ tiếp theo nữa hay không. Điều này lại liên quan đến việc đổi mới cơ chế hiệp thương trong bầu cử, gắn đại biểu với những cử tri ở những nơi mà người đại biểu thường trú. Một khi còn tình trạng đại biểu sống tại Hà Nội nhưng ứng cử ở Tây Nguyên thì khó có thể “quan dân” một cách thực chất. Kinh Dịch viết tiếp: “Đồng quan, tiểu nhân đạo dã” (xem xét như đứa trẻ con là đạo của tiểu nhân vậy). “Đồng quan” là xem xét như đứa trẻ con. Đứa trẻ con khi xem xét thì ấu trĩ, không nhìn xa trông rộng, kiến thức thiển cận. Cho nên Kinh Dịch bảo đó là cách xem xét của kẻ tiểu nhân, không phải là đạo của người quân tử. Bài học cho nhà lập pháp trong việc “quan dân” là phải nhìn xa, trông rộng, có kiến thức về nhiều lĩnh vực, bao quát được mọi lĩnh vực của đời sống người dân. Do đó, nhà lập pháp phải là người có trí tuệ. Từ thời Hy Lạp cổ đại, Platon đã yêu cầu nhà lập pháp phải là một triết gia (ngày đó, triết gia được hiểu là các nhà khoa học). Đến thời Khai sáng, Rousseau cũng bảo nhà lập pháp phải có bộ óc siêu việt. Làm sao để có được những nhà lập pháp như vậy? Một lần nữa, điều này lại liên quan đến việc đổi mới chế độ bầu cử. Với một chế độ bầu cử để lựa chọn ra các một cơ quan dân cử chỉ nhằm có đủ cơ cấu, thành phần dân cư thì khó có thể có một Quốc hội trí tuệ, đa văn, quảng kiến. Cũng cần tư duy lại về đại diện. Đại diện không phải chỉ có nghĩa là có đủ thành phần, cơ cấu dân cư trong cơ quan dân cử. Đại diện còn là năng lực đại diện, năng lực phản ánh những mong muốn, xu hướng chung của dân chúng. Người có năng lực đại diện, năng lực phản ánh như vậy phải là người trí thức. Đại biểu dân cử phải là người trí thức. Kinh Dịch lại viết: “Khuy quan nữ trinh, diệc khả xú dã” (dòm xem như người con gái là chính, đối với người quân tử thì cũng đáng xấu hổ vậy) “Khuy” có nghĩa là nhìn từ trong cửa nhìn ra, không ra khỏi nhà, nên chỉ nhìn đời qua khe cửa. Xưa, người phụ nữ Trung Quốc không được coi trọng, ít được ra khỏi nhà. Cho nên, Kinh Dịch mới nói: đối với phụ nữ nhìn đời qua khe cửa thì chấp nhận được, nhưng đối với người quân tử thì điều đó là đáng xấu hổ. Kinh Dịch muốn khuyên nhà cầm quyền khi “quan dân” phải xem xét mọi khía cạnh, tiếp xúc với mọi đối tượng, mọi địa phương như gió thổi khắp mặt đất, đến khắp muôn vật. Nhà cầm quyền cũng không được “khuy quan”. Để có những đạo luật phản ánh được nguyện vọng của đa số dân chúng, người đại biểu nhân dân cũng không nên “khuy quan”. Bản chất của luật là phản ánh các quan hệ phổ biến trong xã hội. Luật tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, đến quảng đại dân chúng. Vì vậy, luật phải dung hoà được lợi ích của mọi tầng lớp dân chúng. Nhà lập pháp phải tiếp xúc cử tri rộng rãi. Đã “quan dân” thì phải “thăm từng phương”, quan sát mọi tầng lớp nhân dân, mọi thành phần dân cư chứ không thể chỉ quan tâm đến một số vị lão thành, chức sắc. Gió thổi trên mặt đất có phân biệt vật nào đâu. Người đại biểu tiếp xúc với dân chúng nên như vậy, nên tiếp xúc với mọi người. Một giải pháp nữa để tránh “khuy quan” là đại biểu dân cử nên quần tụ quanh mình các “anh hào” thuộc các chuyên ngành khác nhau giúp mình “quan dân”. Cần huy động đến khối óc nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau để giúp mình có những thông tin về mọi mặt của cuộc sống của nhân dân. Như vậy, những nguyên lý “quan dân” trong Kinh Dịch rất thích hợp với nhà lập pháp. Mượn cách nói của Kinh Dịch, ta có thể nói lại rằng: “Gió thổi trên đất là tượng cho sự xem xét, người đại biểu nhân dân coi đó, đi thăm từng phương, xem xét dân chúng mà đặt ra pháp luật”.
|
|
||||||||||||||||||||||||
|
||||||||||||||||||||||||










