Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ tư, 25/04/2018, 03:58(GMT+7)
 
Thực tiễn pháp luật

Biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và những vấn đề đặt ra khi triển khai áp dụng
Biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và những vấn đề đặt ra khi triển khai áp dụng
Ảnh: Internet

Tóm tắt: Theo quy định của BLHS năm 2015, pháp nhân thương mại cũng là chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự. Giống như đối với chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự là cá nhân, biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân được áp dụng trong những trường hợp nhất định nhằm ngăn chặn tội phạm, tạo thuận lợi cho quá trình giải quyết vụ án hình sự, bảo đảm thi hành án hình sự đặc biệt là phần bản án liên quan đến bồi thường thiệt hại. Quy định về áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử lần đầu tiên được quy định trong BLTTHS. Nghiên cứu này phân tích làm rõ một số vướng mắc trong quy định của pháp luật về các biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân để có định hướng trong quá trình triển khai áp dụng.

Từ khóa: Biện pháp cưỡng chế pháp nhân; pháp nhân phạm tội; Bộ luật Tố tụng Hình sự; bảo đảm thi hành án

Abstract: Under the Criminal Code of 2015, a legal entity is now the one subject to the criminal liability. Like individuals subject to criminal liability, the coercive measures against the legal entities are being applied in certain cases in order to prevent crimes, facilitating the process of resolving criminal cases, guaranteeing the enforcement of criminal judgments, especially judgments related to damages. The legal regulation of applying the coercive measures against the legal entities which is prosecuted, investigated, indicted, adjudicated for the first time are contained within the Criminal Procedure  Code. This article is to analyze and clarify some entanglements of the criminal procedure regulations, up to date toward the coercive measure against the legal entities for future application.

Keywords: The coercive measures against the legal entities; the crime of legal entity; Criminal Procedure  Code; ensure the execution of the judgment


 

1. Khái quát các biện pháp cưỡng chế áp dụng đối với pháp nhân theo quy định của BLTTHS năm 2015

Nhằm ngăn việc pháp nhân tiếp tục phạm tội, hạn chế hậu quả do hành vi phạm tội gây ra và bảo đảm thi hành án liên quan đến phạt tiền, bồi thường thiệt hại, Điều 436 BLTHS năm 2015 quy định pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có thể bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế:

- Kê biên tài sản liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân;

- Phong tỏa tài khoản của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân;

- Tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân;

- Buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án.

Theo đó, chủ thể bị áp dụng biện pháp cưỡng chế là pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử - là pháp nhân đã thực hiện hành vi mà BLHS quy định là tội phạm (Điều 433BLTTH năm 2015). Các pháp nhân thương mại không bị khởi tố với tư cách bị can, không bị áp dụng biện pháp cưỡng chế nêu trên.[1]

Theo quy định tại Điều 436 BLTTHS năm 2015, thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử gồm: Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án.[2]

Thời hạn áp dụng các biện pháp cưỡng chế không được quá thời hạn điều tra, truy tố, xét xử.[3]

2. Biện pháp kê biên tài sản

Khoản 1 Điều 437 quy định: biện pháp kê biên tài sản áp dụng đối với pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội mà BLHS quy định hình phạt tiền hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại. Theo quy định tại Điều 76 BLHS năm 2015, tất cả các tội phạm pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự đều quy định hình phạt tiền nên biện pháp kê biên có thể được áp dụng trong tất cả các trường hợp pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử.

Ngoài ra, kê biên tài sản còn được áp dụng đối với các pháp nhân không bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử mà tham gia tố tụng với tư cách khác như bị đơn dân sự, chủ thể có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án…[4]. Việc kê biên tài sản đối với các pháp nhân không bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử trong trường hợp này nhằm bảo đảm bồi thường thiệt hại hoặc thực hiện nghĩa vụ pháp lý liên quan đến hoàn trả tiền trong các hợp đồng bị tuyên vô hiệu phù hợp với quy định tại Điều 128 BLTTHS năm 2015: “kê biên chỉ áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội mà BLHS quy định hình phạt tiền hoặc có thể bị tịch thu tài sản hoặc có thể bị tịch thi tài sản hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại”. Tuy nhiên, thủ tục tiến hành kê biên tài sản quy định tại Điều 128 chỉ phù hợp với kê biên tài sản của cá nhân, không phù hợp với kê biên tài sản của pháp nhân. Trong khi đó, chương XXIX về thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân có giới hạn phạm vi áp dụng tại Điều 431 là pháp nhân bị tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố, bị điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Vì vậy, để thống nhất và có cơ sở pháp lý tiến hành kê biên tài sản đối với các pháp nhân không phải là đối tượng bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo điều 437 BLTTH năm 2015 cần có bổ sung quy định tại Điều 128 LTTHS năm 2015 với nội dung: “Thủ tục kê biên tài sản của cơ quan, tổ chức tiến hành theo quy định tại Điều 437 BLTTHS năm 2015”.

Về tài sản bị kê biên, khoản 2 Điều 437 BLTTHS quy định: “Chỉ kê biên phần tài sản tương ứng với mức có thể bị tịch thu, phạt tiền hoặc bồi thường thiệt hại”. Trên thực tế, tài sản bị kê biên của pháp nhân có thể rơi vào các trường hợp sau: thuộc sở hữu chung của nhiều người; tài sản bị kê biên đang cho bên thứ ba thuê hoặc giữ; tài sản bị kê biên đã thế chấp tại ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng và ngân hàng cũng không quản lý được tài sản thế chấp này; tài sản là nhà ở, vật kiến trúc trên đất nhưng pháp nhân không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là của chủ thể khác; không xác định được tài sản kê biên đang ở đâu…[5]. Đây cũng là những trường hợp phát sinh khi kê biên tài sản của cá nhân. Những  vướng mắc này tồn tại trong suốt thời gian thi hành BLTTHS năm 2003 và sẽ tiếp tục là những khó khăn, vướng mắc khi thi hành BLTTHS năm 2015. Vì vậy, việc có hướng dẫn cụ thể thực sự là cần thiết khi BLTTHS đã có hiệu lực pháp luật.

Theo quy định, tài sản bị kê biên được giao cho người đứng đầu pháp nhân có trách nhiệm bảo quản; nếu để xảy ra việc tiêu dùng, sử dụng trái phép, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu, hủy hoại tài sản bị kê biên thì người này phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Khi kê biên tài sản của pháp nhân phải có mặt những người sau: Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân; Đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi pháp nhân có tài sản bị kê biên; Người chứng kiến.

Trường hợp pháp nhân có người đứng đầu nhiều hơn một người việc xác định chủ thể nào có trách nhiệm bảo quản tài sản kê biên cần được hướng dẫn cụ thể.[6]

3. Phong tỏa tài khoản

Theo quy định tại Điều 438 BLTTHS, phong tỏa tài khoản áp dụng đối với pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội mà BLHS quy định hình phạt tiền hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại và có căn cứ xác định pháp nhân đó có tài khoản tại tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc Nhà nước.

Như vậy, cũng giống như đối với biện pháp kê biên tài sản, các pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đều có thể bị phong tỏa tài khoản nếu có căn cứ xác định pháp nhân đó có tài khoản tại tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc Nhà nước do tất cả tội phạm quy định pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự đều áp dụng loại hình phạt tiền.

Tuy nhiên, phong tỏa tài khoản không chỉ áp dụng đối với tài khoản của pháp nhân mà cũng được áp dụng đối với tài khoản của cá nhân, tổ chức khác nếu có căn cứ xác định số tiền trong tài khoản đó liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân. Trong trường hợp này việc xác định số tiền trong tài khoản bị phong tỏa có liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân phải rõ ràng.

Chỉ phong tỏa số tiền trong tài khoản tương ứng với mức có thể phạt tiền hoặc bồi thường thiệt hại. Những người có thẩm quyền kê biên tài sản của pháp nhân cũng có quyền ra quyết định phong tỏa tài khoản của pháp nhân. 

Cơ quan có thẩm quyền phong tỏa tài khoản phải giao quyết định phong tỏa tài khoản cho đại diện tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc Nhà nước đang quản lý tài khoản của pháp nhân hoặc tài khoản của cá nhân, tổ chức khác liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân. Việc giao, nhận lệnh phong tỏa tài khoản phải được lập thành biên bản theo quy định của BLTTHS. Ngay sau khi nhận được lệnh phong tỏa tài khoản, tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc Nhà nước đang quản lý tài khoản của pháp nhân hoặc tài khoản của tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động phạm tội của pháp nhân phải thực hiện ngay việc phong tỏa tài khoản và lập biên bản về việc phong tỏa tài khoản.

Trình tự, thủ tục phong tỏa tài khoản của pháp nhân thực hiện theo quy định tại Điều 129 BLTTHS: Biên bản về việc phong tỏa tài khoản được lập thành năm bản, trong đó một bản được giao ngay cho người bị buộc tội, một bản giao cho người khác có liên quan đến người bị buộc tội, một bản gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp, một bản đưa vào hồ sơ vụ án, một bản lưu tại tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc Nhà nước. Khi áp dụng quy định này trong phong tỏa tài khoản của pháp nhân có thể hiểu một bản được giao cho pháp nhân bị phong tỏa tài khoản, một bản giao cho tổ chức, cá nhân liên quan đến pháp nhân (nếu có).[7] Tuy nhiên cách diễn giải này chưa rõ ràng, khó khăn cho cơ quan thực thi pháp luật và không thể áp dụng thống nhất. Vì vậy, cần có hướng dẫn thống nhất: giao một bản cho pháp nhân phải quy định rõ là giao cho ai (người đứng đầu của pháp nhân hay người đại diện hợp pháp), người khác có liên quan đến pháp nhân là chủ thể nào.

Vướng mắc thứ hai khi phong tỏa tài khoản pháp nhân là Ngân hàng, tổ chức tín dụng nhận được quyết định phong tỏa tài khoản thì thường phải có thời gian báo cáo, xin ý kiến lãnh đạo đơn vị mà không thể thực hiện việc phong tỏa “ngay” như luật định do liên quan đến quyền lợi của khách hàng. Vì vậy, cần có quy định rõ thời gian tối thiểu là bao lâu để thực hiện yêu cầu của Cơ quan có thẩm quyền, việc quy định phong tỏa “ngay” như trong BLTTHS năm 2015 mới thể hiện được tính kịp thời nhưng lại khó bảo đảm khả năng thực hiện trên thực tế.

4. Tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân

Tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân chỉ áp dụng khi có căn cứ xác định hành vi phạm tội của pháp nhân gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của con người, môi trường hoặc trật tự, an toàn xã hội.

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự nhằm xác định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, việc quyết định áp dụng biện pháp tạm đình chỉ hoạt động của pháp nhân không phải là tạm đình chỉ hoạt động trong mọi lĩnh vực mà pháp nhân đó đang hoạt động. Việc tạm đình chỉ hoạt động của pháp nhân thương mại bị khởi tố, điều tra, truy tố phải được hiểu là tạm đình chỉ hoạt động trong một hoặc một số lĩnh vực hoạt động gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe con người, môi trường hoặc an ninh trật tự, an toàn xã hội. Hiểu và áp dụng như vậy phù hợp với quy định của BLHS năm 2015 về hình phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn và đình chỉ hoạt động vĩnh viễn[8]. Cơ quan có thẩm quyền áp dụng căn cứ vào các lĩnh vực hoạt động mà pháp nhân thương mại đăng ký kinh doanh, hoạt động, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện để xác định rõ tạm đình chỉ hoạt động trong lĩnh vực nào. Không phải trong mọi trường hợp đều  tạm đình chỉ hoạt động của pháp nhân trên mọi lĩnh vực hoạt động của pháp nhân vì biện pháp này khi áp dụng sẽ ảnh hưởng không chỉ đến hoạt động bình thường của pháp nhân mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến người lao động của pháp nhân đó.

Mặc dù BLTTHS không quy định cụ thể nhưng đặt trong mối liên hệ với quy định của BLHS thì có thể hiểu biện pháp cưỡng chế này chỉ áp dụng với pháp nhân thương mại nếu pháp nhân đó có thể bị áp dụng hình phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.[9] 

Thời hạn tạm đình chỉ hoạt động của pháp nhân không được quá thời hạn điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của BLTTHS. Thời hạn tạm đình chỉ đối với pháp nhân bị kết án không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm pháp nhân chấp hành án.

Khi áp dụng biện pháp này đặc biệt lưu ý về thời hạn áp dụng, bởi hình phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn của pháp nhân quy định tại Điều 78 BLHS xác định từ 6 tháng đến 3 năm. Vì vậy trong trường hợp, hình phạt có khả năng áp dụng là đình chỉ hoạt động vĩnh viễn thì việc áp dụng biện pháp cưỡng chế tạm đình chỉ hoạt động sẽ khó xảy ra vấn đề phức tạp. Tuy nhiên, nếu hình phạt sẽ áp dụng là đình chỉ hoạt động có thời hạn mà thời hạn áp dụng biện pháp cưỡng chế tạm đình chỉ hoạt động là không quá thời hạn điều tra, truy tố, xét xử thì hoàn toàn có khả năng thời hạn áp dụng biện pháp này đã dài hơn thời hạn quy định cho loại hình phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn.

5. Buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án

Biện pháp cưỡng chế này áp dụng đối với pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội mà BLHS quy định hình phạt tiền hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại.

Chỉ buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án tương ứng với mức có thể bị phạt tiền hoặc để bồi thường thiệt hại. Thẩm quyền thuộc về: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp, trường hợp này, quyết định buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp; Hội đồng xét xử.

Chính phủ quy định chi tiết trình tự, thủ tục, mức tiền phải nộp để bảo đảm thi hành án; việc tạm giữ, hoàn trả, nộp ngân sách nhà nước số tiền đã nộp.

6. Một số hạn chế khác trong BLTTHS năm 2015 và lưu ý khi áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử

Thứ nhất, BLTTHS năm 2015 không quy định có thể áp dụng đồng thời nhiều biện pháp hay không hoặc trong trường hợp phải áp dụng nhiều biện pháp thì ưu tiên áp dụng biện pháp nào.[10]

Trong số các biện pháp cưỡng chế luật định áp dụng với pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, ngoài biện pháp tạm đình chỉ hoạt động của pháp nhân có mục đích chính và chủ yếu là ngăn chặn hành vi phạm tội tiếp tục xảy ra, tiếp tục gây thiệt hại, các biện pháp còn lại đều nhằm mục đích để bảo đảm cho việc thi hành hình phạt tiền hoặc bảo đảm bồi thường thiệt hại. Căn cứ vào quy định của pháp luật, đối chiếu với thực tế có thể hiểu đối với một pháp nhân thương mại bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử cùng lúc có thể áp dụng nhiều biện pháp cưỡng chế tố tụng. Bởi có thể áp dụng một biện pháp nhằm ngăn chặn tội phạm tiếp tục xảy ra đồng thời với một biện pháp để bảo đảm thi hành án hoặc hai biện pháp cùng nhằm bảo đảm thi hành án ( Ví dụ: nếu chỉ phong tỏa tài khoản của pháp nhân thì chưa đủ số tiền tương ứng với mức phạt tiền hoặc bồi thường thiệt hại và vì vậy cần áp dụng thêm biện pháp kê biên tài sản…).

Khi lựa chọn biện pháp để áp dụng trong số các biện pháp trên, cần cân nhắc đến hiệu quả và sự ảnh hưởng của biện pháp cưỡng chế áp dụng đối với pháp nhân. Trong số các biện pháp BLTTHS quy định, biện pháp buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án là biện pháp ảnh hưởng ít nhất đến hoạt động của pháp nhân nên được ưu tiên lựa chọn. Nếu pháp nhân không có khả năng tài chính để thực thi biện pháp này, thứ tự lựa chọn sẽ là phong tỏa tài khoản và cuối cùng là kê biên tài sản. Tuy nhiên, việc lựa chọn quyết định cũng cần rất kịp thời vì nếu không kịp thời có thể dẫn đến hiện tượng tẩu tán tài sản. Vì vậy, nếu BLTTHS quy định biện pháp buộc nộp khoản tiền để bảo đảm thi hành án ngoài là biện pháp cưỡng chế độc lập còn là biện pháp thay thế cho biện pháp phong tỏa tài khoản, kê biên tài sản thì sẽ vừa bảo đảm hiệu quả áp dụng vừa hạn chế thiệt hại cho pháp nhân nếu pháp nhân đó vẫn đang trong quá trình hoạt động.

Thứ hai, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân hay không là vấn đề gây tranh cãi. Mặc dù Điều 436 BLTTHS năm 2015 các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân nhưng trong quy định cụ thể về thẩm quyền tại Khoản 4 Điều 437, Khoản 5 Điều 438, Điều 439 và các điều luật dẫn chiếu 128, 129 đều không quy định thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế cho các chủ thể này. Do vậy, cũng có thể kết luận các cơ quan này không có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố.

Vì vậy, Điều 436 BLTTHS năm 2015 có thể sửa đổi, khắc phục hai hạn chế nêu trên như sau: “Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế sau đây đối với pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử…

Kết luận: Những phân tích và đề xuất gợi ý áp dụng trên đây là những phân tích ban đầu, chưa có thời gian kiểm nghiệm. Vì vậy, có khả năng chưa thực sự toàn diện và phần nào mang tính chủ quan. Tác giả rất mong nhận được thêm ý kiến luận bàn của các nhà khoa học để có được cách nhìn nhận toàn diện, đúng đắn và thống nhất trong xây dựng và áp dụng./.

 

 

[1] Trên thực tế, pháp nhân thương mại mặc dù không bị khởi tố với tư cách bị can vẫn có thể bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng. Tác giả sẽ phân tích khi đi vào từng biện pháp ngăn chặn cụ thể.

 [2] Phân tích quy định về các biện pháp cưỡng chế cụ thể cho thấy Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra không có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế này với pháp nhân.  

 [3] Vướng mắc trong thời hạn áp dụng sẽ được phân tích trong quy định về biện pháp tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân.

 [4] Trong vụ án Châu Thị Thu Nga bị đưa ra xét xử tại TAND thành phố Hà Nội về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Hội đồng xét xử phán quyết Housing Group phải bồi thường 187 tỷ đồng, bị cáo Châu Thị Thu Nga bồi thường 55 tỷ đồng. Tòa tuyên tiếp tục kê biên tài sản của Housing Group và vợ chồng bà Nga để bảo đảm thi hành án. Trong vụ án này Houusing không bị khởi tố về hình sự.

 [5] Cũng trong vụ án Châu Thị Thu Nga: tài sản Housing Group bị kê biên trong quá trình điều tra bao gồm: diện tích hơn 10.000m2 đất và tài sản của Housing Group ở khu công nghiệp Thạch Thất, Quốc Oai; khu đất và tài sản trên đất xây dựng khách sạn tại Quất Lâm, huyện Giao Thủy Nam Định diện tích gần 3.500m2 mang tên Housig Group nhưng lại chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; một chiếc xe Lexus GS350 đứng tên Housing Group đã bị thế chấp vay ngân hàng 690 triệu nhưng cũng đồng thời bị cầm cố cho một cá nhân lấy 1 tỷ; 15.400m2 đất CT5 (dự án B5 Cầu Diễn) kê biên gặp khó khăn vì một số hộ đã xây nhà ở sinh sống.

 [6] Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014: pháp nhân thương mại có thể là các doanh nghiệp hoạt động dưới loại hình là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên hoặc công ty hợp danh. Người đứng đầu pháp nhân có thể là một người nhưng cũng có thể hơn một người tùy thuộc vào Điều lệ hoạt động của Công ty (có thể là Chủ tịch hội đồng quản trị, hoặc cả Giám đốc, Tổng giám đốc; hoặc Chủ tịch hội đồng thành viên…)

 [7] Nguyễn Văn Huyên, Lê Lan Chi (chủ biên) (2016), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nxb Lao động, Hà Nội, trg 535.

 [8] Đình chỉ hoạt động có thời hạn là tạm dừng hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe con người, môi trường hoặc an ninh, trật tự, an toàn xã hội và hậu quả gây ra có khả năng khắc phục trên thực tế  (Điều 78 BLHS năm 2015)

 Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn là chấm dứt hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại đến tính mạng của nhiều người, gây sự cố môi trường hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và không có khả năng khắc phục hậu quả gây ra (Điều 79 BLHS năm 2015).

 [9] Theo quy định tại Điều 706-45 BLTTHS Cộng hòa Pháp: có thể áp dụng biện pháp giám sát tư pháp “Không được tiến hành một số hoạt động nghề nghiệp, xã hội, nếu đã thực hiện hành vi phạm tội khi tiến hành cá hoạt động đó và có thể thực hiện một hành vi phạm tội mới”, chỉ có thể ra quyết định áp dụng biện pháp này nếu nó được coi là hình phạt đối với pháp nhân bị truy tố.

 [10] Điều 706- 45 BLTTHS Cộng hòa Pháp quy định: có thể buộc pháp nhân phải thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ khác nhau khi Dự thẩm quyết định áp dụng biện pháp giám sát tư pháp.

 

Bài viết đăng trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 2/2018

TS. Nguyễn Hải Ninh - Khoa pháp luật hình sự, Đại học Luật Hà Nội
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
giải quyết tranh chấp hành chính về đất sử dụng vào mục đích quốc phòng (13/04/2018)
Điều 354 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội nhận hối lộ (09/04/2018)
Hoàn thiện các quy định về hoạt động của các tổ chức trung gian nhằm phát triển thị trường khoa học - công nghệ (06/04/2018)
Áp dụng “thời hiệu” và “thời hạn” nộp đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại việt nam bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài, phán quyết của trọng tài nước ngoài (05/04/2018)
Hạn chế của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 nhìn từ góc độ kỹ thuật lập pháp (02/04/2018)
Tòa án trả lại đơn khởi kiện khi có thỏa thuận thủ tục thương lượng, hòa giải bắt buộc tiền tố tụng (30/03/2018)
Dự án BOT- những tồn tại và kiến nghị (27/03/2018)
Tòa án trả lại đơn khởi kiện khi có thỏa thuận thủ tục thương lượng, hòa giải bắt buộc tiền tố tụng (30/03/2018)
6.jpg
Đồng chí Lê Bộ Lĩnh, Phó Chủ nhiệm VPQH phát biểu khai mạc Hội thảo "Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan nhà nước và xã hội trong thúc đẩy thực thi các quy định pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã"
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em qua công tác xét xử ở khu vực miền Trung - Tây nguyên

Tổng quan và đánh giá các quy định của pháp luật về đại biểu Quốc hội ở Việt Nam

các điều kiện bảo đảm thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước

kinh nghiệm xây dựng thể chế tự quyết cho các thành phố văn minh

Vai trò của Toà Hành chính trong bảo đảm quyền công dân theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015

Những nội dung về bảo vệ môi trường trong xây dựng và phát triển các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt

về tính độc lập và quyền miễn trừ của thẩm phán

Mô hình hợp tác nghề cá ở các vùng biển chồng lấn, đang tranh chấp của một số quốc gia

Đối tượng của quyền hưởng dụng trong pháp luật Việt Nam

Quản lý phát triển xã hội vùng dân tộc và dân tộc thiểu số ở nước ta

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân