Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ hai, 20/10/2014, 15:02(GMT+7)
 
Thực tiễn pháp luật

Thực thi Pháp lệnh về dân quân tự vệ - nhìn từ một quận
Pháp lệnh về Dân quân tự vệ (PLVDQTV) được Ủy ban thường vụ Quốc hội (khóa IX) thông qua ngày 09/01/1996. Đây cũng là thời điểm quận Sơn Trà được tái lập khi thành phố Đà Nẵng tách ra khỏi tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng để trở thành thành phố trực thuộc trung ương. Trước bộn bề công việc của một quận mới tái lập, đang gặp nhiều khó khăn và thiếu thốn, nhưng cấp ủy, chính quyền địa phương - với sự tham mưu của cơ quan quân sự địa phương - đã tổ chức nghiên cứu, quán triệt và triển khai thực hiện PLVDQTV năm 1996, tiếp đó là PLVDQTV năm 2004, trên địa bàn quận, nhanh chóng đưa Pháp lệnh vào cuộc sống. Qua 12 năm áp dụng, thi hành Pháp lệnh, quận Sơn Trà đã đạt những kết quả nhất định.

1. Những kết quả đã đạt được

Thứ nhất, cấp ủy và chính quyền cùng lãnh đạo các ban, ngành, đoàn thể của quận thấy đây là sự nhìn nhận sâu sắc của Đảng và Nhà nước khi nâng Điều lệ Dân quân tự vệ (DQTV) ban hành theo Nghị định số 29-HĐBT ngày 29/01/1990 của Hội đồng Bộ trưởng lên thành PLVDQTV năm 1996, sau đó được thay thế bằng PLVDQTV năm 2004, mở ra một nhận thức mới về vai trò, vị trí, chức năng và nhiệm vụ của lực lượng DQTV, qua đó cho thấy sứ mệnh lịch sử của lực lượng DQTV trong các giai đoạn cách mạng là rất quan trọng. Trước đây, theo Điều lệ DQTV năm 1990, thì “DQTV là lực lượng vũ trang quần chúng không thoát ly sản xuất, do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức và lãnh đạo, là một trong ba thứ quân của lực lượng vũ trang nhân dân nước CHXHCN Việt Nam”. Còn theo Pháp lệnh năm 1996 và Pháp lệnh năm 2004 thì, DQTV là lực lượng vũ trang quần chúng không thoát ly sản xuất, công tác, là một bộ phận của lực lượng vũ trang nhân dân của nước CHXHCN Việt Nam, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý, điều hành của Chính phủ và UBND các cấp… Khái niệm về DQTV đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về lực lượng DQTV. Nếu như trước đây, DQTV do Đảng lãnh đạo và quản lý, thì theo PLVDQTV năm 1996 và năm 2004, chức năng quản lý được trả về cho cơ quan quản lý nhà nước là Chính phủ và UBND theo đúng nguyên tắc Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân lao động làm chủ. Hơn nữa, việc ban hành PLVDQTV năm 1996 cho thấy tư duy mới về xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận chiến tranh nhân dân trong hoàn cảnh đất nước ta vừa trải qua 10 năm thực hiện đường lối đổi mới, khi sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước đã hình thành nên những tiềm năng và thế lực mới, tạo điều kiện đưa đất nước phát triển theo hướng từng bước hội nhập kinh tế toàn cầu. Bối cảnh ấy đòi hỏi cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở, trong đó có quận Sơn Trà cũng phải đổi mới tư duy về xây dựng, huấn luyện và hoạt động của lực lượng DQTV, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của tình hình mới, thực chất là nâng cao nhận thức về đường lối quân sự - quốc phòng địa phương qua việc tổ chức triển khai thực hiện PLVDQTV ở địa phương, đơn vị mình. Tiếp đó, sự ra đời của PLVDQTV năm 2004 cho thấy sự đổi mới kịp thời của nhà nước để đáp ứng các yêu cầu bảo vệ tổ quốc khi chúng ta đã tiến hành gần 20 năm đổi mới thành công. Đặc biệt, lần đầu tiên ở một văn bản Pháp lệnh, PLVDQTV năm 2004 đã quy định “ngày 28/3 hàng năm là ngày truyền thống của lực lượng dân quân tự vệ” (khoản 3, Điều 1). Điều đó khẳng định vai trò quan trọng của lực lượng DQTV trong thời bình. Nhận thức được tầm quan trọng này, quận Sơn Trà đã coi PLVDQTV thực sự là một “cẩm nang” song hành cùng các văn bản pháp quy có liên quan đến nhiệm vụ quốc phòng, quân sự địa phương trong quá trình vận hành cơ chế theo tinh thần Nghị quyết số 02 của Bộ Chính trị.

Ngay từ thời gian đầu mới tái lập (01/1997), lãnh đạo quận tổ chức hội nghị quán triệt và triển khai thực hiện PLVDQTV năm 1996 cho cán bộ chủ chốt từ quận đến cơ sở, làm cho mọi cán bộ trong hệ thống chính trị từ quận đến phường và các cơ quan hiểu rõ vị trí, ý nghĩa của PLVDQTV để cùng tổ chức triển khai thực hiện. Sau khi có PLVDQTV năm 2004, việc tuyên truyền, phổ biến Pháp lệnh này cũng được truyền tải trên nhiều kênh thông tin ở địa phương, giúp cho người dân hiểu nghĩa vụ và quyền lợi của mình khi thực hiện PLVDQTV. Nhờ vậy, các PLVDQTV sớm đi vào cuộc sống của cộng đồng dân cư, ý thức của người dân trong việc tham gia xây dựng lực lượng DQTV được nâng lên rõ rệt. Đây chính là điều kiện thuận lợi để cơ quan quân sự các cấp tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng lực lượng DQTV có chất lượng và hiệu quả nhất.

Thứ hai, trên cơ sở quán triệt đầy đủ các nội dung của PLVDQTV trong cả hệ thống chính trị và nhân dân, công tác củng cố, phát triển lực lượng DQTV được tiến hành đồng bộ, đạt được nhiều kết quả quan trọng. Đa số công dân trong độ tuổi có nghĩa vụ tham gia lực lượng DQTV (từ đủ 18 tuổi đến hết 45 tuổi đối với nam; từ đủ 18 tuổi đến hết 40 tuổi đối với nữ) đều nhận thức rõ nghĩa vụ tham gia DQTV của mình. Kết quả, năm 1997, toàn quận có 1.457 cán bộ, chiến sĩ DQTV, chiếm tỷ lệ gần 1,50% so với dân số (toàn quận năm 1997 có 97.204 nhân khẩu), đạt chỉ tiêu so với quy định của pháp luật. Hơn 10 năm sau, dân số toàn quận tăng hơn 20.000 nhân khẩu, nhưng tỷ lệ DQTV so với dân số vẫn được giữ vững. Điều đó cho thấy sự cố gắng lớn lao của các cấp chính quyền cơ sở. Tỷ lệ đảng viên trong lực lượng DQTV năm 1997 chỉ có 237 đồng chí, đến cuối năm 2007 đã tăng lên 320 đảng viên. Năm 1997, đoàn viên trong lực lượng DQTV có 452 đồng chí, đến cuối năm 2007 tăng lên thành 959 đồng chí. Ngoài tập trung xây dựng lực lượng DQTV ở các phường, địa phương cũng quan tâm tổ chức lực lượng tự vệ ở các cơ quan, đơn vị sự nghiệp, các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội: năm 1997 chỉ có một đơn vị tự vệ, đến cuối năm 2007 có 12 đơn vị. Hơn nữa, với tiêu chuẩn người được tuyển chọn vào lực lượng DQTV nòng cốt  phải có lý lịch rõ ràng; có phẩm chất chính trị và đạo đức tốt; đủ sức khỏe để phục vụ trong lực lượng DQTV được quy định cụ thể trong Điều 3 của PLVDQTV năm 2004 cho thấy yêu cầu về chất lượng lực lượng DQTV ngày càng cao. Với yêu cầu ngày càng cao đó, trong 12 năm (1997-2008), quận Sơn Trà đã kết nạp được 2.060 công dân vào DQTV, luân phiên cho ra khỏi lực lượng 2.014 đồng chí, đạt tỷ lệ bình quân mỗi năm từ 15 - 20%. Toàn quận có 7 chi bộ quân sự ở 7/7 phường hoạt động có chất lượng và hiệu quả, bảo đảm sự lãnh đạo thường xuyên của Đảng đối với hoạt động của lực lượng DQTV ở mỗi địa phương. Là địa phương ven biển, có bờ biển dài khoảng 30km, nên công tác xây dựng lực lượng DQTV biển được chú trọng thường xuyên, hiện toàn quận có 141 đồng chí DQTV biển được biên chế ở 4 trung đội gồm 16 tiểu đội.

Để bảo đảm cho hoạt động của mình, lực lượng DQTV có tổ chức, biên chế, vũ khí, trang bị riêng. Đặc biệt, theo Điều 10 của PLVDQTV năm 1996 và Điều 11 của PLVDQTV năm 2004 thì, “vũ khí, trang bị của lực lượng DQTV phải phù hợp với tính chất, yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh thời bình, thời chiến, đặc điểm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và điều kiện cụ thể của từng địa phương, cơ sở”. Trong 12 năm qua, trên cơ sở thực hiện các điều này và các nghị định, thông tư hướng dẫn, các cấp chính quyền đã quan tâm hỗ trợ kinh phí để mua sắm nhiều phương tiện trang bị cho lực lượng DQTV như may đồng phục (mỗi phường hằng năm may từ 15 - 20 bộ), công cụ hỗ trợ (roi điện, gậy cao su, còng số 8, đèn pin, áo giáp, áo chống đạn, máy ảnh kỹ thuật số…). Nếu tính cả quân trang cấp trên cấp phát thì hơn 2.800 bộ trang phục đã được cung cấp cho lực lượng DQTV trong thời gian qua.

Thứ ba, DQTV là một bộ phận của lực lượng vũ trang nhân dân của nước CHXHCN Việt Nam (Điều 1 của PLVDQTV năm 1996 và năm 2004). DQTV phải trung thành với Tổ quốc, hết lòng, hết sức bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, tài sản, tính mạng của nhân dân, tài sản của nhà nước ở cơ sở. Vì vậy, “hàng năm, cán bộ, chiến sỹ DQTV được giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự theo nội dung, chương trình do Bộ Quốc phòng quy định” (Điều 15 của PLVDQTV năm 1996). Còn theo Điều 17 của PLVDQTV năm 2004 thì, “hàng năm, cán bộ, chiến sỹ DQTV nòng cốt được giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự theo nội dung, chương trình do Bộ Quốc phòng quy định”. Việc giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự đối với DQTV rộng rãi thì tùy từng trường hợp mà tổ chức cho phù hợp. Tại địa phương, cán bộ chỉ huy quân sự ở các phường đều được đào tạo cơ bản theo chương trình huấn luyện do Bộ Tổng tham mưu quy định, qua Trường quân sự địa phương của thành phố. Hàng năm, cán bộ, chiến sỹ DQTV đều được huấn luyện nâng cao giác ngộ chính trị, tư tưởng và trình độ kỹ, chiến thuật. Từ năm 1997 đến nay có đến 16 lượt phường thực hành diễn tập, kết quả đều đạt từ khá trở lên. Trong 12 năm qua, DQTV ở quận tham gia các hội thi binh chủng, hội thao quốc phòng cấp thành phố, quân khu đều đạt nhiều giải cao, có đồng chí phường đội trưởng được chọn đi thi xã, phường đội trưởng giỏi toàn quân. Kết quả trên có được là nhờ sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của các cấp lãnh đạo địa phương, vai trò tham mưu đầy sáng tạo của cơ quan quân sự các cấp, đặc biệt là sự cố gắng to lớn của cán bộ, chiến sỹ DQTV.

Thứ tư, Điều 7 của PLVDQTV năm 1996 quy định: “Lực lượng DQTV có các nhiệm vụ: 1) Sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu tiêu diệt, tiêu hao lực lượng địch, làm nòng cốt cho phong trào toàn dân đánh giặc, bảo vệ địa phương, cơ sở; 2) Phối hợp với công an, bộ đội biên phòng, bộ đội thường trực và các đoàn thể nhân dân giữ vững chủ quyền lãnh thổ, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; bảo vệ các công trình quốc phòng, các kho vũ khí trang bị kỹ thuật, phát hiện và thu giữ các loại vũ khí trang bị quân sự tồn giữ bất hợp pháp ở địa phương; tham gia xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện; 3) Bổ sung cho quân đội, phối hợp với quân đội chiến đấu, phục vụ chiến đấu, phục vụ tiền tuyến; 4) Gương mẫu chấp hành và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; xung kích trong lao động sản xuất, bảo vệ sản xuất, phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, địch hoạ và các sự cố nghiêm trọng khác”. Còn theo Điều 7 của PLVDQTV năm 2004 thì, Lực lượng DQTV có những nhiệm vụ: “1) Sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu, phục vụ chiến đấu, làm nòng cốt cùng toàn dân đánh giặc bảo vệ địa phương, cơ sở; 2) Phối hợp với quân đội, công an và các lực lượng khác bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa, chính quyền, tính mạng và tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước, của tổ chức ở cơ sở, tính mạng và tài sản của cá nhân nước ngoài, mục tiêu và công trình quốc phòng, an ninh trên địa bàn; 3) Xung kích trong bảo vệ sản xuất, phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch hoạ và các sự cố nghiêm trọng khác; 4) Vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, góp phần xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện…”. Trên cơ sở các quy định này, các nghị định hướng dẫn thi hành của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn của các cơ quan liên quan, hoạt động của lực lượng DQTV quận Sơn Trà trong 12 năm qua đã thu được nhiều thành tích quan trọng: 7/7 phường đã xây dựng quy chế phối hợp hoạt động với công an, dân phòng và bộ đội biên phòng tuần tra khép kín địa bàn, bảo đảm thường xuyên giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của địa phương. Nhờ làm tốt công tác trinh sát, nắm bắt kịp thời tình hình địa bàn, khoanh vùng đối tượng, nên công tác tuần tra, phối hợp của lực lượng DQTV của các phường trong thời gian qua đã góp phần phát hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản của Nhà nước và công dân; bắt giữ hàng trăm đối tượng cùng tang vật chuyển giao cho cơ quan chức năng xử lý; giải tán hàng trăm vụ thanh niên tụ tập uống rượu gây gổ đánh nhau, gây thương tích làm mất trật tự công cộng, thu giữ 45 mã tấu, 10 máy bơm nước, 31 xe đạp, 22 xe máy, 15 máy điện thoại di động cùng nhiều loại tài sản có giá trị khác. Ngoài ra, lực lượng DQTV địa phương còn phối hợp với các đơn vị bộ đội, công an thu hồi vật liệu nổ, vũ khí trong dân gồm 300 kg chất độc hóa học, hàng trăm lựu đạn, đầu đạn các loại cùng nhiều loại vũ khí khác… Đặc biệt, cuối năm 2004, chấp hành sự điều động của trên, dân quân biển của quận tham gia lực lượng cơ động trên 10 tàu cá phối hợp cản phá thành công ý định của nước ngoài về việc triển khai thăm dò trái phép thềm lục địa của ta bằng dàn khoan KATAN3. Thành tích này của dân quân biển của quận đã được Tư lệnh Quân chủng Hải quân và UBND thành phố Đà Nẵng biểu dương, khen thưởng. Ngoài ra, DQTV địa phương còn tích cực tham gia giúp dân phòng, chống thiên tai, tích cực cứu nạn, cứu hộ (đặc biệt là cơn bão dữ cuối năm 2006), đã để lại nhiều hình ảnh tốt đẹp trong lòng người dân địa phương.

 Thứ năm, thực hiện Nghị định số 35/CP ngày 14/6/1996 của Chính phủ quy định chi tiết việc thi hành PLVDQTV năm 1996, Thông tư liên bộ Quốc phòng - Tài chính - Lao động, Thương binh và xã hội số 473/TTLB ngày 10/3/1997 hướng dẫn chế độ chính sách và bảo đảm kinh phí đối với lực lượng DQTV; Thông tư số 1413/TT-QP ngày 13/7/1996 của Bộ Quốc phòng hướng dẫn thực hiện Nghị định số 35; Nghị định số 184/2004/NĐ-CP ngày 02/11/2004 quy định chi tiết việc thi hành PLVDQTV năm 2004; Thông tư số 171/2004/TT-BQP ngày 15/12/2004 hướng dẫn thực hiện PLVDQTV năm 2004 và Nghị định 184; Thông tư liên tịch Bộ Quốc phòng - Bộ Tài chính - Bộ Kế hoạch và đầu tư - Bộ lao động - Thương binh và xã hội số 46/2005/TTLT-BQP-BKH&ĐT-BTC-BLĐTB &XH ngày 20/4/2005 hướng dẫn một số điều của Nghị định 184, các chế độ về sinh hoạt phí, trợ cấp, phụ cấp, trang phục; chế độ ốm đau, tai nạn, chết và các chính sách ưu đãi khác dành cho DQTV được quận thực hiện đầy đủ và đúng theo quy định của pháp luật. Chính quyền các cấp quận Sơn Trà đã chú trọng chăm lo đúng mức đến điều kiện làm việc, hoạt động cũng như đời sống vật chất và tinh thần cho LLDQTV; các phường đều bố trí phòng làm việc riêng cho Ban chỉ huy quân sự, phòng trực và bếp ăn tập thể cho lực lượng trực chiến theo đúng Chỉ thị 176 của Bộ Quốc phòng; việc thu quỹ quốc phòng hàng năm được thực hiện đúng quy định và sử dụng đúng mục đích. Người nào trong quá trình tham gia lực lượng DQTV nếu bị ốm đau, thương tích hoặc có hoàn cảnh gia đình khó khăn đều được hỗ trợ chăm sóc theo đúng quy định của pháp luật hiện hành, tạo sự an tâm cho công dân khi tham gia lực lượng DQTV. Vào dịp lễ, tết, ngày truyền thống của lực lượng (28/3 hàng năm), các địa phương, đơn vị tự vệ đều quan tâm kinh phí tặng quà lực lượng DQTV, góp phần động viên tư tưởng cho anh, chị em khi làm nhiệm vụ. Từ năm 1997 đến cuối năm 2007, các địa phương, đơn vị đã chi ngân sách 3.153.455.779 đồng, trong đó chi cho bảo đảm vật chất huấn luyện, hoạt động là 182.816.423 đồng; chi phụ cấp trách nhiệm cho cán bộ DQTV là 299.982.000 đồng; chi mua sắm quân tư trang, công cụ hỗ trợ là 238.742.000 đồng; còn lại 2.431.914.756 đồng chi trả theo ngày công tham gia huấn luyện, hoạt động của DQTV… Đặc biệt, UBND quận Sơn Trà đã thực hiện chính sách “thưởng nóng” cho các lực lượng tham gia chống tội phạm trên địa bàn, như truy bắt kịp thời đối tượng phạm tội, phá án nhanh, chặn đứng các hành vi bạo lực gây mất trật tự địa bàn… Thực tế cho thấy, lực lượng DQTV ở các địa phương, đơn vị của quận trong thời gian qua đã có nhiều cố gắng trong phối hợp hoặc độc lập hoạt động, đạt được nhiều thành tích tốt, được UBND quận và thành phố khen thưởng.

2. Bài học kinh nghiệm, hạn chế và kiến nghị

Thực tiễn thực hiện các PLVDQTV trên địa bàn quận Sơn Trà tuy còn nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, nhưng ở góc độ tổng quan thì có thể khẳng định rằng, ý thức của cả hệ thống chính trị và nhân dân về DQTV đã được nâng cao hơn bao giờ hết, việc chăm lo xây dựng lực lượng DQTV không còn là việc “khoán trắng” cho cơ quan quân sự địa phương như trước đó. Tuy nhiên, trong một chừng mực nhất định, nhận thức của một bộ phận cán bộ, nhân dân về các PLVDQTV chưa theo kịp với sự lớn mạnh không ngừng của lực lượng DQTV địa phương, sự chăm lo của cấp ủy và thủ trưởng ở một số địa phương, đơn vị cũng có lúc chưa thật đầy đủ, áp dụng chế độ chính sách cho DQTV chưa tạo hành lang thông thoáng, tình trạng “trắng” DQTV ở một số khu dân cư vẫn còn… Tất cả những vấn đề này ảnh hưởng nhất định đến chất lượng, hiệu quả xây dựng, huấn luyện và hoạt động của lực lượng DQTV ở địa phương. Nhưng điều đó cũng giúp các cơ quan có thẩm quyền rút ra được những bài học kinh nghiệm sâu sắc đối với việc tổ chức xây dựng lực lượng và nâng cao hiệu quả hoạt động của LLDQTV ở quận. Cụ thể:

- Phải chú trọng tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt trong lực lượng DQTV vững mạnh về mọi mặt, bởi đây là nhân tố hàng đầu trong việc tạo nguồn và xây dựng, củng cố lực lượng DQTV. Ngoài ra, việc chăm lo thực hiện tốt chế độ, chính sách đối với DQTV sẽ tạo động lực góp phần xây dựng lực lượng DQTV vững mạnh toàn diện. Thực tế cho thấy, cán bộ chỉ huy phường, đội đã thực sự là nguồn cán bộ chủ chốt của quận, qua phấn đấu, rèn luyện cho đến nay nhiều đồng chí đang là Quận ủy viên, có đồng chí là y viên Ban thường vụ Quận ủy.

- Muốn xây dựng lực lượng DQTV vững mạnh toàn diện, phải chú trọng xây dựng đều cả ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức, không được xem nhẹ mặt nào. Theo đó, trong việc xem xét kết nạp người vào lực lượng phải được cân nhắc thấu đáo theo quy định của pháp luật (người vào lực lượng DQTV phải có lý lịch rõ ràng, có phẩm chất chính trị và đạo đức tốt; đủ sức khỏe để phục vụ trong lực lượng DQTV và đủ độ tuổi theo pháp luật quy định (Điều 1 Nghị định số 35. Còn theo Điều 3 PLVDQTV năm 2004, tiêu chuẩn này chỉ áp dụng đối với lực lượng DQTV nòng cốt), tránh tình trạng chạy theo số lượng, xem nhẹ chất lượng; kết nạp người nào chắc người đó, quan tâm đến những địa bàn, khu vực còn “trắng” hoặc mỏng lực lượng, có như thế mới giải quyết được yêu cầu “rộng khắp” trong quá trình tổ chức xây dựng lực lượng DQTV. Hơn nữa, khi đã kết nạp, phải thường xuyên thực hiện việc giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự theo đúng quy định của pháp luật, phù hợp với tình hình địa phương để đáp ứng các yêu cầu trong từng thời kỳ.

Tuy nhiên, sau 12 năm thực hiện nhiệm vụ quốc phòng địa phương trên địa bàn quận Sơn Trà, việc áp dụng pháp luật về DQTV, đặc biệt là PLVDQTV năm 2004 còn nhiều bất cập, vướng mắc, cần được kiến nghị, sửa đổi. Cụ thể:

- Khoản 2, Điều 15 của PLVDQTV năm 2004 quy định: “Xã đội gồm có Xã đội trưởng là thành viên UBND xã, Chính trị viên là cán bộ kiêm nhiệm, Xã đội phó là cán bộ chuyên môn…”. Hiện nay, Chính trị viên kiêm nhiệm là đồng chí Bí thư Đảng ủy xã và là người trực tiếp làm Bí thư chi bộ quân sự xã; do vậy, thực tế người trực tiếp và thường xuyên làm nhiệm vụ Xã đội chỉ có đồng chí Xã đội trưởng và đồng chí Xã đội phó. Từ hoạt động thực tiễn ở cơ sở cho thấy, nếu chỉ có hai đồng chí thì không kham nổi nhiệm vụ. Vì vậy, đề nghị khôi phục lại biên chế Ban chỉ huy Xã đội như trước đây gồm hai đồng chí kiêm nhiệm là Bí thư Đảng ủy xã kiêm Chính trị viên, Bí thư xã đoàn kiêm Chính trị viên phó và ba đồng chí hoạt động mang tính chuyên trách, đó là: Xã đội trưởng, Xã đội phó và Xã đội phó động viên tuyển quân. Có như vậy, việc tham mưu cho cấp ủy và chính quyền xã về nhiệm vụ quốc phòng địa phương và chỉ huy lực lượng DQTV ở cơ sở mới có hiệu quả thật sự.

- Điểm a, Khoản 1, Điều 24 của PLVDQTV năm 2004 quy định: cán bộ, chiến sỹ dân quân nòng cốt trong thời gian thực hiện nhiệm vụ theo mệnh lệnh của cấp có thẩm quyền được hưởng chế độ như sau: “được trợ cấp bằng ngày công lao động theo mức do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là UBND cấp tỉnh) quy định nhưng không thấp hơn 0, 04 so với lương tối thiểu; nếu làm nhiệm vụ vào ban đêm từ 22 giờ đến 06 giờ sáng thì được tính gấp đôi…”. Quy định như vậy, nhưng thực hiện lại chưa thống nhất, theo kiểu ở đâu có nguồn thu lớn thì chính quyền nơi ấy chi nhiều, nên cơ chế “xin -cho” vẫn còn tồn tại ở nhiều góc độ khác nhau. Mặt khác, do ấn định biên chế Xã đội chỉ có 01 Xã đội phó (nên cũng chỉ có 01 định xuất phụ cấp); nhưng hiện nay do yêu cầu nhiệm vụ, các địa phương đều có 02 Xã đội phó, do đó, cấp phó còn lại chẳng biết chi phụ cấp từ nguồn ngân sách nào? Đây là vấn đề vừa khó khăn, vừa vướng mắc, đề nghị các cấp có thẩm quyền cần tập trung tháo gỡ. 

- Khoản 2, Điều 11 của Nghị định số 184/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày 02/11/2004 về quy định chi tiết việc thi hành PLVDQTV năm 2004 ghi: “Xã đội được sử dụng con dấu riêng”. Tuy nhiên, không hiểu sao từ hơn ba năm rưỡi từ khi Nghị định của Chính phủ có hiệu lực pháp luật mà việc này không được triển khai. Điều đó vô hình trung tạo ra mối lo lắng khi tính pháp lý của một cơ quan cấp xã chưa được cụ thể hóa. Vì vậy, đề nghị cơ quan có thẩm quyền cần tiến hành triển khai hướng dẫn hoặc áp dụng quy định này trên thực tế.

Những vấn đề trên chắc chắn chưa thể phản ánh đầy đủ kết quả 12 năm thực hiện các PLVDQTV trên địa bàn một quận cũng như trên cả nước, cũng như những vấn đề khác cần được nghiên cứu, bàn thảo để thống nhất chung. Nhưng thiết nghĩ đây là một sự trao đổi hết sức thẳng thắn với hy vọng PLVDQTV năm 2004 sẽ được Quốc hội sớm sửa đổi, bổ sung hoặc nâng lên thành luật để vị trí, vai trò của lực lượng DQTV được khẳng định mạnh mẽ trong giai đoạn mới.

Mai Mộng Tưởng
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Pháp luật điều chỉnh hoạt động tư vấn đầu tư của Công ty chứng khoán (14/10/2014)
Tăng cường các biện pháp chế tài để nâng cao hiệu lực hoạt động của Kiểm toán nhà nước (14/10/2014)
Xác định chức danh của những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã (14/10/2014)
Định giá tài sản sở hữu trí tuệ trong giao dịch dân sự (14/10/2014)
Những hạn chế của pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư và trái phiếu doanh nghiệp và hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của Ngân hàng thương mại (14/10/2014)
Nguyên tắc gải quyết hợp đồng thương mại quốc tế theo PICC (14/10/2014)
Hoàn thiện pháp luật về thủ tục giải quyết khiếu nại hành chính (14/10/2014)
Nguyên tắc gải quyết hợp đồng thương mại quốc tế theo PICC (14/10/2014)
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân