Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Chủ nhật, 22/07/2018, 12:01(GMT+7)
 
Thực tiễn pháp luật

Một số bình luận về quy chế thi trung học phổ thông quốc gia và xét công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông
Một số bình luận về quy chế thi trung học phổ thông quốc gia và xét công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông
Ảnh minh họa/nguồn internet

Tóm tắt: Quy chế thi trung học phổ thông quốc gia và xét tốt nghiệp trung học phổ thông  ban hành kèm theo Thông tư số 04/2017/TT-BGDĐT đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác tổ chức và thực hiện việc thi trung học phổ thông quốc gia được diễn ra nghiêm túc, thành công. Tuy nhiên, một số quy định trong Quy chế vẫn còn nhiều bất cập. Bài viết đánh giá, phân tích các quy định này và kiến nghị các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện.

Từ khóa: Thông tư số 04/2017/TT-BGDĐT, trung học phổ thông, bất cập, hạn chế.

Abstract: The statute of the national high school examination and the selection of high school graduation which have been issued together with Circular No. 04/2017/TT-BGDDT have created an seriously and successfully important legal basis for the organization and implementation of the examination. However, some of the provisions in the regulation are still inadequate. This article provides short comments to improve the provisions of this regulation.

Keywords: Circular No. 04/2017/TT-BGDDT, comment, shortcomings, limitations.

 

            Kỳ thi trung học phổ thông (THPT) quốc gia năm 2017 đã kết thúc và được đánh giá là thành công, an toàn, đúng quy chế[1]. Để có được thành công này, ngoài sự cố gắng của hàng vạn con người tham gia vào khâu tổ chức và thực hiện thì còn phải đề cao vai trò của Quy chế thi THPT quốc gia và xét tốt nghiệp THPT ban hành kèm theo Thông tư số 04/2017/TT-BGDĐT ngày 25/01/2017 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (sau đây gọi chung là Quy chế). Các quy định rõ ràng, cụ thể trong Quy chế đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác tổ chức và thực hiện việc thi THPT quốc gia được diễn ra nghiêm túc, thành công. Tuy nhiên, một số quy định trong Quy chế vẫn còn nhiều bất cập. Nhiều quy định pháp luật chưa cụ thể, rõ ràng, đã gây khó khăn trong việc áp dụng vào thực tiễn. Bài viết đóng góp một số bình luận ngắn nhằm hoàn thiện các quy định trong Quy chế.

1. Những bất cập trong Quy chế  

Thứ nhất, quy định về các vật dụng được mang vào phòng thi vừa thừa lại vừa thiếu, có sự mâu thuẫn và chồng chéo

Điểm b khoản 4 Điều 14 Quy chế quy định: “Chỉ được mang vào phòng thi bút viết, bút chì, compa, tẩy, thước kẻ, thước tính; máy tính bỏ túi không có chức năng soạn thảo văn bản, không có thẻ nhớ (theo quy định trong hướng dẫn tổ chức thi THPT quốc gia hằng năm của Bộ Giáo dục và Đào tạo); Atlat Địa lý Việt Nam đối với môn thi Địa lý (do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam ấn hành, không được đánh dấu hoặc viết thêm bất cứ nội dung gì); các loại máy ghi âm và ghi hình chỉ có chức năng ghi thông tin mà không truyền được thông tin và không nhận được tín hiệu âm thanh, hình ảnh trực tiếp nếu không có thiết bị hỗ trợ khác”. Trong khi đó, cũng trong điều khoản này nhưng điểm c lại quy định: “Không được mang vào phòng thi vũ khí, chất gây nổ, gây cháy, đồ uống có cồn, giấy than, bút xóa, tài liệu, thiết bị truyền tin hoặc chứa thông tin có thể lợi dụng để gian lận trong quá trình làm bài thi và quá trình chấm thi”.

Một câu hỏi đặt ra là nếu căn cứ vào hai điều khoản trên thì những vật dụng như nước uống đóng chai (không phải đồ uống có cồn), bìa đựng hồ sơ của thí sinh… có được mang vào phòng thi hay không? Nếu căn cứ vào điểm c khoản 4 Điều 14 Quy chế thì những vật dụng này không bị cấm mang vào phòng thi - có nghĩa thí sinh vẫn được phép mang vào phòng thi. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào điểm b khoản 4 Điều 14 Quy chế thì những vật dụng này lại không được mang vào phòng thi. Như vậy, cách quy định những vật dụng chỉ được mang vào phòng thi và những vật dụng không được mang vào phòng thi như trong Quy chế là không cần thiết, trong nhiều trường hợp lại tạo ra sự phủ định lẫn nhau.

Có ý kiến cho rằng, quy định thêm những vật dụng không được mang vào phòng thi nhằm nhấn mạnh tính quan trọng của điều khoản này. Tuy nhiên, việc liệt kê những vật dụng được mang vào phòng thi đã rất rõ ràng nên không cần phải có thêm bất cứ một quy định nào về các vật dụng cấm mang vào phòng thi. Theo chúng tôi, Quy chế chỉ cần quy định chi tiết, cụ thể những vật dụng “chỉ được mang vào phòng thi” là đã đầy đủ vì ngoài những vật dụng đã được liệt kê, tuyệt nhiên thí sinh không thể mang những vật dụng khác vào phòng thi.

 Thứ hai, các hình thức kỷ luật và nguyên tắc áp dụng chế tài kỷ luật đối với công chức, viên chức vi phạm quy chế thi chưa phù hợp với pháp luật hiện hành

 

Theo Quy chế, nếu công chức, viên chức vi phạm quy chế thi thì có thể bị áp dụng các hình thức kỷ luật: “khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, hạ ngạch, cách chức, buộc thôi việc, chuyển đi làm công tác khác”. Tuy nhiên, quy định về các hình thức kỷ luật công chức, viên chức như trong Quy chế không phù hợp với Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Luật Viên chức năm 2010 và các nghị định quy định cụ thể về trách nhiệm kỷ luật của công chức, viên chức.

            Cụ thể, theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Nghị định số 34/2011/NĐ-CP của Chính phủ ngày 17/5/2011 về xử lý kỷ luật đối với công chức thì có sáu hình thức kỷ luật áp dụng đối với công chức theo thứ tự từ nhẹ đến nặng là: khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc. Tương tự, theo quy định của Luật Viên chức năm 2010 và Nghị định số 27/2012/NĐ-CP của Chính phủ ngày 6/4/2012 về trách nhiệm kỷ luật và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức thì có bốn hình thức kỷ luật áp dụng đối với viên chức là: khiển trách, cảnh cáo, cách chức, buộc thôi việc. Như vậy, theo pháp luật hiện hành, không tồn tại hình thức kỷ luật hạ ngạch đối với công chức và viên chức. Dẫu biết rằng Quy chế quy định chi tiết về xử lý kỷ luật đối với công chức, viên chức vi phạm quy chế thi nhưng cũng không thể trái với Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Luật Viên chức năm 2010 bởi các đạo luật này do Quốc hội ban hành và có hiệu lực pháp lý cao nhất trong việc xử lý kỷ luật công chức, viên chức. Phải chăng Quy chế lại viện dẫn các hình thức kỷ luật được nêu trong Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 vốn dĩ đã bị bãi bỏ?

            Trước đây, theo Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 thì công chức vi phạm kỷ luật có thể gánh chịu hình thức kỷ luật hạ ngạch. Tuy nhiên, hạ ngạch được quy định là hình thức kỷ luật là không có căn cứ khoa học. Ngạch thể hiện trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, là năng lực đã được công nhận, cũng giống như đã tốt nghiệp một trình độ đào tạo và được cấp bằng, không thể bằng quyết định kỷ luật để đánh giá trình độ của họ thấp hơn. Chẳng hạn không thể hạ ngạch chuyên viên xuống cán sự được. Tương tự, không thể hạ trình độ đại học xuống trình độ trung cấp được[2]. Chính vì những bất hợp lý đó nên khi Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Luật Viên chức năm 2010 có hiệu lực, hình thức kỷ luật hạ ngạch đã không còn được duy trì. Việc Quy chế quy định một hình thức kỷ luật mới áp dụng đối với công chức, viên chức là chưa phù hợp với các văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.

            Bên cạnh các hình thức kỷ luật khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc, Quy chế còn “khai sinh” thêm hình thức kỷ luật “chuyển đi làm công tác khác”. Tuy nhiên, việc Quy chế “khai sinh” thêm hình thức kỷ luật “chuyển đi làm công tác khác” là không có cơ sở. Tuy Quy chế không quy định trực tiếp nhưng sự “có mặt” của biện pháp “chuyển đi làm công tác khác” trong Điều 48 Quy chế về Xử lý cán bộ tham gia tổ chức thi và cá nhân liên quan khác vi phạm quy chế thi đã cho chúng ta biết “ý đồ” của nhà làm luật là đã xem đây là một hình thức kỷ luật. Nếu không xem chuyển đi làm công tác khác” là một hình thức kỷ luật thì đưa nó vào Điều 48 Quy chế làm gì?

            Như đã trình bày, Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Luật Viên chức năm 2010 và các nghị định quy định cụ thể về trách nhiệm kỷ luật không quy định hình thức kỷ luật “chuyển đi làm công tác khác” đối với công chức, viên chức. Về bản chất, “chuyển đi làm công tác khác” không phải là một hình thức kỷ luật mà có “bóng dáng” của biện pháp “bố trí công tác khác” được quy định tại Điều 58 Luật Cán bộ, công chức năm 2008. Cụ thể, theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008 thì công chức hai năm liên tiếp hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực hoặc có hai năm liên tiếp, trong đó một năm hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực và một năm không hoàn thành nhiệm vụ thì cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bố trí công tác khác[3]. Do đó, chúng tôi cho rằng “chuyển đi làm công tác khác” chỉ là một biện pháp nghiệp vụ được áp dụng đối với công chức không hoàn thành nhiệm vụ hay có hạn chế trong năng lực công tác chứ không phải là một hình thức kỷ luật.

            Theo Quy chế, công chức, viên chức có một trong các hành vi sai phạm như: Đưa đề thi ra ngoài khu vực thi hoặc đưa bài giải từ ngoài vào phòng thi trong lúc đang thi; Làm lộ đề thi, mua, bán đề thi; Gian dối trong việc sửa chữa học bạ, hồ sơ của thí sinh… sẽ bị buộc thôi việc hoặc đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS). Với quy định này có thể hiểu mỗi hành vi sai phạm chỉ có thể gánh chịu chế tài kỷ luật (buộc thôi việc) hoặc chế tài hình sự. Tuy nhiên, điều khoản này chưa phù hợp với các quy định về áp dụng chế tài đối với công chức, viên chức vi phạm quy chế thi.

            Căn cứ vào quy định pháp luật thì đề thi chưa công bố thuộc danh mục bí mật Nhà nước độ “Tối mật”[4]. Do đó, nếu công chức, viên chức có hành vi cố ý làm lộ đề thi, mua, bán đề thi thì có thể bị truy cứu TNHS về Tội cố ý làm lộ bí mật nhà nước; tội chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy tài liệu bí mật nhà nước được quy định tại Điều 337 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Chế tài đối với hành vi này lên đến 15 năm tù. Trường hợp công chức, viên chức có hành vi vi phạm bị Tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng án treo thì đương nhiên bị buộc thôi việc[5]. Trong đó, hình phạt tù là chế tài TNHS và buộc thôi việc là chế tài trách nhiệm kỷ luật. Như vậy, công chức, viên chức có hành vi vi phạm thì vừa có thể gánh chịu trách nhiệm kỷ luật, vừa có thể gánh chịu TNHS. Do đó, Quy chế đưa ra quy định “bị buộc thôi việc hoặc đề nghị truy cứu TNHS” đã tạo ra sự ngộ nhận là người vi phạm chỉ có thể gánh chịu một trong hai loại trách nhiệm pháp lý vừa nêu.

            Thứ ba, nhiều quy định trong Quy chế không có sự nhất quán

Để đảm bảo kỳ thi trung học phổ thông quốc gia diễn ra an toàn, nghiêm túc và minh bạch, Quy chế cho phép thí sinh tham gia giám sát bằng việc được mang và sử dụng các loại máy ghi âm và ghi hình (máy chỉ có chức năng ghi thông tin mà không truyền được thông tin, không nhận được tín hiệu âm thanh, hình ảnh trực tiếp nếu không có thiết bị hỗ trợ khác) để ghi nhận chứng cứ và chuyển cho những người có trách nhiệm xử lý[6]. Tuy nhiên, cũng chính quy định này đã tạo ra sự không nhất quán với các điều khoản khác trong Quy chế. 

Cụ thể, điểm i khoản 5 Điều 14 cho phép thí sinh được ra khỏi phòng thi và khu vực thi sau khi hết hai phần ba thời gian làm bài của buổi thi và phải nộp lại toàn bộ bài thi, đề thi, giấy nháp trước khi ra khỏi phòng thi (chỉ áp dụng đối với buổi thi môn tự luận). Mục đích của quy định này là nhằm hạn chế tối đa tình trạng đưa đề thi ra ngoài, từ đó có thể dẫn đến những tiêu cực phát sinh như tình trạng giải đề, phát tán bài giải… Tuy nhiên, Quy chế chỉ quy định cán bộ coi thi thu lại toàn bộ bài làm, đề thi, giấy nháp chứ không quy định thu lại máy ghi âm và ghi hình mà thí sinh được phép mang vào phòng thi. Như vậy, nếu thí sinh ghi âm và ghi hình đề thi và rời khỏi phòng thi sau hai phần ba thời gian làm bài của buổi thi thì khả năng “lọt” đề thi ra ngoài là hoàn toàn có thể. Từ quy định cho phép mang máy ghi âm và ghi hình vào phòng thi để chống tiêu cực có thể dẫn đến một tiêu cực khác là hiện tượng mang đề thi ra khỏi phòng thi khi chưa hết thời gian làm bài của buổi thi. Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển như hiện nay thì chỉ cần đề thi “lọt” ra ngoài và được giải trong vòng vài phút là đã có thể phát sinh tiêu cực chứ chưa nói là đến vài chục phút[7].

Kỳ thi Trung học phổ thông quốc gia năm 2017 là năm đầu tiên xuất hiện bài thi tổ hợp môn gồm Khoa học xã hội (Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân) và Khoa học tự nhiên (Vật lý, Hóa học, Sinh học). Thí sinh sẽ làm bài thi tổ hợp môn với 120 câu trắc nghiệm trong khoảng thời gian 150 phút trên cùng một tờ giấy thi. Mỗi môn thành phần có thời gian làm bài 50 phút. Nếu thí sinh dự thi cả ba môn thi thành phần hay chỉ thi một môn thành phần thì không có vấn đề gì đáng nói. Tuy nhiên, nếu thí sinh dự thi hai môn thi thành phần thì phát sinh nhiều bất cập. Cụ thể, nếu thí sinh thi hai môn thi thành phần liên tiếp thì ngay sau khi hết giờ làm bài của môn thi thành phần thứ nhất, thí sinh phải dừng bút, cán bộ coi thi thu đề thi và giấy nháp của thí sinh. Sau đó, cán bộ coi thi phát đề thi môn thi thành phần tiếp theo và giấy nháp mới. Khi hết giờ làm bài môn thi thành phần thứ hai, cán bộ coi thi thu đề thi, giấy thi, giấy nháp của thí sinh và cho thí sinh ra về dưới sự hướng dẫn của cán bộ giám sát. Trường hợp thí sinh thi hai môn thi thành phần không liên tiếp thì ngay sau khi hết giờ làm bài của môn thi thành phần thứ nhất, thí sinh phải dừng bút, nộp đề thi, giấy nháp cho cán bộ coi thi. Thí sinh phải ngồi nguyên vị trí, giữ trật tự, úp Phiếu trả lời trắc nghiệm xuống mặt bàn và bảo quản Phiếu trả lời trắc nghiệm trong suốt thời gian chờ thi môn thành phần tiếp theo[8]. Như vậy, nếu thí sinh thi hai môn thi thành phần liên tiếp thì chỉ có vỏn vẹn 100 phút để tư duy, làm bài, chỉnh sửa và nộp bài. Ngược lại, nếu thí sinh thi hai môn thi thành phần không liên tiếp thì sẽ có trọn vẹn 150 phút để tư duy, làm bài, chỉnh sửa và nộp bài. Cùng tham gia hai môn thi thành phần nhưng tại sao khoảng thời gian tư duy, suy nghĩ về bài thi lại có sự khác nhau lớn đến như vậy? Tất nhiên, khi xây dựng Quy chế, nhà làm luật đã tính đến phương án phòng ngừa là khi kết thúc môn thi thành phần, cán bộ coi thi phải thu lại đề thi, giấy nháp để thí sinh không thể tiếp tục làm bài môn thành phần đó. Quy chế có thể không cho phép thí sinh làm bài trong 50 phút chờ thi môn thành phần tiếp theo nhưng không thể cấm thí sinh nhớ, tư duy, suy nghĩ về bài thi môn thành phần đã làm trước đó. Quan trọng hơn là thí sinh thi hai môn thi thành phần không liên tiếp sẽ có cơ hội rất lớn trong việc tư duy, suy nghĩ và chỉnh sửa bài thi môn thành phần đã làm trước đó - điều mà thí sinh thi hai môn thi thành phần liên tiếp không thể có được. Thiết nghĩ, bất cập này cần được khắc phục để trong tương lai, nếu vẫn duy trì bài thi tổ hợp môn thì không tạo ra sự bất bình đẳng giữa các thí sinh thi hai môn thi thành phần không liên tiếp và thí sinh thi hai môn thi thành phần liên tiếp.

Trong quá trình thi, vai trò của cán bộ coi thi là rất quan trọng. Nhằm tạo ra chuẩn mực pháp lý rõ ràng, nhà làm luật quy định chi tiết trách nhiệm của từng cán bộ coi thi. Cụ thể, khi có hiệu lệnh, cán bộ coi thi thứ nhất gọi tên thí sinh vào phòng thi, cán bộ coi thi thứ hai dùng Thẻ dự thi và Danh sách ảnh của thí sinh để đối chiếu, nhận diện thí sinh, hướng dẫn thí sinh ngồi đúng chỗ quy định. Khi có hiệu lệnh, cán bộ coi thi thứ nhất đi nhận đề thi, cán bộ coi thi thứ hai nhắc nhở thí sinh những điều cần thiết về kỷ luật phòng thi. Khi có hiệu lệnh, cán bộ coi thi thứ nhất giơ cao phong bì đề thi để thí sinh thấy rõ cả mặt trước và mặt sau còn nguyên nhãn niêm phong, yêu cầu hai thí sinh chứng kiến và ký vào biên bản xác nhận bì đề thi còn nguyên nhãn niêm phong. Khi thí sinh bắt đầu làm bài, cán bộ coi thi thứ nhất đối chiếu ảnh trong Thẻ dự thi và Danh sách ảnh của thí sinh với thí sinh để nhận diện thí sinh, ghi rõ họ tên và ký vào các tờ giấy thi, giấy nháp của thí sinh; cán bộ coi thi thứ hai bao quát chung. Có thể nói, Quy chế quy định rất tỉ mỉ trách nhiệm của từng cán bộ coi thi. Tuy nhiên, trách nhiệm đánh số báo danh cho thí sinh - một công việc quan trọng của cán bộ coi thi lại không được đề cập đến trong Quy chế. Công việc đánh số báo danh rất quan trọng, liên quan đến nhiều vấn đề khác như phát đề thi trắc nghiệm, ngăn ngừa tiêu cực… nhưng lại không rõ trách nhiệm thuộc về cán bộ coi thi thứ nhất hay cán bộ coi thi thứ hai? Do pháp luật không quy định cụ thể nên tạo ra sự tùy nghi trong áp dụng. Theo khảo sát của chúng tôi, có điểm thi quy định cán bộ coi thi thứ nhất đánh số báo danh, có điểm thi lại quy định cán bộ coi thi thứ hai thực hiện công việc này[9].

Thứ tư, thẩm quyền “tước quyền vào học của thí sinh vi phạm quy chế thi” quy định chưa chính xác

Điều 49 Quy chế quy định, nếu thi sinh vi phạm quy chế thi thì tùy theo tính chất, mức độ của hành vi sẽ bị hủy bỏ kết quả thi, bị tước quyền vào học ở các trường ngay trong năm đó và tước quyền dự thi trong hai năm tiếp theo. Theo quy định trên, thẩm quyền ban hành quyết định hủy bỏ kết quả thi, tước quyền vào học ở các trường ngay trong năm đó và tước quyền dự thi trong hai năm tiếp theo thuộc về Giám đốc Sở Giáo dục và đào tạo. Tuy nhiên, quy định thẩm quyền “tước quyền vào học ở các trường ngay trong năm đó” đối với thí sinh vi phạm của Giám đốc Sở Giáo dục và đào tạo là không có cơ sở cả về lý luận lẫn thực tiễn. Về logic, sau khi có kết quả thi, thí sinh được dùng kết quả đó xét tuyển vào các trường đại học, cao đẳng. Sau đó, các trường sẽ xét duyệt hồ sơ và ban hành Quyết định công nhận thí sinh trúng tuyển. Quyết định công nhận thí sinh trúng tuyển sẽ do trường đại học, cao đẳng ban hành[10]. Trên cơ sở Quyết định công nhận trúng tuyển, thí sinh sẽ được vào học tại trường đại học, cao đẳng. Do đó, về mặt lý luận, thẩm quyền “tước quyền vào học ở các trường ngay trong năm đó” đối với thí sinh vi phạm phải thuộc về chính trường đại học, cao đẳng đã ban hành Quyết định công nhận thí sinh trúng tuyển chứ không thể thuộc về Giám đốc Sở Giáo dục và đào tạo. Dưới góc độ thực tiễn, Giám đốc Sở Giáo dục và đào tạo với trường đại học, cao đẳng là hai chủ thể hoàn toàn độc lập với nhau. Do đó, quyết định “tước quyền vào học đối với thí sinh vi phạm quy chế thi” của Giám đốc Sở Giáo dục và đào tạo không đương nhiên có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các trường đại học, cao đẳng. Giám đốc Sở Giáo dục và đào tạo cũng không phải là cấp trên trực tiếp của trường đại học, cao đẳng nên không thể dùng quyết định của mình để “phủ định” Quyết định công nhận thí sinh trúng tuyển của trường đại học, cao đẳng.

Thứ năm, quy định về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo không rõ ràng

Theo Quy chế, cá nhân, tổ chức có quyền khiếu nại, tố cáo đối với những vấn đề liên quan đến việc thi cử và việc khiếu nại, tố cáo phải theo quy định của pháp luật. Theo “quy định của pháp luật” ở đây, trước hết là phải theo Luật Khiếu nại năm 2011 và Luật Tố cáo năm 2011 vì hai đạo luật này là những văn bản có giá trị pháp lý cao nhất điều chỉnh hoạt động khiếu nại, tố cáo.

Quy chế quy định thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong kỳ thi thuộc về Hội đồng thi[11]. Tuy nhiên, thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Hội đồng thi lại không được điều chỉnh trong Luật Khiếu nại năm 2011. Theo Luật Khiếu nại năm 2011 thì chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại bao giờ cũng thuộc về cá nhân chứ không thuộc về tập thể[12]. Trong khi đó, Hội đồng thi là một tập thể do Giám đốc Sở Giáo dục và đào tạo ra quyết định thành lập[13]. Như vậy, dẫu biết rằng Quy chế cho phép cá nhân, tổ chức có quyền khiếu nại nhưng cơ sở pháp lý cho việc khiếu nại được quy định trong văn bản nào thì pháp luật hoàn toàn không nói đến. Các văn bản pháp luật hiện hành không quy định, Quy chế cũng chỉ quy định rất sơ sài về vấn đề này.

Tương tự, thẩm quyền giải quyết tố cáo được quy định trong Quy chế cũng mâu thuẫn với Luật Tố cáo năm 2011. Theo Luật Tố cáo năm 2011 thì thẩm quyền giải quyết tố cáo được quy định từ Điều 12 đến Điều 17. Tuy nhiên, trong các điều luật này hoàn toàn không quy định thẩm quyền giải quyết tố cáo của Hội đồng thi như cách quy định trong Quy chế.

Thứ sáu, sự khiếm khuyết về kỹ thuật lập pháp trong Quy chế

Khi ban hành một văn bản quy phạm pháp luật thì các chủ thể có thẩm quyền cần chú trọng không chỉ đến tính hợp pháp mà còn phải chú trọng tính hợp lý của văn bản. Tính hợp lý của văn bản bên cạnh yêu cầu về sự kịp thời, khả thi thì ngôn ngữ sử dụng trong văn bản phải rõ ràng, ngắn gọn, dễ đọc, dễ hiểu. Sự chính xác của ngôn ngữ trong văn bản là cần thiết. Nếu viết sai chính tả, thiếu chữ hay thừa chữ thì xem như không đạt yêu cầu về kỹ thuật lập pháp.  

Khoản 1 Điều 3 Quy chế quy định: “Để xét công nhận tốt nghiệp THPT, thí sinh học chương trình Giáo dục THPT phải dự thi bốn bài thi, gồm ba bài thi độc là Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ và một bài thi do thí sinh tự chọn trong số hai bài thi tổ hợp; thí sinh học chương trình giáo dục thường xuyên cấp THPT phải dự thi ba bài thi, gồm hai bài thi độc lập là Toán, Ngữ văn và một bài thi do thí sinh tự chọn trong số hai bài thi tổ hợp”. Theo chúng tôi, Quy chế đã sử dụng thuật ngữ không chính xác bởi không thể có “bài thi độc mà phải là “bài thi độc lập”. Sự sai sót này không ảnh hưởng nhiều đến chất lượng của văn bản và không tạo ra sự khó hiểu đối với người đọc. Tuy nhiên, nhằm đảm bảo tính chuẩn xác của ngôn ngữ thì phải tiến hành sửa đổi khiếm khuyết này.

2. Các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện Quy chế

Thứ nhất, tình trạng thừa quy phạm pháp luật là điều không cần thiết. Tiết kiệm pháp luật không đơn thuần chỉ là cắt, giảm chi phí về thời gian, công sức, tiền bạc cho việc xây dựng và ban hành pháp luật mà còn phải loại bỏ những quy phạm pháp luật thừa trong hệ thống pháp luật, thậm chí trong từng văn bản pháp luật[14]. Nhằm đảm bảo yếu tố tiết kiệm pháp luật, hạn chế tình trạng vừa thừa vừa thiếu các quy định pháp luật, nhà làm luật cần bãi bỏ quy định về những vật dụng “không được mang vào phòng thi”. Có thể “ngụ ý” của nhà làm luật là muốn “nhấn mạnh” nếu thí sinh mang những vật dụng cấm vào phòng thi sẽ bị áp dụng hình thức đình chỉ thi[15]. Tuy nhiên, sự “nhấn mạnh” này là không cần thiết và gây mâu thuẫn với các điều khoản khác. Theo chúng tôi, một khi đã quy định những vật dụng chỉ được phép mang vào phòng thi thì không cần thiết phải quy định những vật không được mang vào phòng thi. Bỏ quy định về “những vật dụng không được mang vào phòng thi” sẽ đảm bảo tính thống nhất giữa các quy định trong cùng một văn bản quy phạm pháp luật. Nếu muốn đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa, có thể tích hợp điểm c khoản 4 Điều 14 vào điểm b, khoản 3 Điều 49 Quy chế. Theo đó, khoản 3 Điều 49 sẽ được sửa đổi như sau:      

“3. Đình chỉ thi đối với các thí sinh vi phạm một trong các lỗi sau đây:

a) Đã bị cảnh cáo một lần nhưng trong giờ thi môn đó vẫn tiếp tục vi phạm quy chế thi ở mức khiển trách hoặc cảnh cáo;

b) Mang vào phòng thi vũ khí, chất gây nổ, gây cháy, đồ uống có cồn, giấy than, bút xóa, tài liệu, thiết bị truyền tin hoặc chứa thông tin có thể lợi dụng để gian lận trong quá trình làm bài thi và quá trình chấm thi”…

            Thứ hai, cần bãi bỏ các quy định về hình thức kỷ luật “hạ ngạch”, “chuyển đi làm công tác khác” trong Quy chế nhằm tạo ra sự thống nhất trong hệ thống pháp luật. Biện pháp “chuyển đi làm công tác khác” nếu cần thì phải được minh định trong một điều khoản khác chứ không nằm “lẩn khuất” trong những điều luật về các hình thức kỷ luật.

            Công chức, viên chức có hành vi vi phạm quy chế thi thì vừa có thể gánh chịu trách nhiệm kỷ luật, vừa có thể gánh chịu TNHS. Do đó, Quy chế cần phải thể hiện rõ nội dung này. Theo chúng tôi, cần sửa đổi điểm d khoản 1 Điều 48 như sau: “người có một trong các hành vi sai phạm sau đây thì bị buộc thôi việc; tùy theo hành vi vi phạm có thể bị truy cứu TNHS”.

            Thứ ba, nhằm giải quyết bất cập trong quy định thí sinh có thể mang máy ghi âm và ghi hình có chứa nội dung đề thi ra khỏi phòng thi khi chưa hết thời gian làm bài của buổi thi, cần bổ sung trong Quy chế quy định về việc gửi giữ máy ghi âm và ghi hình tại điểm thi. Theo đó, đối với các môn tự luận, thí sinh có thể ra khỏi phòng thi và khu vực thi sau khi hết hai phần ba thời gian làm bài của buổi thi với điều kiện là phải nộp lại toàn bộ bài thi, đề thi, giấy nháp. Đối với máy ghi âm và ghi hình thì thí sinh phải gửi giữ tại điểm thi cho đến khi kết thúc thời gian làm bài mới được nhận lại. Máy ghi âm và ghi hình sẽ được niêm phong trước sự chứng kiến của thí sinh và được bảo quản trong hòm, tủ hay két sắt của điểm thi.

            Điều 16 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”. Bình đẳng không có nghĩa là chia đều sự giàu sang hay nghèo khó mà là chia đều các cơ hội. Các rào cản về cơ hội chính là con đẻ của sự bất công[16]. Pháp luật phải là một đại lượng công bằng và phải là một thiết chế đảm bảo cho sự bình đẳng của công dân. Với ý nghĩa đó, nếu thí sinh thi hai môn thi thành phần, cho dù có liên tiếp hay không liên tiếp thì phải được đảm bảo về cơ hội là như nhau. Do đó, nên thiết kế mỗi môn thi thành phần sẽ được làm trên một tờ giấy thi độc lập. Khi kết thúc môn thi đó, thí sinh phải nộp lại giấy thi. Tất nhiên, khi thực hiện theo cách thức này, số tờ giấy thi sẽ nhiều hơn nhưng đổi lại chúng ta sẽ đảm bảo được yếu tố công bằng về cơ hội cho các thí sinh.

            Bên cạnh đó, vấn đề đánh số báo danh đóng vai trò quan trọng. Do đó, trách nhiệm đánh số báo danh thuộc về cán bộ coi thi nào cần được minh định. Hiện nay, Quy chế quy định: “cán bộ coi thi thứ hai hướng dẫn thí sinh ngồi đúng chỗ quy định”. Do đó, sẽ là hợp lý nếu trách nhiệm đánh số báo danh tại phòng thi thuộc về cán bộ coi thi thứ hai. Tư duy logic cho phép ta kết luận rằng khi cán bộ coi thi thứ hai tiến hành đánh số báo danh thì mới có thể hướng dẫn thí sinh ngồi đúng số báo danh một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất.

            Thứ tư, như đã trình bày, quy định Giám đốc Sở Giáo dục và đào tạo có quyền “tước quyền vào học ở các trường ngay trong năm đó” đối với thí sinh vi phạm là không có cơ sở. Ngoài ra, nếu chỉ căn cứ vào Điều 49 Quy chế thì sẽ không rõ ràng về thủ tục áp dụng. Do đó, cần sửa đổi Điều 49 Quy chế theo hướng Giám đốc Sở Giáo dục và đào tạo công bố công khai hành vi vi phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng đồng thời có văn bản đề nghị trường đại học, cao đẳng “tước quyền vào học ở các trường ngay trong năm đó” đối với thí sinh vi phạm. Trên cơ sở đó, trường đại học, cao đẳng sẽ ban hành quyết định tước quyền vào học.

            Thứ năm, tiến hành rà soát các quy định về khiếu nại, tố cáo trong Quy chế nhằm đảm bảo việc giải quyết khiếu nại, tố cáo đúng thẩm quyền, đúng thủ tục. Theo chúng tôi, nếu không quy định cụ thể, rõ ràng về vấn đề khiếu nại, tố cáo sẽ gây ra nhiều khó khăn cho quá trình áp dụng pháp luật, đồng thời cũng không đạt hiệu quả trong việc thực hiện quyền này của cá nhân, tổ chức trên thực tế.

            Cuối cùng, sự chính xác của ngôn ngữ trong văn bản là cần thiết vì như thế sẽ không gây ra sự mâu thuẫn, thiếu nhất quán giữa các điều khoản. Do đó, cần sửa đổi cụm từ “bài thi độc” thành bài thi độc lập” tại khoản 1 Điều 3 Quy chế. Sửa đổi này tuy nhỏ nhưng rất quan trọng vì đảm bảo tính chính xác, khuôn mẫu của văn bản quy phạm pháp luật./.



[1] Báo Điện tử VTV, Kỳ thi THPT quốc gia năm 2017 được đánh giá là thành công, ngày 24/06/2017.

Truy cập http://vtv.vn/giao-duc/ky-thi-thpt-quoc-gia-nam-2017-duoc-danh-gia-la-thanh-cong-20170624192052613 .htm.

 

[2] Nguyễn Cảnh Hợp, Thể chế công vụ, Nxb. Tư pháp, năm 2011, tr. 277.

[3] Khoản 3, Điều 58 Luật Cán bộ, công chức năm 2008.

[4] Điều 16 Quy chế quy định: Đề thi, hướng dẫn chấm, đáp án, thang điểm chưa công bố thuộc danh mục bí mật Nhà nước độ “Tối mật”.

[5] Điều 79 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Điều 57 Luật Viên chức năm 2010.

[6] Báo Điện tử VTV, Thí sinh được tham gia giám sát kỳ thi trung học phổ thông 2017, ngày 20/6/2017.

http://vtv.vn/giao-duc/thi-sinh-duoc-tham-gia-giam-sat-ky-thi-thpt-2017-20170620103908887.htm

[7] Kỳ thi trung học phổ thông quốc gia năm 2017 có một môn thi tự luận là Văn (120 phút). Như vậy, sau 80 phút làm bài, thí sinh sẽ được phép rời khỏi phòng thi và khu vực thi. Nếu thí sinh mang đề thi ra ngoài thì trong vòng 40 phút còn lại, đề thi có thể đã được giải hoàn tất và phát tán rộng rãi.

[8] Xem thêm Phụ lục IV Công văn số 417/BGDĐT-KTKĐCLGD hướng dẫn thực hiện Quy chế thi trung học phổ thông quốc gia và xét công nhận tốt nghiệp ngày 10/2/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

[9] Ví dụ, tại các điểm thi Trần Đại Nghĩa, Phan Văn Hòa, Hiếu Phụng (Hội đồng thi tỉnh Vĩnh Long), Trưởng điểm thi yêu cầu cán bộ coi thi thứ nhất đánh số báo danh. Tuy nhiên, tại các điểm thi Phạm Hùng, Nguyễn Văn Thiệt, Mang Thít (Hội đồng thi tỉnh Vĩnh Long), Trưởng điểm thi lại yêu cầu cán bộ coi thi thứ hai đánh số báo danh.

[10] Ví dụ, Quyết định số 1633/QĐ-HĐTSĐHCĐ ngày 01/9/2016 của Hội đồng tuyển sinh Trường Đại học Công đoàn về việc công nhận thí sinh đạt điểm trúng tuyển hệ đại học chính quy năm 2016.

[11] Xem thêm Điều 8 Quy chế.

[12] Cao Vũ Minh, Để khiếu nại xứng tầm là một quyền hiến định, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 10, năm 2012.

[13] Khoản 1 Điều 8 quy chế quy định: “Giám đốc Sở Giáo dục và đào tạo ra quyết định thành lập Hội đồng thi và các Ban của Hội đồng thi (bao gồm lãnh đạo các Ban) để thực hiện các công việc của kỳ thi.

Thành phần Hội đồng thi

- Chủ tịch: Giám đốc Sở Giáo dục và đào tạo hoặc Phó Giám đốc được Giám đốc ủy quyền;

- Phó Chủ tịch: Lãnh đạo Sở Giáo dục và đào tạo, lãnh đạo trường đại học, cao đẳng phối hợp. Trường hợp đặc biệt, Phó Chủ tịch có thể là Trưởng các phòng, ban của Sở Giáo dục và đào tạo;

- Các ủy viên: Lãnh đạo các phòng, ban thuộc Sở Giáo dục và đào tạo; lãnh đạo phòng, ban và tương đương của trường đại học, cao đẳng phối hợp. Ủy viên thường trực là lãnh đạo Phòng Khảo thí của Sở Giáo dục và đào tạo”.

[14] Hoàng Thị Kim Quế, Tiết kiệm pháp luật và lãng phí pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 19, năm 2011.

[15] Điểm b, khoản 3 Điều 49 Quy chế quy định: “Thí sinh mang vật dụng trái phép theo quy định tại Điều 14 Quy chế này vào phòng thi sẽ bị đình chỉ thi”.

[16] Nguyễn Sĩ Dũng, Những nghịch lý của thời gian, Nxb. Thời đại, năm 2011, tr. 165.

 

Cao Vũ Minh, TS., Giảng viên khoa Hành chính - Nhà nước, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Hoàn thiện pháp luật về cưỡng chế thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam (19/07/2018)
Hoàn thiện quy trình ban hành văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh (13/07/2018)
Sự cần thiết bổ sung các quy định về hợp đồng cộng đồng vào Bộ luật Dân sự năm 2015 (03/07/2018)
Pháp luật về quảng cáo: những bất cập và kiến nghị hoàn tiện (27/06/2018)
Bình luận về nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (26/06/2018)
Những vấn đề cần lưu ý khi áp dụng Điều 129 Bộ luật Dân sự về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức (19/06/2018)
Đảm bảo sự thống nhất trong các quy định về biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá (18/06/2018)
Những vấn đề cần lưu ý khi áp dụng Điều 129 Bộ luật Dân sự về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức (19/06/2018)
3.jpg
Đồng chí Nguyễn Đình Quyền, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc UBTVQH và ông Rhee, Ik Hyeon, Viện trưởng Viện Nghiên cứu pháp luật thuộc Chính phủ Hàn Quốc ký thỏa thuận hợp tác giữa hai cơ quan nghiên cứu tại Hà Nội, ngày 7/6/2018
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em qua công tác xét xử ở khu vực miền Trung - Tây nguyên

Tổng quan và đánh giá các quy định của pháp luật về đại biểu Quốc hội ở Việt Nam

Đặc điểm, yêu cầu và thực trạng phân cấp quản lý đất đai hiện nay

Tổ chức thi hành pháp luật theo Hiến pháp năm 2013 - nhân tố đảm bảo thực hiện nguyên tắc pháp quyền trong đời sống nhà nước và xã hội

Đồng bộ hóa luật tư hiện nay trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường: sự cần thiết và định hướng

kinh nghiệm xây dựng thể chế tự quyết cho các thành phố văn minh

Một số góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật An ninh mạng

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách kiến quốc trên nền tảng dân chủ

Khai mạc Phiên họp thứ 25 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Vai trò của Toà Hành chính trong bảo đảm quyền công dân theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân