|
Phiên họp thứ 20 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
|
||
|
Tại phiên họp thứ 20 của Ủy ban thường vụ Quốc hội (từ ngày 12 đến14 tháng 5 năm 2009), Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã thảo luận và cho ý kiến về Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản; Báo cáo của Chính phủ về bổ sung kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2008; tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, dự toán NSNN năm 2009 trong những tháng đầu năm; báo cáo quyết toán NSNN năm 2007; Đề án đổi mới cơ chế tài chính của giáo dục và đào tạo giai đoạn 2008-1012; cho ý kiến về việc chuẩn bị kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XII và xem xét, thông qua một số nội dung quan trọng khác. Cân nhắc mức chi trả học phí trong Đề án Đổi mới cơ chế tài chính của GD và ĐT Giáo dục và đào tạo (GD và ĐT) luôn được Đảng và Nhà nước ta xác định là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Trong những năm qua, mặc dù điều kiện đất nước và NSNN còn nhiều khó khăn, Nhà nước vẫn quan tâm dành một tỷ lệ ngân sách đáng kể để đầu tư cho GD và ĐT. Tuy nhiên, trong khi nền kinh tế nước ta đã chuyển sang cơ chế thị trường định hướng XHCN được hơn 20 năm, việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước đã triển khai từ hơn 10 năm, thì cơ chế tài chính của GD và ĐT thực tế vẫn chưa có thay đổi về chất so với thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp. Do đó, để tăng chất lượng và quy mô giáo dục các cấp, đặc biệt là đào tạo nghề nghiệp và giáo dục mầm non, việc đổi mới cơ chế tài chính của GD và ĐT trong thời gian tới là một yêu cầu hết sức cấp thiết. Chính phủ đã đề xuất một số nội dung cơ bản đổi mới cơ chế tài chính của GD và ĐT, như: Đổi mới phương thức xây dựng và giao kế hoạch ngân sách, cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước cho các mục tiêu của GD và ĐT; xác định trách nhiệm và quyền hạn hợp lý của các cơ quan quản lý nhà nước trung ương và địa phương trong việc lập và thực hiện kế hoạch ngân sách cho GD và ĐT; đổi mới chính sách học phí và hỗ trợ người học… Đồng ý việc cần thiết phải xây dựng Đề án đổi mới cơ chế tài chính của GD và ĐT giai đoạn 2008-1012, song một số nội dung của Đề án đã không nhận được ý kiến đồng tình của đa số thành viên UBTVQH, nhất là nội dung liên quan đến chính sách học phí, một vấn đề nhạy cảm, có tác động lớn tới đời sống xã hội. Theo đề xuất của Chính phủ, chế độ học phí sẽ sửa đổi theo hướng: học phí ở giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông thu theo nguyên tắc chung là học phí và các khoản chi cần thiết khác cho việc học tập không vượt quá 6% thu nhập bình quân của hộ gia đình theo từng địa phương; học phí đối với đào tạo nghề nghiệp từ bậc sơ cấp đến bậc trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học thực hiện theo nguyên tắc chia sẻ chi phí giữa nhà nước và người học. Cụ thể, mức học phí bậc đại học của các nhóm ngành đào tạo đại trà giai đoạn 2008 - 2012 là: Nhóm ngành đào tạo khoa học xã hội, kinh tế, luật sẽ từ 250.000 đến 550.000 đồng /người /tháng; nhóm ngành sư phạm từ 200.000 đến 500.000 đồng /người /tháng; nhóm Y dược từ 290.000 đến 800.000 đồng /người /tháng… Đánh giá cao ý nghĩa xã hội của Đề án đối với việc đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, tuy nhiên, một số ủy viên UBTVQH cho rằng mức 6% là mức chi trả khá cao trong nhóm các nước mới phát triển (mức chi trả học phí tại các nước phát triển cũng chỉ từ 2-10%), nhất là trong điều kiện mức sống của nhân dân ta còn thấp, lại đang hứng chịu thời kỳ suy thoái kinh tế. Với mức chi trả mà Chính phủ đề xuất, cùng lộ trình thực hiện (nếu được Quốc hội thông qua sẽ đưa vào từ học kỳ 1 năm 2009-2010) sẽ khó nhận được sự đồng thuận từ xã hội. Trong khi đó, Đề án lại chưa đề cập đến học bổng khuyến khích cho những học sinh, sinh viên giỏi, có triển vọng - đây là một giải pháp quan trọng và hữu hiệu nhằm tạo động lực cho học sinh phấn đấu học tập tốt, góp phần thực hiện chính sách phát triển nhân tài. UBTVQH đề nghị Chính phủ xây dựng thêm nhiều phương án khác nhau cho một số vấn đề cụ thể; xem xét lại lộ trình thực hiện Đề án trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang bị ảnh hưởng bởi suy thoái (có thể lộ trình thực hiện Đề án sẽ bắt đầu từ năm học 2010-2011) đồng thời chú trọng chất lượng đào tạo khi mức chi trả cho giáo dục dự kiến tăng lên. Tiếp thu các ý kiến của UBTVQH, Bộ trưởng Bộ GD và ĐT vẫn đề nghị được tăng học phí đại học nên 50% so với hiện nay để bù trượt giá, đồng thời, triển khai những giải pháp đổi mới tài chính khác cho giáo dục trong năm 2009 nhằm góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng, mở rộng quy mô và đảm bảo công bằng trong GD và ĐT. Là một trong những Đề án có ý nghĩa xã hội sâu sắc, Đề án Đổi mới cơ chế tài chính của GD và ĐT hứa hẹn sẽ nhận được sự quan tâm nhiều của đại biểu Quốc hội khi được đưa ra thảo luận tại kỳ họp thứ 5 tới đây. Cho ý kiến về phương án miễn, giảm thuế thu nhập cá nhân Đây là một trong những nội dung thảo luận sôi nổi nhất khi UBTVQH cho ý kiến các tờ trình của Chính phủ và báo cáo của ủy ban liên quan của Quốc hội về bổ sung kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và NSNN năm 2008; tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, dự toán NSNN năm 2009 trong những tháng đầu năm; Báo cáo quyết toán NSNN năm 2007. Theo Tờ trình số 72/Ttr - CP của Chính phủ về việc miễn, giảm thuế thu nhập cá nhân năm 2009, Chính phủ đề xuất miễn giảm toàn bộ số thuế đã giãn đối với các đối tượng đã được tạm giãn nộp thuế thu nhập cá nhân trong 06 tháng đầu năm và tiếp tục miễn, giảm thuế cho một số đối tượng 6 tháng cuối năm, cụ thể: Đề nghị cho miễn thuế đến hết năm 2010 đối với cá nhân có thu nhập từ đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn (bao gồm cả chuyển nhượng chứng khoán), từ bản quyền, nhượng quyền thương mại; đề nghị cho giảm thuế thu nhập cá nhân từ ngày 01/7/2009 đến hết năm 2009 đối với thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú với mức thống nhất là 200.000 đồng /tháng; cá nhân có số thuế phải nộp cao hơn 200.000 đồng /tháng phải nộp phần thuế cao hơn vào ngân sách Nhà nước. Việc tiếp tục miễn, giảm thuế đối với một số đối tượng tuy sẽ làm giảm thu ngân sách (giảm khoảng 6.500 tỷ - 6.800 tỷ đồng, bằng 45% so với dự toán (14.500 tỷ đồng)) nhưng thể hiện được sự quan tâm của Quốc hội, Chính phủ đối với đông đảo người lao động trong thời điểm đời sống nhân dân gặp khó khăn do tác động của cuộc suy thoái kinh tế, đồng thời góp phần khuyến khích đầu tư, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và kích cầu tiêu dùng, ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội. Đồng ý với chủ trương miễn, giảm thuế 06 tháng đầu năm mà Chính phủ đề xuất, tuy nhiên ủy ban thẩm tra của Quốc hội không đồng tình tiếp tục miễn, giảm thuế 06 tháng cuối năm cho một số đối tượng chịu thuế. Cụ thể, đa số ý kiến ủy ban thẩm tra chỉ đồng ý tiếp tục miễn thuế TNCN đối với thu nhập từ đầu tư và chuyển nhượng vốn trong năm 2009 để khuyến khích thị trường tài chính phát triển mà không tán thành tiếp tục thực hiện miễn, giảm thuế TNCN 6 tháng cuối năm cho các đối tượng nộp thuế còn lại. Lý do là, việc giảm thuế TNCN sẽ làm ảnh hưởng không nhỏ đến nguồn thu cho NSNN và chưa bảo đảm tính hợp lý trong việc điều tiết thu nhập của cá nhân khi giảm thuế sẽ chỉ có lợi cho một bộ phận người có thu nhập cao, không mang ý nghĩa giải quyết khó khăn cho người phải nộp thuế, không có tác động xã hội cao, lại không thực hiện được mục tiêu phân phối lại thu nhập cho người nghèo. Đặc biệt, việc kéo dài miễn, giảm thuế sẽ không bảo đảm tính hiệu lực và nghiêm minh trong việc thực thi luật đã được Quốc hội ban hành, tạo tiền lệ không tốt trong thực hiện trách nhiệm tổ chức thi hành luật của Chính phủ. Trước mắt, người nộp thuế vẫn thực hiện kê khai, nộp hồ sơ đăng ký mã số thuế, sau đó, khoản tiền giãn có được miễn nộp hoàn toàn hay không sẽ được Quốc hội bàn bạc và biểu quyết trong kỳ họp thứ 5 tới. Nghe báo cáo về gói kích cầu: kiểm soát chặt chẽ đối tượng thụ hưởng gói kích cầu Cũng tại phiên họp này, UBTVQH đã nghe Chính phủ báo cáo về tình hình quản lý, sử dụng vốn kích cầu có nguồn gốc từ NSNN (trị giá khoảng gần 160 nghìn tỷ đồng, tương đương 9 tỷ đô la) để góp phần ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng, bảo đảm an sinh xã hội. Theo Báo cáo giám sát của ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, tuy quy mô của gói kích cầu này so với các nước là không lớn, nhưng cũng cần quan tâm khi chiếm gần 10% GDP của nước ta, đồng thời nguồn lực sử dụng cho gói kích cầu lại được phát sinh từ các chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia nên có tác động rất lớn đến nền kinh tế, các tầng lớp dân cư, ảnh hưởng đến an ninh tài chính, tiền tệ quốc gia. Do đó, việc Chính phủ cần có báo cáo toàn diện trước Quốc hội về cơ sở pháp lý, đối tượng thụ hưởng, hiệu quả đem lại và những tác động đối với nền kinh tế cả về lợi ích cũng như hạn chế để Quốc hội xem xét là hết sức cần thiết. Đánh giá về các chính sách kích cầu đang triển khai, một số ủy viên UBTVQH đề nghị Chính phủ rà soát lại các chính sách kích cầu để đảm bảo mục tiêu chi kịp thời và đúng đối tượng. Cụ thể, chính sách hỗ trợ lãi suất 4% trị giá 17 nghìn tỷ đồng không tạo cơ hội để tái cấu trúc nền kinh tế, mang tính bình quân và thực chất là “cứu trợ” hệ thống ngân hàng và doanh nghiệp đang khó khăn. Đồng thời, thời hạn bù lãi suất cũng như chủ trương miễn, giảm thuế kéo dài tiềm ẩn nguy cơ thất thoát lãng phí mà nếu không được quản lý hiệu quả sẽ gia tăng gánh nặng nợ nần và hiện tượng đầu cơ nóng với các dự án vay chất lượng thấp, gia tăng tình hình cạnh tranh bất bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp. Một số ủy viên UBTVQH đặc biệt lưu ý về nguy cơ tái lạm phát hiện hữu trong những năm tới khi Chính phủ sử dụng gói kích cầu với chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ được đề nghị nới lỏng cả về phạm vi và thời gian (bội chi được tăng lên 6-8%GDP, lãi suất cơ bản giảm từ 14% xuống 7%, giảm lãi suất tái chiết khấu, dự trữ bắt buộc...) có thể sẽ đưa nền kinh tế rơi vào vòng xoáy: lạm phát - suy thoái - kích cầu - lạm phát trở lại. UBTVQH đề nghị Chính phủ chủ động tăng cường kiểm tra, kiểm soát lại các đối tượng thụ hưởng gói kích cầu, xây dựng các “kịch bản” phát triển nền kinh tế hậu suy giảm kinh tế, kể cả việc tái cấu trúc nền kinh tế, tránh tình trạng lúng túng, bị động trong công tác điều hành như thời gian qua.
|









