Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ năm, 24/05/2012, 13:57(GMT+7)
 
Thông tin lập pháp

Sửa đổi Hiến pháp để xây dựng nhà nước pháp quyền

Hiến pháp là đạo luật cơ bản của một quốc gia, quy định những vấn đề quan trọng nhất về thể chế chính trị, các nguyên tắc cơ bản về tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước, quyền con người và quyền công dân. Từ Hiến pháp năm 1946 đến nay, Nhà nước ta đã có thêm các Hiến pháp năm 1959, năm 1980, năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2001). Mỗi bản hiến pháp được ban hành phù hợp với tình hình, nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau hơn hai mươi năm thực hiện công cuộc đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ XI đã xác định cần phải sửa đổi Hiến pháp cho phù hợp với tình hình mới. Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá XIII đã thành lập Uỷ ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp do đồng chí Nguyễn Sinh Hùng, Uỷ viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội làm Chủ tịch Uỷ ban. Trước sự kiện trọng đại này, việc phân tích, làm rõ các căn cứ khoa học và thực tiễn của việc sửa đổi hiến pháp càng trở nên cần thiết nhằm phát huy sức mạnh trí tuệ, tinh thần cống hiến của các chuyên gia, nhà khoa học, nghiên cứu, thảo luận, đề xuất quan điểm, nội dung, kỹ thuật cần sửa đổi Hiến pháp năm 1992.

Với tinh thần đó, ngày 7/12/2011, tại Hà Nội, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (Văn phòng Quốc hội) và Tạp chí Pháp luật và Phát triển (Hội Luật gia Việt Nam) đã phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học về Sửa đổi Hiến pháp theo yêu cầu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Sĩ Dũng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Luật gia Việt Nam Lê Minh Tâm đồng chủ trì hội thảo. Hơn hai trăm đại biểu là đại biểu Quốc hội, chuyên gia, nhà khoa học đã tham dự Hội thảo này.

Kiểm soát quyền lực, ngăn ngừa lạm quyền

Cơ chế nào hữu hiệu để kiểm soát quyền lực nhà nước, ngăn ngừa lạm quyền là vấn đề được nhiều người quan tâm. PGS, TS Lê Văn Hòe cho rằng, việc hoàn thiện Hiến pháp là nhằm xác lập mô hình và cơ chế thực thi quyền lực chặt chẽ, phù hợp với đặc trưng của hệ thống chính trị một đảng cầm quyền, phòng ngừa hiệu quả tình trạng tha hóa quyền lực. Tổ chức quyền lực nhà nước phải đảm bảo hai nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” và “quyền lực nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Các nguyên tắc về quyền lực tối thượng của Hiến pháp, về trách nhiệm trong thực thi quyền lực, về giám sát và chế ước cũng cần được ghi nhận. PGS,TS Nguyễn Minh Đoan nhìn nhận, về bản chất, Nhà nước ta là “Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”. Do vậy, ngoài hình thức sử dụng quyền lực nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước thì nhân dân có thể trực tiếp thực hiện quyền lực nhà nước thông qua việc phúc quyết hoặc trưng cầu dân ý đối với những vấn đề lớn, hệ trọng của đất nước. Nếu nhân dân chỉ được sử dụng quyền lực nhà nước thông qua bộ máy nhà nước (dân chủ đại diện), thì hình thức dân chủ trực tiếp bị ảnh hưởng, chủ quyền nhân dân bị hạn chế. Ông đề nghị, sửa đổi Hiến pháp 1992 nên quy định như sau: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan cao nhất thực hiện quyền lập pháp; Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, cơ quan cao nhất thực hiện quyền hành pháp; Tòa án quốc gia là cơ quan xét xử cao nhất, cơ quan cao nhất thực hiện quyền tư pháp. Các cơ quan nhà nước kiểm soát lẫn nhau và chịu sự kiểm soát của nhân dân trong việc thực hiện quyền lực nhà nước”.

Đồng tình với các quan điểm trên, GS,TS Trần Ngọc Đường cho rằng, nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, nên nhân dân phải kiểm soát được quyền lực nhà nước là một quyền tất yếu, một đòi hỏi chính đáng. Khi sửa đổi Hiến pháp 1992 cần quy định thêm ba vấn đề cơ bản: bầu cử, bãi nhiệm và phúc quyết như Hiến pháp năm 1946 đã quy định thành một mục gồm 5 điều trong Chương II: Nghĩa vụ và quyền lợi của công dân. PGS, TS Lê Văn Hòe phân tích, mọi cơ chế kiểm soát phải trên cơ sở minh bạch hóa, tăng cường giám sát tối cao của Quốc hội và vai trò giám sát của xã hội. Phát huy chức năng nguyên thủ quốc gia của Chủ tịch nước, trong đó có các quyền tham dự, phúc quyết và phủ quyết. ThS. Cao Vũ Minh, cũng cho rằng, cần phải sửa đổi chế định Chủ tịch nước. Kế thừa Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp sửa đổi cần tạo cơ sở pháp lý cho Chủ tịch nước nắm nhiều quyền hành pháp. Chủ tịch nước nên có quyền “chủ tọa các phiên họp của Chính phủ khi thấy cần thiết” chứ không dừng ở việc chỉ tham dự các phiên họp của Chính phủ như Hiến pháp hiện hành quy định. Từ góc nhìn khác, ThS. Nguyễn Phước Thọ, nêu ý kiến cần xem lại mối quan hệ quyền lực giữa Chính phủ và Quốc hội. Theo Hiến pháp, Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất. Hàng năm, Quốc hội ra nghị quyết về các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, nhưng thực tế nghị quyết này không có ý nghĩa mấy với việc thực thi quyền hành pháp của Chính phủ và còn mang tính hình thức. Quốc hội có thể lạm dụng quyền lập pháp, làm sai lệch nội dung tư tưởng chính sách trong các dự án mà Chính phủ soạn thảo để thông qua các đạo luật không mấy phù hợp, “áp đặt, bó tay”, thậm chí thu hẹp và hạn chế quyền hành pháp của Chính phủ. GS, TSKH Lê Văn Cảm cho rằng, quy định về kiểm soát quyền lực là nhằm hạn chế, ngăn ngừa các hành vi lộng quyền, chuyên quyền, nhược quyền và độc đoán, quan liêu, tùy tiện của cơ quan công quyền và công chức nhà nước. Góp phần tạo ra cơ chế kiểm tra và cân bằng của các nhánh quyền lực nhà nước để loại trừ sự lấn át của một nhánh quyền nào đó với các nhánh quyền lực khác.

Đề cao vai trò quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp

Theo GS,TS. Nguyễn Đăng Dung, đảm bảo quyền con người là mục đích xét đến cùng của hiến pháp. Nếu như không có vấn đề phải bảo vệ nhân quyền, quyền con người thì có lẽ, nhân loại cũng không cần có một bản hiến pháp cho mỗi một quốc gia. Không thể nói rằng chế độ chính trị dân chủ, kể cả dân chủ tư sản lẫn dân chủ xã hội chủ nghĩa mà lại không sự bảo đảm nhân quyền, quyền con người, cũng như không có hiến pháp. Phân tích những thành công khi ghi nhận về nhân quyền trong các bản Hiến pháp Việt Nam, GS,TS. Nguyễn Đăng Dung cũng chỉ ra những quy định về nhân quyền còn bất cập, không phù hợp với giai đoạn phát triển toàn cầu hóa hiện nay như: Quyền con người đồng nghĩa với quyền công dân như quy định ở Điều 50 của Hiến pháp hiện nay là thiếu chính xác, dễ gây nên sự hiểu lầm rằng, ở Việt Nam chỉ công dân Việt Nam mới có quyền con người, còn những người ngoại quốc thì không. Nhân quyền đang được quy định theo cách thức Nhà nước thừa nhận, dễ hiểu nhầm thành một thứ quyền lợi mà Nhà nước “ban phát” cho người dân (Điều 53, Điều 54; 56; 57; 58… Hiến pháp 1992).  Ngoài ra, các quy định còn ẩn chứa một nguy cơ khác là những quyền không được liệt kê, tức là không được thừa nhận, không được “ban phát”, thì lẽ đương nhiên người dân của chúng ta không có. ThS. Vũ Kiều Oanh cho rằng, cần giới hạn sự can thiệp của Nhà nước vào việc công dân thực hiện các quyền, nghĩa vụ, đồng thời với việc quy định trách nhiệm của Nhà nước đối với việc bảo đảm cho công dân thực hiện quyền. Ở nước ta, bước sang thời kỳ đổi mới, việc Nhà nước can thiệp quá sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội đã không còn phù hợp bởi sự hiện diện của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bởi nhận thức đúng đắn về quan hệ giữa Nhà nước với xã hội - cũng như với công dân - có tính toàn cầu hiện nay là “nhà nước nhỏ, xã hội lớn”. Vận động của đời sống là do chính người dân thực hiện và Nhà nước phải tôn trọng. Liên quan đến các quyền dân sự - chính trị, TS Hoàng Văn Nghĩa nêu ý kiến, trong 25 điều (từ điều 50 đến điều 74) của Hiến pháp năm 1992 quy định trực tiếp về các quyền con người  có đến ¾ các chế định liên quan đến các quyền dân sự và chưa đầy ¼ điều chế định trực tiếp về quyền kinh tế. Điều này ít nhiều phản ánh sự mất cân đối giữa các chế định về quyền dân sự và quyền kinh tế. Vì vậy, trong sửa đổi Hiến pháp 1992, trước hết cần tăng cường và mở rộng các quyền về dân sự - kinh tế, chẳng hạn như quyền sống, quyền tiếp cận/tự do thông tin, quyền về môi trường, quyền phát triển, quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất…

TS. Phạm Văn Hùng đề cập đến vấn đề bảo đảm quyền con người tiếp cận từ quyền tự do và an ninh cá nhân. Ông cho rằng, một số biện pháp xử lý hành chính có liên quan đến quyền tự do và an ninh cá nhân, trong một chừng mực nào đó, đã hạn chế quyền con người. Một số đối tượng bị áp dụng biện pháp hành chính khác chưa tương thích với yêu cầu bảo đảm quyền tự do và an ninh cá nhân. “Quy định về quyền con người, quyền tự do và an ninh cá nhân nên kế thừa cách quy định của Hiến pháp năm 1992 theo hướng quy định cụ thể, chi tiết hơn để công dân được bảo hộ triệt để, toàn diện hơn. Quy định rõ hơn vai trò “trung tâm” của Toà án trong việc bảo vệ quyền con người, trong đó có quyền tự do và an ninh cá nhân”, TS. Phạm Văn Hùng đề nghị.

Thiết lập cơ chế bảo hiến

Vấn đề hoàn thiện cơ chế bảo vệ hiến pháp được các nhà khoa học thảo luận rất sôi sổi. Nội dung thảo luận xoay quanh việc đánh giá thực trạng và hạn chế của cơ chế bảo vệ hiến pháp hiện nay và đặc biệt là áp dụng mô hình tài phán hiến pháp nào cho Việt Nam.

TS Vũ Đức Khiển kiến nghị thành lập một cơ quan kiểm soát chung đối với các cơ quan nhà nước thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp để bảo đảm tính hợp hiến trong hoạt động. Đồng thời, nhằm ngăn chặn sự nể nang, né tránh trong sự kiểm soát lẫn nhau giữa những cơ quan này, ông đề nghị cần bổ sung vào Hiến pháp quy định về cơ quan bảo hiến nhằm thực hiện chủ trương của Đảng về xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp...

Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Điện, mô hình tốt nhất cho Việt Nam trong khung cảnh hiện tại là sự kết hợp giữa cơ chế bảo hiến của Pháp và hệ thống giám sát, kiểm tra văn bản đang vận hành. Một mặt, có một Toà án hiến pháp độc lập và chuyên trách, đảm nhận chức năng bảo hiến và được giao thẩm quyền kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành. Mặt khác, vẫn duy trì cơ chế giám sát, kiểm tra văn bản quy phạm như hiện tại với một vài điều chỉnh hợp lý: căn cứ giám sát, kiểm tra cao nhất là các luật, nghị quyết của Quốc hội; thừa nhận quyền khiếu nại của công dân trước các cơ quan thẩm quyền đối với một văn bản quy phạm trái luật;… TS. Võ Trí Hảo cho rằng, trước tiên phải làm rõ cơ chế bảo hiến là gì? Có nhiều quan điểm khác nhau về bảo hiến. Nói đến bảo hiến người ta rất dễ nhầm là bảo vệ hiến pháp, giám sát hiến pháp, kiểm tra hiến pháp… Theo ông, bảo hiến là tài phán hiến pháp. Về chiến lược dài hạn, cần thành lập một Tòa án hiến pháp độc lập. Tòa án này sẽ tạo ra một diện mạo hoàn toàn mới cho tài phán hiến pháp, tách biệt với hệ thống tòa án hiện nay. 

Lấy ví dụ từ việc làm có dấu hiệu vi hiến khi Bộ Công an hạn chế đăng ký xe máy, ThS Bùi Ngọc Sơn cho rằng, các thảo luận về chủ nghĩa hợp hiến hiện đại đang trở lại ở Việt Nam. Trong sự phát triển của chủ nghĩa hợp hiến, Việt Nam có thể hội nhập với khu vực và thế giới bằng việc thiết lập một Tòa án hiến pháp, nhưng vẫn giữ lại những bản sắc của quốc gia bằng việc điều biến nó trong môi trường bản địa: cân đối nó với điều kiện chính trị -pháp lý hiện tại của Việt Nam, tích hợp một số chức năng của các định chế giám sát truyền thống như Ngự sử đài hay Đô sát viện vào chức năng hiện đại của Tòa án hiến pháp.

Góp ý về nội dung vai trò lãnh đạo của Đảng PGS-TS Nguyễn Minh Đoan, TS. Đặng Minh Tuấn đều khẳng định rằng, việc quy định về vai trò lãnh đạo của Đảng là một bảo đảm cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN. Tuy nhiên, nội dung quy định cụ thể về vai trò lãnh đạo của Đảng cũng cần có sự điều chỉnh cho phù hợp với các văn kiện mới được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng

Với trên 30 bản tham luận, hàng chục ý kiến tranh luận, phản biện, cuộc hội thảo này đã có những đóng góp tích cực cho việc nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992.

PV
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân