Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ hai, 20/02/2017, 20:26(GMT+7)
 
Thực tiễn pháp luật

Những vấn đề pháp lý trong đào tạo nghề đáp ứng nguồn nhân lực
Những vấn đề pháp lý trong đào tạo nghề đáp ứng nguồn nhân lực
Nguồn: internet

Đào tạo nghề (ĐTN) có vai trò quan trọng đối với phát triển nguồn nhân lực, tạo việc làm, thực hiện công bằng xã hội và góp phần phát triển kinh tế bền vững. Pháp luật về ĐTN đã góp phần quan trọng điều chỉnh quan hệ pháp luật về cơ sở ĐTN, doanh nghiệp trong hoạt động ĐTN và người học nghề. Tuy nhiên, những hạn chế, bất cập và khoảng cách giữa việc ghi nhận trên văn bản pháp luật và thực tế áp dụng vẫn còn tồn tại.

1. Vai trò của đào tạo nghề  

Thứ nhất, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của quá trình toàn cầu hoá

Yếu tố quan trọng nhất của nền kinh tế tri thức là nguồn nhân lực có chất lượng cao, được giáo dục và đào tạo tốt để đáp ứng những yêu cầu phát triển của nền kinh tế. Chiến lược phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của quá trình toàn cầu hoá là kinh tế sức lao động, kinh tế tài nguyên và kinh tế tri thức. Hoạt động ĐTN đã tạo lập được đội ngũ công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ lành nghề, chất lượng cao, có đủ kinh nghiệm, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết để thực hiện công việc được giao. Trong giai đoạn hiện nay, đội ngũ lao động đã dần được nâng cao cả về chất lượng và số lượng. Cơ cấu kinh tế dịch chuyển trong các ngành công nghiệp, dịch vụ; dịch chuyển từ chiều rộng sang chiều sâu, tập trung vào những ngành, lĩnh vực sử dụng công nghệ cao. Tỷ lệ qua ĐTN tăng lên hàng năm. Nhu cầu ĐTN trong các ngành mũi nhọn được chú trọng. Mạng lưới ĐTN được phát triển, hệ thống giáo dục nghề nghiệp được đầu tư.  

    Một thống kê cho thấy, lực lượng lao động của nước ta tăng khoảng 1,3 triệu người mỗi năm với tốc độ tăng bình quân khoảng 2,65%/năm; số lao động trong độ tuổi lao động chiếm gần 95% tổng lực lượng lao động và nhóm lao động trẻ (tuổi 15-34) chiếm tới 45%[1]. Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng dần, do vậy năng lực chuyên môn kỹ thuật, trình độ kỹ năng nghề của người lao động (NLĐ) được nâng cao, từng bước đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động trong và ngoài nước. Tuy nhiên, nước ta đang phải đối mặt với áp lực thiếu hụt lao động có kỹ năng cao ở các cấp độ; thị trường lao động trong nước và thế giới đòi hỏi NLĐ phải luôn nâng cao kỹ năng nghề để đáp ứng với yêu cầu thay đổi của công nghệ sản xuất hiện đại, đòi hỏi của thực tiễn. Trong khi đó, tỷ lệ lao động qua đào tạo có kỹ năng nghề cao còn thấp. Chất lượng lao động có sức cạnh tranh chưa như mong muốn. Năng suất lao động của Việt Nam còn thấp so với các nước phát triển như: Mỹ, Đức, Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc[2]... Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn hạn chế do thiếu nhiều lao động lành nghề. Việc sử dụng lao động có tay nghề thấp và tạo ra ít giá trị gia tăng hiện nay vẫn chiếm tỷ trọng tương đối cao. Trong ngắn hạn, các nghề sử dụng lao động tay nghề và chi phí dịch vụ thấp giữ vị trí quan trọng, đáp ứng các nhu cầu cơ bản, tạo cơ hội việc làm cho lao động trình độ thấp. Tuy nhiên, điều này sẽ không tiếp tục được kéo dài, với sự tác động mạnh mẽ của yêu cầu phát triển kinh tế và năng suất lao động, nhu cầu về lao động có kỹ năng cao sẽ tăng lên. Việc thiếu hụt công nhân kỹ thuật là điều được dự báo trước, do đó nếu sử dụng lao động giá rẻ không có trình độ kỹ thuật cao sẽ khó cải thiện năng suất lao động. Trong tương lai gần, điều này sẽ trở thành vấn đề nghiêm trọng khi người sử dụng lao động (NSDLĐ) không thể tuyển dụng được lao động có kỹ năng cần thiết, ảnh hưởng và kìm hãm sự phát triển kinh tế, giảm khả năng cạnh tranh của quốc gia cũng như ảnh hưởng tới mục tiêu việc làm đầy đủ, năng suất và việc làm bền vững cho tất cả mọi người[3]. Chính vì vậy, ĐTN được xem là một trong những đòn bẩy tạo ra nguồn lao động dồi dào, đáp ứng được các tiêu chuẩn kỹ năng nghề phù hợp với sự phát triển của lực lượng lao động trong giai đoạn toàn cầu hoá hiện nay.

    Thứ hai, đào tạo nghề góp phần giải quyết việc làm cho người lao động

    Theo một số liệu thống kê, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước tính đến thời điểm 01/01/2016 là 54,61 triệu người, tăng 185 ngàn người so với cùng thời điểm năm 2014, trong đó lao động nam chiếm 51,7%; lao động nữ chiếm 48,3%. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động ước tính 48,19 triệu người, tăng 506,1 ngàn người so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động nam chiếm 54%; lao động nữ chiếm 46%. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2015 là 2,31% (năm 2013 là 2,18%; năm 2014 là 2,10%), trong đó khu vực thành thị là 3,29% (năm 2013 là 3,59%; năm 2014 là 3,40%); khu vực nông thôn là 1,83% (năm 2013 là 1,54%; năm 2014 là 1,49%)[4].

Có thể khẳng định, Nhà nước ta đã và đang giải quyết vấn đề việc làm và thất nghiệp dưới rất nhiều con đường khác nhau. Trong đó, ĐTN được xem như là một kênh quan trọng để giải quyết việc làm tại chỗ cho NLĐ. Trong quá trình học nghề, NLĐ được trang bị các kỹ năng cần thiết để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. ĐTN góp phần giải quyết việc làm và hỗ trợ NLĐ trong quá trình tìm kiếm việc làm một cách hiệu quả. Giải quyết việc làm chính là đòn bẩy để kích thích sự phát triển kinh tế của quốc gia. Trong giai đoạn hiện nay, cần phải gắn hoạt động ĐTN với giải quyết việc làm tại chỗ cho NLĐ. Tuy nhiên, quá trình ĐTN cần hướng đến việc đào tạo gắn lý thuyết và thực hành, đào tạo theo mô hình đa ngành, đa lĩnh vực, ĐTN gắn với nhu cầu của thị trường lao động. Đặc biệt, ĐTN cần phối hợp trách nhiệm của Nhà nước trong việc triển khai các chính sách, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước, gắn kết với vai trò hỗ trợ của doanh nghiệp trong giải quyết việc làm cho NLĐ. ĐTN cần chú trọng xây dựng đội ngũ lành nghề, có kỹ năng chuyên môn và nghiệp vụ, xây dựng đội ngũ chuyên nghiệp hoá để đáp ứng được các yêu cầu việc làm mang tính chuyên sâu. ĐTN theo nhu cầu thị trường lao động, từ đó khuyến khích được đội ngũ người học nghề tham gia vào quá trình ĐTN. Không chỉ gắn ĐTN trong nước, Nhà nước cũng cần xây dựng các chiến lược ĐTN cho NLĐ đi làm việc ở nước ngoài. Để thực thi tốt hoạt động này, vai trò đầu mối giữ vị trí quan trọng là các doanh nghiệp, các trung tâm ĐTN, các trường nghề có uy tín, cần chủ động để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác ĐTN, thu hút được người học nghề tham gia, góp phần bổ sung nguồn nhân lực phục vụ cho nhu cầu giải quyết việc làm thông qua xuất khẩu lao động.

2. Pháp luật về đào tạo nghề và những vấn đề đặt ra

Trong giai đoạn hiện nay, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Để hoạt động ĐTN thực thi có hiệu quả, pháp luật đã tạo lập một hành lang pháp lý quy định về cơ sở ĐTN, doanh nghiệp với hoạt động ĐTN và người học nghề.

2.1. Pháp luật về cơ sở đào tạo nghề

Cơ sở ĐTN do tổ chức, cá nhân thành lập để tổ chức thực hiện các chương trình đào tạo thường xuyên theo yêu cầu của người học; chương trình bồi dưỡng, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp; chương trình đào tạo theo hình thức kèm cặp nghề, truyền nghề, tập nghề; chương trình chuyển giao công nghệ; chương trình đào tạo khác có thời gian đào tạo dưới 03 tháng. Ngoài ra, pháp luật quy định các điều kiện để thành lập tổ chức và hoạt động, cơ sở ĐTN và thủ tục đăng ký với cơ quan có thẩm quyền; quy định thời hạn cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động ĐTN, các chế độ chính sách đối với cơ sở ĐTN. Để đảm bảo cho hoạt động của cơ sở ĐTN, pháp luật cũng quy định về chương trình ĐTN, mục tiêu dạy nghề, quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung, phương pháp và hình thức dạy nghề, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi mô-đun, môn học và mỗi nghề.

Pháp luật về cơ sở ĐTN hiện hành quy định khá chặt chẽ về điều kiện và thủ tục trong tổ chức thành lập; quy định chi tiết nội dung của hồ sơ đăng ký thành lập; phân định rõ các cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động ĐTN; cải cách về thủ tục hành chính đối với cơ sở ĐTN… Quy định của pháp luật hiện hành về cơ sở ĐTN giúp cho các cơ sở ĐTN được thành lập, tổ chức và hoạt động một cách hiệu quả trên thực tế, tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt động ĐTN phát triển phù hợp với mục tiêu và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển nguồn nhân lực của đất nước.

2.2  Pháp luật về người học nghề và doanh nghiệp với hoạt động đào tạo nghề

Thứ nhất, về người học nghề  

Người học nghề là một chủ thể không thể thiếu trong nhóm quan hệ pháp luật về ĐTN. Nguồn nhân lực của một quốc gia phụ thuộc vào người học nghề. Người học nghề sẽ góp phần tạo ra lực lượng lao động có tay nghề cao, đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động linh hoạt. Để đảm bảo cho người học nghề được tham gia vào quan hệ pháp luật về ĐTN, người học nghề cần phải đáp ứng các yêu cầu, các điều kiện nhất định. Người học nghề phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi, đủ độ tuổi và sức khoẻ theo quy định của pháp luật: “Người học nghề, tập nghề trong trường hợp này phải đủ 14 tuổi và phải có đủ sức khoẻ phù hợp với yêu cầu của nghề, trừ một số nghề do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định” (Điều 61 Bộ luật Lao động - BLLĐ - năm 2012). Quyền học nghề là một quyền quan trọng trong các quyền của con người. Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế châu Âu cũng cho rằng: “đời người là quá trình không ngừng giao nhau, kết hợp giữa học tập và làm việc”. BLLĐ cũng ghi nhận công dân sinh ra có quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp, học nghề và nâng cao trình độ nghề nghiệp. Để cụ thể hoá quyền này, pháp luật lao động đã quy định cụ thể các quyền lợi của người học nghề và trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quan hệ pháp luật về ĐTN.

Thứ hai, về doanh nghiệp với hoạt động đào tạo nghề

ĐTN thực chất là quá trình đào tạo lao động cho doanh nghiệp và tạo nguồn nhân lực phục vụ cho doanh nghiệp. ĐTN luôn gắn liền với hoạt động sản xuất và hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là vấn đề tạo việc làm cho người học nghề và bố trí công việc, vị trí phù hợp cho NLĐ sau khi được ĐTN. Do đó, vai trò gắn kết giữa doanh nghiệp, cơ sở ĐTN với người học nghề, NLĐ giữ vai trò quan trọng. Trong đó, doanh nghiệp được coi là chủ thể chính tham gia vào quá trình ĐTN gắn với giải quyết việc làm cho NLĐ.

Pháp luật đã xác định rõ vai trò, trách nhiệm của doanh nghiệp trong hoạt động ĐTN trước khi sử dụng lao động và đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ, kỹ năng nghề cho NLĐ khi NLĐ tham gia vào quan hệ lao động. Pháp luật hiện hành đã quy định các vấn đề như: trách nhiệm của doanh nghiệp với hoạt động phát triển ĐTN; vai trò và trách nhiệm của doanh nghiệp với cơ sở ĐTN; trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc ĐTN, bồi dưỡng kỹ năng và đào tạo lại nghề cho NLĐ; trách nhiệm xây dựng kế hoạch hàng năm và kinh phí cho việc đào tạo và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề cho NLĐ đang làm việc cho mình, đào tạo cho NLĐ trước khi chuyển làm nghề khác cho mình; trách nhiệm của NSDLĐ trong việc báo cáo kết quả đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng nghề cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh trong báo cáo hàng năm về lao động….

    Các quy định về vai trò, trách nhiệm của doanh nghiệp đối với hoạt động ĐTN hiện nay là phù hợp, đáp ứng được yêu cầu đặt ra trong đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng được đội ngũ lao động đảm bảo về chất lượng. Tuy nhiên, khi triển khai vào thực tế, các quy phạm pháp luật về doanh nghiệp trong hoạt động ĐTN vẫn còn những hạn chế, vướng mắc nhất định gây ảnh hưởng đến hiệu quả công tác ĐTN trong giai đoạn hiện nay. Cụ thể là:

    i)  Pháp luật chưa quy định cụ thể doanh nghiệp là một chủ thể thực sự của hoạt động ĐTN; thiếu các quy định về cơ chế, chính sách khuyến khích các doanh nghiệp phát triển hoạt động ĐTN. Pháp luật chưa quy định cụ thể trách nhiệm chính của doanh nghiệp trong việc xác định danh mục các ngành nghề đào tạo, xây dựng chuẩn kỹ năng nghề, chương trình ĐTN theo nhu cầu của thị trường lao động.

    ii) Pháp luật quy định trách nhiệm của doanh nghiệp ĐTN còn quá chung chung, mang tính khẩu hiệu; chưa xác định cụ thể nghĩa vụ bắt buộc doanh nghiệp ĐTN cho NLĐ, chưa quy định doanh nghiệp phải lập quỹ ĐTN để triển khai cho NLĐ. Mặc dù pháp luật quy định trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc báo cáo kết quả đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, nhưng pháp luật lại chưa quy định cơ chế để quy phạm này thực thi có hiệu quả, thiếu các chế tài đủ mạnh kèm theo để đảm bảo việc thực thi có hiệu quả trên thực tế.

    iii) Pháp luật hiện hành chưa quy định việc tham gia của doanh nghiệp vào hoạt động ĐTN như là một nghĩa vụ bắt buộc và có cơ chế đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả trong lĩnh vực ĐTN, đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao tay nghề cho NLĐ. Pháp luật chưa quy định cụ thể các loại hình và mức độ tham gia của các doanh nghiệp trong hoạt động ĐTN, chưa quy định rõ doanh nghiệp có cơ sở ĐTN, doanh nghiệp vừa kinh doanh vừa tham gia ĐTN hay doanh nghiệp chỉ tham gia hoạt động kinh doanh và có nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của quá trình toàn cầu hoá trong giai đoạn hiện nay.

    iv) Pháp luật quy định trong một số trường hợp doanh nghiệp tuyển người học nghề để làm việc cho doanh nghiệp, nếu người học nghề sau khi kết thúc khoá học nghề mà không làm việc theo cam kết thì phải bồi hoàn chi phí dạy nghề. Như vậy, pháp luật chỉ quy định hậu quả pháp lý trong trường hợp người học nghề đã kết thúc khoá học nghề mà không làm việc cho doanh nghiệp như đã cam kết mà không đề cập những trường hợp vì lý do bất khả kháng mà nghỉ trước thời hạn hay lao động nữ có thai nhưng có xác nhận của cơ sở y tế về việc buộc phải nghỉ trước khi hết thời hạn học nghề. Ðiều 24 BLLĐ năm 1994 quy định: “Trong trường hợp hợp đồng ĐTN chấm dứt trước thời hạn vì lý do bất khả kháng thì không phải bồi thường”. Tuy nhiên, vấn đề này lại bị bỏ ngỏ trong BLLĐ năm 2012. Pháp luật không quy định rõ hậu quả pháp lý đối với những trường hợp chấm dứt hợp đồng ĐTN, tạo ra các cách hiểu và áp dụng không thống nhất trong bồi hoàn chi phí dạy nghề.

v) Pháp luật vẫn chưa điều chỉnh một số trường hợp đặc biệt khi chấm dứt hợp đồng ĐTN. Theo quy định của pháp luật hiện hành, người học nghề đơn phương chấm dứt hợp đồng ĐTN thì không được trả lại học phí, trừ một số trường hợp người học nghề đi làm nghĩa vụ quân sự hoặc do ốm đau, tai nạn, thai sản không đủ sức khoẻ hoặc gia đình khó khăn không thể tiếp tục học nghề thì được trả lại học phí đã đóng của thời gian còn lại. Tuy nhiên, nếu như trường hợp sau khi học xong, doanh nghiệp không giao kết hợp đồng lao động hoặc không tiếp tục sử dụng NLĐ đã học nghề; người học nghề là nữ phải nghỉ học hoặc nghỉ việc theo chỉ định của thầy thuốc thì người học nghề có được nhận lại học phí học nghề hay không thì pháp luật chưa quy định. Theo chúng tôi, trong trường hợp này, nếu người học nghề vẫn không được nhận lại học phí thì sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ khi lý do nghỉ là hoàn toàn chính đáng.

vi) Yêu cầu bồi thường chi phí đào tạo mà doanh nghiệp đưa ra thường lớn hơn rất nhiều so với những chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã bỏ ra để tổ chức ĐTN. Trong hợp đồng ĐTN, các bên có thoả thuận về chi phí ĐTN, trách nhiệm hoàn trả chi phí ĐTN trong trường hợp vi phạm cam kết hợp đồng. Chi phí đào tạo bao gồm các khoản chi có chứng từ hợp lệ về chi phí trả cho người dạy, tài liệu học tập, trường, lớp, máy, thiết bị, vật liệu thực hành, các chi phí khác hỗ trợ cho người học và tiền lương, tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người học trong thời gian đi học. Trường hợp NLĐ được gửi đi đào tạo ở nước ngoài thì chi phí đào tạo còn bao gồm chi phí đi lại, chi phí sinh hoạt trong thời gian ở nước ngoài.

Về nguyên tắc, khi bồi thường thiệt hại, giá trị bồi thường thiệt hại sẽ bao gồm tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm. Trong thực tế, có rất nhiều trường hợp khi NLĐ chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn cam kết đã thoả thuận trong hợp đồng, NSDLĐ buộc NLĐ phải bồi thường gấp hai, gấp ba lần các khoản thu nhập tăng thêm trong suốt thời gian học. Trường hợp doanh nghiệp đưa ra khoản chi phí bồi thường quá lớn, gấp nhiều lần chi phí thực tế mà doanh nghiệp bỏ ra để đào tạo cho NLĐ là rất bất cập, bởi lẽ theo nguyên tắc khi bồi thường chi phí đào tạo do có sự vi phạm hợp đồng thì NLĐ sẽ phải bồi thường đúng bằng chi phí phát sinh thực tế chứ không thể buộc họ phải bồi thường những thiệt hại mà chính họ không hề biết, không gây ra[5].

2.3 Pháp luật về đào tạo nghề trong một số trường hợp đặc biệt

Thứ nhất, quy định về đào tạo nghề đối với lao động là người giúp việc gia đình     

Pháp luật cũng quy định NSDLĐ có nhiệm vụ “tạo cơ hội cho người giúp việc gia đình được tham gia học văn hoá, học nghề”[6] và quy định cụ thể về điều khoản thoả thuận trong hợp đồng lao động về thời gian đi học (trong ngày, trong tuần hoặc trong tháng); chi phí hỗ trợ, kỳ hỗ trợ (theo ngày, theo tuần hoặc theo tháng), hình thức hỗ trợ cho NLĐ. Tuy nhiên, pháp luật hiện nay chưa quy định cụ thể cơ quan có trách nhiệm tập huấn, đào tạo bồi dưỡng nghề giúp việc gia đình. Việc quy định về nghĩa vụ của NSDLĐ trong ĐTN cho lao động là người giúp việc gia đình nhưng việc tạo cơ hội cho NSDLĐ lại là một quy phạm khó thực thi trên thực tế. Bởi lẽ việc xác định có cơ hội hay không là nội dung  không được định lượng cụ thể, rõ ràng.

Thứ hai, quy định về ĐTN đối với NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài

Pháp luật hiện hành quy định trách nhiệm của NLĐ trong việc ĐTN, ngoại ngữ, bồi dưỡng kiến thức cần thiết, trách nhiệm của doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài phải tổ chức hoặc liên kết với cơ sở dạy nghề, cơ sở đào tạo để đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề, ngoại ngữ cho NLĐ đi làm việc ở nước ngoài. Ngoài ra, pháp luật cũng quy định Nhà nước có chính sách đầu tư cho các cơ sở dạy nghề tạo nguồn lao động đi làm việc ở nước ngoài; hình thành một số trường dạy nghề đủ điều kiện về trang bị, thiết bị, chương trình, giáo trình và đội ngũ giáo viên để đào tạo NLĐ có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, trình độ ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động.

Trong công tác ĐTN, để đảm bảo cho các các doanh nghiệp và NLĐ thực hiện một cách có hiệu quả quyền và nghĩa vụ của mình, pháp luật hiện hành đã quy định về quy hoạch phát triển mạng lưới các cơ sở dạy nghề đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 phải phù hợp, đồng bộ với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của từng ngành, vùng, địa phương và phát huy hiệu quả của các cơ sở dạy nghề hiện có. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng ban hành các quy định về đơn giá ĐTN, ngoại ngữ và bồi dưỡng kiến thức cho NLĐ thuộc các huyện nghèo đi làm việc ở nước ngoài. Theo đó, đơn giá ĐTN, ngoại ngữ được Nhà nước quy định theo từng ngành nghề cơ bản như: nghề hàn, phục vụ khách sạn, nhà hàng, điều dưỡng viên, nghề xây trát, gia công lắp đặt cốt thép, tháo dỡ giàn giáo trong xây dựng, nghề lắp đặt điện sinh hoạt trong xây dựng, nghề lắp đặt đường ống cấp thoát nước trong xây dựng, nghề may công nghiệp. Đơn giá được xác định trên cơ sở ngành nghề và trên khoá học. Ngoài ra, pháp luật cũng quy định chi tiết về đơn giá đào tạo ngoại ngữ và bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho NLĐ đi làm việc ở nước ngoài.

Pháp luật hiện hành đã quy định tương đối đầy đủ các nội dung liên quan đến ĐTN, giáo dục định hướng cho NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng đảm bảo cho họ được trang bị về chuyên môn, nghiệp vụ và cung cấp các kiến thức cần thiết trong quá trình đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành đang còn những hạn chế nhất định.

i) Pháp luật chưa quy định một chương trình ĐTN, ngoại ngữ, bồi dưỡng kiến thức cần thiết chuẩn cho NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Pháp luật chưa quy định một cách thống nhất tiêu chuẩn về ĐTN, bồi dưỡng ngoại ngữ và các kiến thức cần thiết cho các ngành nghề. Hiện nay, pháp luật chỉ quy định mang tính định khung làm cơ sở cho các doanh nghiệp áp dụng khi đào tạo, giáo dục định hướng cho NLĐ đi làm việc ở nước ngoài. Điều này tạo ra các cách áp dụng không thống nhất giữa các doanh nghiệp, các địa phương khác nhau.

ii) Còn khoảng trống trong việc quy định về các khoá ĐTN, bồi dưỡng ngoại ngữ và kiến thức cần thiết đối với những ngành nghề mang tính chất đặc thù. Đối với một số ngành nghề đòi hỏi các kỹ năng thực hành, việc khảo sát, đánh giá tay nghề cũng chưa được pháp luật đề cập đến. Pháp luật hiện hành chỉ đưa ra các quy phạm chung mà chưa có các quy phạm điều chỉnh chuyên biệt.

iii) Pháp luật chưa đề cập đến hoạt động giám sát công tác ĐTN, giáo dục định hướng cho NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Cơ quan chính chịu trách nhiệm đầu mối trong việc giám sát hoạt động ĐTN, ngoại ngữ và bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho NLĐ Việt Nam chưa được quy định cụ thể. Tình trạng pháp luật quy định chung về trách nhiệm của các cơ quan như hiện nay sẽ ảnh hưởng đến tính hiệu quả của hoạt động ĐTN, ngoại ngữ, bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.

iv) Pháp luật quy định về thời gian ĐTN, ngoại ngữ, bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho NLĐ Việt Nam còn ngắn, chưa đủ để NLĐ có những nền tảng kiến thức, kỹ năng thực hành để đi làm việc tại nước ngoài.

Thứ ba, quy định về ĐTN đối với lao động là người khuyết tật.

Pháp luật về doanh nghiệp đã tạo lập hành lang pháp lý hỗ trợ lao động là người khuyết tật tham gia học nghề để phục vụ cho công việc. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, pháp luật vẫn còn tồn tại những hạn chế làm ảnh hưởng đến hiệu quả của việc thực thi pháp luật đối với lao động là người khuyết tật trên thực tế.

i) Pháp luật hiện hành sử dụng khái niệm cơ sở dạy nghề và cơ sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho người khuyết tật mang tính tách biệt, từ thiện, đi ngược lại với mô hình hoà nhập và không khuyến khích được các nguồn lực hiện có trong xã hội tạo việc làm hoà nhập cho người khuyết tật; chưa luật hoá các tiêu chí về cơ sở doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh sử dụng nhiều lao động là người khuyết tật.

 ii) Pháp luật hiện hành chưa quy định lao động là người khuyết tật được học nghề, bổ túc nghề, đào tạo lại nghề tại các cơ sở dạy nghề được miễn, giảm học phí. Điều này tạo ra những trở ngại về kinh tế cho lao động người khuyết tật; người khuyết tật sẽ khó có cơ hội tham gia vào các khoá học để bổ túc nghề hay đào tạo lại nghề. Quy định này là một rào cản trong việc đưa người khuyết tật tham gia vào quá trình học nghề.

iii) Chưa luật hoá các nội dung liên quan đến vấn đề giúp đỡ lao động là người khuyết tật phục hồi chức năng lao động. Chưa luật hoá các điều kiện, nội dung, hình thức và cơ chế hỗ trợ người khuyết tật phục hồi chức năng lao động; chưa quy định cụ thể trách nhiệm của các doanh nghiệp trong tạo điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ người khuyết tật bị tai nạn lao động được phục hồi chức năng lao động. Quy định hiện hành chưa tạo điều kiện để hỗ trợ người khuyết tật trong việc phục hồi chức năng để người khuyết tật tham gia vào quan hệ lao động.

iv) Mức hỗ trợ học phí, đào tạo nâng cao trình độ, chuyển đổi nghề trong quy định của pháp luật hiện nay đang còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Pháp luật mới chỉ điều chỉnh việc hỗ trợ đối với người khuyết tật tham gia học nghề ngắn hạn. Chính vì vậy, việc triển khai thực hiện quy định này gặp rất nhiều khó khăn  trên thực tế.

 v) Pháp luật chưa quy định các danh mục nghề đào tạo đối với các dạng tật, danh mục đối với các cơ sở đăng ký ĐTN cho người khuyết tật. Chính vì vậy, các ngành nghề đào tạo cho người khuyết tật hiện nay chưa phong phú, đa dạng. Quy định về vấn đề học nghề cho lao động là người khuyết tật còn có nhiều hạn chế và bất cập.

Thứ tư, quy định về đào tạo nghề đối với lao động nữ. Vấn đề ĐTN dự phòng cho lao động nữ đang là vấn đề quan tâm của xã hội. Pháp luật quy định về chính sách của Nhà nước trong việc: “Mở rộng nhiều loại hình đào tạo thuận lợi cho lao động nữ có thêm nghề dự phòng và phù hợp với đặc điểm về cơ thể, sinh lý và chức năng làm mẹ của phụ nữ”[7]. Tuy nhiên, do quy định này mang tính định hướng, không xác định cụ thể trách nhiệm ĐTN dự phòng cho lao động nữ nên việc triển khai trên thực tế gặp nhiều khó khăn. Trước đây, pháp luật quy định doanh nghiệp phải chủ động lập kế hoạch ĐTN dự phòng cho lao động nữ và lấy nguồn từ quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm. Tuy nhiên, vấn đề này lại không được quy định cụ thể trong pháp luật hiện hành.

Trong giai đoạn hiện nay, để tạo được nguồn nhân lực đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng đáp ứng yêu cầu của quá trình toàn cầu hoá thì yếu tố đầu tiên quyết định là cần có một hệ thống chính sách, pháp luật đồng bộ, hoàn thiện. Hoàn thiện pháp luật về ĐTN là nhiệm vụ quan trọng, tạo nền tảng cho quá trình ĐTN hoạt động hiệu quả trên thực tế. Với việc sửa đổi, bổ sung các quy định về cơ sở ĐTN, doanh nghiệp với hoạt động ĐTN trong thời gian tới, pháp luật về ĐTN có thể đáp ứng được xu thế chung của thời đại và khẳng định rõ nét vị thế của ĐTN, như khuyến cáo của UNESCO đã ghi nhận: “Học suốt đời là cuộc hành trình với nhiều hướng đi nhưng giáo dục kỹ thuật và dạy nghề sẽ là hướng đi chủ yếu trong cuộc hành trình đó”[8]./.

 



[1] PGS,TS. Cao Văn Sâm, Nâng cao kỹ năng nghề cho lực lượng lao động thúc đẩy việc làm có năng suất, http://tcdn.gov.vn/AIAdmin/News/View/tabid/66/newsid/5678/seo/Nang-cao-ky-nang-nghe-cho-luc-luong-lao-dong-thuc-day-viec-lam-co-nang-suat/Default.aspx, truy cập ngày 20/07/2016.

[2] PGS,TS. Cao Văn Sâm, Nâng cao kỹ năng nghề cho lực lượng lao động thúc đẩy việc làm có năng suất, tlđd.

[3] PGS,TS. Cao Văn Sâm, Nâng cao kỹ năng nghề cho lực lượng lao động thúc đẩy việc làm có năng suất, tlđd.

[4] Tỷ lệ thất nghiệp tăng 2,31%, http://www.baomoi.com/ty-le-that-nghiep-2015-tang-len-2-31/c/18316251.epi

truy cập ngày 21/07/2016.

[5] Đào Mộng Điệp, Ngô Thị Nhật Lệ, Hợp đồng học nghề - Những vấn đề pháp lý đặt ra và hướng hoàn thiện, Tạp chí Luật học, Số 7/2016

[6] Điều 181 BLLĐ năm 2012.

[7] Điều 153 BLLĐ năm 2012.

[8] Đào Mộng Điệp, Chế độ dạy và học nghề theo pháp luật lao động Việt Nam, Luận văn ThS, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002.

 

Đào Mộng Điệp, TS. Khoa Luật Kinh tế - Đại học Luật Huế.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân