|
Phiên họp thứ 34 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
|
||
|
Phiên họp thứ 34 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) diễn ra từ ngày 13 đến 18 tháng 9 năm 2010 với nhiều nội dung: cho ý kiến vào các dự án Luật: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân; Luật Thủ đô; Luật Kiểm toán độc lập; Luật Tố cáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phòng, chống mua bán người; tiến hành giám sát việc tổ chức, thực hiện chính sách, pháp luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; nghe Chính phủ báo cáo tổng kết bước 1 thực hiện Nghị quyết số 26/2008/QH12 về thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường; cho ý kiến vào dự thảo Nghị quyết về việc miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn 2011-2020, định mức phân bổ ngân sách nhà nước áp dụng cho thời kỳ ổn định ngân sách 2011-2015 và tiếp tục cho ý kiến về việc chuẩn bị kỳ họp thứ tám, Quốc hội khóa XII. Dưới đây là một số nội dung chính của phiên họp: Dự án Luật Thủ đô: Chưa mang tính đặc thù Sau 9 năm thực hiện Pháp lệnh Thủ đô Hà Nội, Hà Nội đã đạt được những thành tựu rất quan trọng: kinh tế Thủ đô liên tục phát triển với tốc độ cao theo hướng ổn định và bền vững; giáo dục, đào tạo từng bước được chuẩn hóa; khoa học, công nghệ được quan tâm đầu tư đúng hướng, có trọng tâm, trọng điểm; văn hóa - xã hội có nhiều nét khởi sắc… Tuy nhiên, quá trình thực hiện Pháp lệnh cũng đã bộc lộ nhiều bất cập cả trên phương diện pháp lý cũng như thực tiễn, nhất là trong bối cảnh Hà Nội vừa mở rộng địa lý hành chính theo Nghị quyết số 15/QH12 năm 2008 của Quốc hội đã đặt ra rất nhiều vấn đề mới cho phát triển Thủ đô. Do đó, việc nâng Pháp lệnh Thủ đô Hà Nội thành Luật Thủ đô là cần thiết và cấp thiết. Song, việc xây dựng Luật về thủ đô như thế nào để giúp Hà Nội vừa phát triển xứng với tầm vóc Thủ đô, vừa không chệch khỏi “đường ray” pháp luật chung của quốc gia là vấn đề rất khó khăn. Ý kiến của cơ quan thẩm tra dự án luật - Ủy ban Pháp luật của Quốc hội thì, cần xác định rõ mục tiêu ban hành Luật là xây dựng một số cơ chế, chính sách đặc thù, tạo điều kiện cho xây dựng, phát triển Thủ đô chứ không phải xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù gắn với mô hình chính quyền tự quản như Dự thảo Luật thể hiện (có sự phân quyền của trung ương cho địa phương, ví dụ: Thủ đô là “đơn vị hành chính đặc biệt” (Điều 2); trường hợp có sự khác nhau giữa các quy định về chính sách đặc thù của Luật này với quy định của các luật khác có liên quan thì áp dụng các quy định của Luật này (khoản 2 Điều 8); UBND thành phố Hà Nội xây dựng, trình HĐND thành phố Hà Nội ban hành văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh những vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn liên quan đến các cơ chế, chính sách đặc thù quy định tại Luật này mà chưa được pháp luật quy định (khoản 1 Điều 29))… Theo quy định của Hiến pháp, Hà Nội là Thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời là đơn vị hành chính cấp tỉnh. Vì thế, tổ chức chính quyền của Hà Nội cũng giống như các địa phương khác là phải phù hợp với nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất. Việc đặt ra các cơ chế, chính sách đặc thù cho Thủ đô phải bảo đảm không trái với Hiến pháp, không tạo ra một thiết chế độc lập, thiếu sự gắn kết về nghĩa vụ, trách nhiệm của Thủ đô với Trung ương và với các địa phương khác. Cũng theo Ủy ban, Dự luật chưa phản ánh được tính đặc thù cho riêng Hà Nội, nhiều điều khoản quá chung chung, có thể áp dụng chung cho tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác. Đồng ý với Ủy ban thẩm tra, các Ủy viên UBTVQH cho rằng, nên chọn những cơ chế chính sách thực sự đặc thù cho thủ đô chứ không phải những quy định “chưa cho thấy Thủ đô khác biệt với các đơn vị hành chính khác ở những điểm cụ thể nào”. UBTVQH đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu xây dựng Dự thảo theo hướng: Thủ đô Hà Nội là trái tim của cả nước, trí tuệ của cả nước, là trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế; vì vậy, cần phải có những chính sách, cơ chế đặc thù riêng biệt của Hà Nội (không được trái với quy định của Hiến pháp nhưng có thể khác với quy định của luật và các quy định pháp lệnh hiện hành) và khác hẳn so với các tỉnh, thành phố khác. Vấn đề cũng được các Ủy viên UBTVQH quan tâm nhiều là việc quản lý dân cư. Theo Điều 24 của Dự thảo luật, thì Chính phủ ban hành quy định về điều kiện cư trú ở nội thành phù hợp với việc quản lý dân cư với quy mô, mật độ, cơ cấu hợp lý theo quy hoạch chung của Thủ đô. Tuy nhiên, theo Ủy ban thẩm tra, Luật cư trú đã quy định rõ: nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Quyền tự do cư trú của công dân chỉ bị hạn chế theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Một thời gian dài trước đây chúng ta đã áp dụng các biện pháp hành chính nhằm hạn chế di dân tự do vào các thành phố lớn, trong đó có Thủ đô Hà Nội nhưng, các biện pháp này không những không đem lại hiệu quả mà còn phát sinh các hệ lụy khác như vấn đề giáo dục, an sinh xã hội, mất trật tự an toàn xã hội, tội phạm... Vì vậy, Ủy ban thẩm tra cho rằng, quyền mưu sinh và quyền mưu cầu hạnh phúc, trong đó có việc di dân từ những nơi khó khăn đến những vùng có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội thuận lợi hơn là một quy luật của sự phát triển, không nên dùng các biện pháp hành chính để hạn chế. Đồng ý với ý kiến này, UBTVQH khẳng định, Dự thảo luật cần dự kiến được những giải pháp về kinh tế, thương mại, xã hội để có thể hạn chế được vấn đề nhập cư mà vẫn bảo đảm được quyền cư trú. UBTVQH đề nghị Chính phủ tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện thêm Dự thảo luật để trình xin ý kiến Quốc hội tại kỳ họp thứ 8 dự kiến sẽ diễn ra vào trung tuần tháng 10 tới.
Dự án Luật Kiểm toán độc lập: Tổ chức có thể được góp vốn thành lập doanh nghiệp kiểm toán? Kiểm toán độc lập (KTĐL) là hoạt động không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường với vai trò làm tăng độ tin cậy cho thông tin tài chính, là cơ sở cho các bên tiến hành các giao dịch kinh tế. Sau 19 năm hoạt động, KTĐL đã phát triển nhanh về số lượng và quy mô. Đến tháng 6/2010 cả nước có 162 doanh nghiệp dịch vụ kế toán, kiểm toán với trên 6.700 người làm việc. Hầu hết các dịch vụ cung cấp cho khách hàng ngày càng được tín nhiệm. Tuy nhiên, theo Tờ trình số 95/TTr-CP của Chính phủ, đến nay, pháp luật về KTĐL vẫn chưa thực sự hoàn chỉnh, năng lực quản lý nhà nước về KTĐL còn hạn chế do thiếu cơ sở pháp lý, quy trình công nghệ quản lý chưa cao. Việc ban hành Luật sẽ tạo ra khung pháp lý cao nhất về KTĐL, tạo điều kiện cho dịch vụ kiểm toán phát triển. Dự án Luật KTĐL trình xin ý kiến UBTVQH gồm 7 chương với 69 điều, quy định các vấn đề về nguyên tắc, điều kiện, phạm vi, hình thức hành nghề KTĐL; quyền, nghĩa vụ của kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán và đơn vị được kiểm toán; hoạt động hành nghề KTĐL …. Một vấn đề được quan tâm là việc nên hay không nên cho phép doanh nghiệp ngoài ngành tham gia góp vốn tại công ty KTĐL. Theo Dự thảo luật, các pháp nhân (tổ chức, doanh nghiệp) được phép góp vốn thành lập công ty KTĐL (bên cạnh các cổ đông cá nhân). Quy định này được Thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội - cơ quan thẩm tra Dự án - đồng tình với lý do: thị trường dịch vụ còn non trẻ, trong điều kiện lực lượng kiểm toán viên ở Việt Nam chưa nhiều, khả năng thu hút nhà đầu tư là thể nhân tham gia thành lập loại hình doanh nghiệp này chưa cao nên nếu không cho phép pháp nhân tham gia thành lập doanh nghiệp sẽ hạn chế khả năng phát triển loại hình doanh nghiệp này. Ủy ban thẩm tra cũng đồng thời đề nghị làm rõ trường hợp doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài muốn hoạt động tại Việt Nam trong khuôn khổ các cam kết thương mại quốc tế (vì hiện nay Dự thảo Luật quy định doanh nghiệp kiểm toán không được quyền góp vốn để thành lập công ty TNHH kiểm toán). Tuy nhiên, một số thành viên Ủy ban thẩm tra lại có ý kiến khác khi cho rằng, do đặc thù nghề nghiệp, việc xây dựng doanh nghiệp KTĐL không yêu cầu nhiều về vốn và cơ sở vật chất. Trong khi đó, nếu cho phép các thành viên là tổ chức góp vốn rất dễ dẫn đến việc tổ chức này lợi dụng doanh nghiệp kiểm toán do mình thành lập để tiến hành kiểm toán các “công ty con” hoặc dự án có liên quan. Nhắc lại bài học Vinashin vừa qua, nhiều ý kiến thể hiện sự lo ngại về dự định cho doanh nghiệp ngoài ngành góp vốn vào công ty KTĐL. Việc doanh nghiệp lợi dụng công ty kiểm toán do mình góp vốn để làm “sân sau” đã từng xảy ra với chính Vinashin (Vinashin cũng góp vốn vào một công ty kiểm toán rồi quay lại kiểm toán chính doanh nghiệp thành viên của mình, gây ra sai lầm vừa qua). Về điều kiện thành lập doanh nghiệp kiểm toán (Điều 16 Dự thảo Luật), Dự án luật quy định doanh nghiệp kiểm toán khi thành lập phải có ít nhất 5 kiểm toán viên đã có thời gian thực tế làm kiểm toán từ đủ 36 tháng trở lên (bao gồm cả giám đốc hoặc tổng giám đốc). Ủy ban thẩm tra cho rằng, đặc thù của nền kinh tế Việt Nam là có số lượng doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng lớn nên cần có doanh nghiệp kiểm toán quy mô tương ứng để cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp này. Do đó, nên quy định theo hướng giảm bớt số lượng kiểm toán viên hành nghề cần có khi thành lập doanh nghiệp kiểm toán. Cân nhắc về vấn đề này, UBTVQH đề nghị các bên tiếp tục nghiên cứu, suy nghĩ theo hướng nâng cao chất lượng đội ngũ nhân sự cho các doanh nghiệp kiểm toán của Việt Nam, sao cho doanh nghiệp kiểm toán phải có chất lượng và quy mô ở mức cần thiết, đủ khả năng tin cậy chứ không quá nhỏ, tạo cảm giác “lặt vặt”. Dự án Luật KTĐL sẽ được trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XII và dự kiến có hiệu lực thi hành từ 01/01/2012.
Cho ý kiến về báo cáo thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường Theo Báo cáo số 117/BC-CP của Chính phủ về việc tổng kết bước 1 thực hiện Nghị quyết số 26/2008/QH12 của Quốc hội về thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân (HĐND) huyện, quận, phường, sau một năm rưỡi triển khai tại 67 huyện, 32 quận và 483 phường của 10 tỉnh, thành phố, chủ trương thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND quận, huyện, phường đã chứng minh là đúng đắn. Việc làm này đã tạo được một bước đột phá trong cải cách hành chính, góp phần tổ chức hợp lý chính quyền địa phương, đảm bảo tính thống nhất, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước... Tại các địa phương thực hiện thí điểm, quyền đại diện của người dân vẫn được bảo đảm thực hiện thông qua đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND tỉnh; hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND tỉnh, thành phố được tăng cường… Trên cơ sở đó, Chính phủ kiến nghị, đề xuất UBTVQH 2 phương án: Phương án 1: đề nghị tại Kỳ họp thứ 8 tới, Quốc hội xem xét, sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 liên quan đến HĐND để thực hiện không tổ chức HĐND huyện, quận, phường trên phạm vi cả nước từ tháng 5/2011. Nếu lựa chọn phương án này, tháng 5/2011 chỉ tiến hành bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND cấp tỉnh, thành phố thuộc Trung ương, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, các xã, thị trấn và không tổ chức bầu cử đại biểu HĐND huyện, quận, phường trên phạm vi cả nước. Phương án 2: đề nghị tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội ban hành Nghị quyết quy định ngoài việc tiếp tục thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường tại 10 tỉnh, thành phố như hiện nay, mở rộng thêm phạm vi thí điểm tại 20 tỉnh, thành phố bảo đảm đại diện cho các vùng, miền của cả nước. Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Pháp luật nhấn mạnh: việc thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường là một chủ trương lớn của Đảng, được thể hiện trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước. Tuy nhiên, thực tiễn cũng xuất hiện nhiều khó khăn, vướng mắc cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết, như: các địa phương nơi thực hiện thí điểm còn lúng túng trong việc tìm kiếm phương thức bảo đảm quyền đại diện, quyền làm chủ để thay thế cho vai trò của HDND trước đây; cần có cơ chế giám sát, kiểm tra hữu hiệu thay thế chức năng giám sát của HDND; việc thí điểm gần như mới chỉ bắt đầu (chưa trọn vẹn một năm ngân sách), thiếu mô hình đối chứng nên nhiều đánh giá về những kết quả đạt được có phần mang tính chủ quan, chưa thể có căn cứ vững chắc để quyết định tiếp tục tổ chức hay không tổ chức hội đồng nhân dân ở quận, huyện, phường… Do đó, Ủy ban đề nghị chỉ tiếp tục thực hiện tại 10 tỉnh, thành phố, không mở rộng thêm như đề xuất của Chính phủ. Đồng thời, trong quá trình thí điểm cần chú ý kịp thời khắc phục những vướng mắc, hạn chế để bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. hiệu lực, hiệu quả của chính quyền các cấp; tiếp tục nghiên cứu cải tiến, sắp xếp toàn bộ hệ thống cơ quan chính quyền địa phương và các cấp hành chính ở nước ta. Thảo luận về vấn đề này, UBTVQH đề xuất: tuy đề án đã có những thành công nhất định với những địa phương điển hình như Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh... nhưng với thời gian thí điểm tương đối ngắn nên chưa đủ để kiểm nghiệm, đánh giá. Đề án cần tiếp tục bước đi thận trọng, cụ thể hơn. Cần tiếp tục thí điểm thêm một thời gian. Diện thí điểm có thể mở rộng thêm một số tỉnh, thành phố có những điều kiện khác với 10 tỉnh vừa tiến hành, để sau đó tổng kết, đánh giá một cách đầy đủ, tiến tới sửa đổi Hiến pháp một cách cơ bản, lúc đó mới tiến hành tổng kết và báo cáo Quốc hội để xem xét quyết định vấn đề này. Cũng tại phiên họp, UBTVQH đã nghe báo cáo kết quả chuyến thăm chính thức Cộng hòa Cuba và dự Hội nghị tham vấn cấp Chủ tịch Quốc hội G20 của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng và Đoàn đại biểu cấp cao Quốc hội Việt Nam; về việc chuẩn bị Đại hội đồng Liên nghị viện Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (AIPA) lần thứ 31. UBTVQH đánh giá cao kết quả hoạt động của Đoàn tại hai nước và giao các cơ quan hữu quan tiếp tục hoàn thiện việc chuẩn bị về mọi mặt để tổ chức thành công AIPA 31.
|
|
|||









