Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
Thứ sáu, 21/11/2008, 23:23(GMT+7)
Thông tin công tác lập pháp

Phiên họp thứ 10 Ủy ban thường vụ Quốc hội

 

Tại phiên họp thứ 10 (từ ngày 23/7 đến 29/7/2008), y ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH)  đã cho ý kiến về một số dự án Luật, Pháp lệnh sẽ được thông qua tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XII: Luật Đa dạng sinh học, Luật Cán bộ, công chức; Luật Quốc tịch (sửa đổi); Luật Giao thông đường bộ (sửa đổi); Luật Bảo hiểm y tế; Luật Thi hành án dân sự; Luật Công nghệ cao; Pháp lệnh Thủ tục bắt giữ tàu biển... Dưới đây là một số nội dung được cho ý kiến tại phiên họp.

Dự án Luật Cán bộ, công chức: xác định phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Thảo luận về dự án Luật Cán bộ, công chức, các Uỷ viên UBTVQH thống nhất với phương án quy định phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của luật được thiết kế theo các nhóm: một là cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội; hai là đội ngũ công chức trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội; ba là đội ngũ cán bộ cấp xã. Đội ngũ viên chức sự nghiệp đã được điều chỉnh theo Nghị định số 116/2003/NĐ/CP ngày 10/10/2003 và Nghị định số 121/2006/NĐ/CP ngày 23/10/2006 của Chính phủ được đưa ra khỏi phạm vi điều chỉnh của Luật Cán bộ, công chức.

Trong các đối tượng điều chỉnh của dự luật, các thành viên UBTVQH lưu ý nhiều đến các quy định về công chức cấp xã, sao cho không làm tăng biên chế công chức cấp xã và hành chính hóa các hoạt động của các tổ chức xã hội ở cơ sở. Theo y ban Pháp luật, cơ quan thẩm tra dự án, tính đến ngày 31/12/2007, cả nước ta có hơn 200.000 cán bộ, công chức cấp xã và khoảng hơn 500.000 đối tượng cấp xã được hưởng phụ cấp hoặc khoán kinh phí hoạt động có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước. Hiện nay nước ta có trên 10.000 đơn vị hành chính cấp xã và trên 110.000 thôn, làng, bản, ấp... Trường hợp tăng biên chế cho cấp xã, nếu  mỗi xã chỉ tăng thêm 1 chức danh, thì cả nước sẽ tăng hơn 10.000 cán bộ công chức. Nếu tăng thêm ở mỗi thôn một định suất cán bộ không chuyên trách thì sẽ tăng hơn 110.000 người được hưởng phụ cấp. Như vậy, nguồn ngân sách chi cho đội ngũ cán bộ cấp xã hàng năm là rất lớn. Do đó, Uỷ ban Pháp luật đề nghị dự án Luật cần thể chế hoá đúng và đầy đủ các nội dung Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X: “Xây dựng hệ thống chính sách phù hợp và đồng bộ đối với cán bộ, công chức cơ sở xã, phường, thị trấn theo hướng: một số chức danh cán bộ chuyên trách ở xã, phường, thị trấn cần và có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của Chính phủ thì được xem xét chuyển thành công chức nhà nước để tạo sự liên thông trong đội ngũ cán bộ, công chức ở các cấp; các chức danh cán bộ chuyên trách khác không đủ điều kiện, tiêu chuẩn để trở thành công chức nhà nước thì thực hiện theo chế độ hiện hành, khi được giữ chức vụ do bầu cử thì hưởng chế độ phụ cấp trách nhiệm và thực hiện chế độ bảo hiểm, khi thôi đảm nhiệm chức vụ thì thôi hưởng phụ cấp và đóng bảo hiểm tự nguyện. Cán bộ không chuyên trách thì thực hiện theo hướng khoán kinh phí hoạt động và đóng bảo hiểm tự nguyện. Chính phủ quy định khung số lượng và khung mức phụ cấp để các địa phương thực hiện phù hợp với tình hình cụ thể...”. Mặt khác, cũng theo y ban Pháp luật, cần khuyến khích các tổ chức ở cơ sở hoạt động theo hướng tự nguyện làm công tác xã hội.

Về vấn đề này, theo UBTVQH, có thể quy định 2 nhóm chính: thứ nhất là, nhóm cán bộ, công chức được bầu và bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo và quản lý của bộ máy Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội. Những người đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của pháp luật và được nhân dân tín nhiệm bầu vào vị trí này được coi là cán bộ, công chức, còn những người cũng được bầu vào những vị trí trên nhưng chưa đủ điều kiện tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật nói chung, thì chỉ được hưởng lương trong lúc giữ vị trí đó; thứ hai là các cán bộ, công chức chuyên môn được đào tạo, tuyển dụng, bổ nhiệm theo quy định hiện nay của pháp luật. Đối với đối tượng hoạt động không chuyên trách hoặc bán chuyên trách, (có những địa phương lên đến 200 người) cần phải thận trọng hơn khi coi đó là cán bộ, công chức. Theo UBTVQH, cần nghiên cứu thêm về đối tượng này và để Chính phủ có một văn bản quy định riêng, không nên quy định tại Luật Cán bộ, công chức.

UBTVQH cũng lưu ý, dự án Luật Cán bộ, công chức cần phải tính tới việc giải quyết, xử lý những vướng mắc liên quan đến đội ngũ cán bộ, công chức đang làm nảy sinh hiện trạng nhiều công chức từ bỏ nhiệm sở để làm công việc khác ngoài khu vực nhà nước. Để xảy ra tình trạng trên, nguyên nhân lớn là do những quy định về chế độ lương bổng, chính sách đãi ngộ cho đội ngũ cán bộ, công chức hiện hành đã không còn phù hợp. Đây là điều mà dự án Luật cần phải tính tới để việc xây dựng Luật Cán bộ, công chức thay cho Pháp lệnh Cán bộ, công chức có ý nghĩa, và phù hợp với thực tiễn.

Dự án Luật Giao thông đường bộ (sửa đổi): Sẽ có thêm lực lượng tuần tra giao thông

Điểm còn nhiều ý kiến khác nhau nhất trong dự án Luật Giao thông đường bộ (sửa đổi) là việc y ban thẩm tra và Ban soạn thảo đề nghị quy định: “Chính phủ quy định việc huy động các lực lượng cảnh sát khác và Công an xã phối hợp với Cảnh sát giao thông đường bộ tham gia tuần tra, kiểm soát trật tự an toàn giao thông đường bộ trong trường hợp cần thiết” (Khoản 3 Điều 87 Dự thảo) với lý do “trật tự, an toàn giao thông vẫn đang diễn biến phức tạp. Lực lượng Cảnh sát giao thông rất mỏng, chỉ đủ triển khai ở các thành phố, trục quốc lộ và duy trì được ở trạng thái bình thường. Để bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, nhất là trong các đợt cao điểm, cần giao cho Chính phủ huy động các lực lượng cảnh sát khác và Công an xã phối hợp với Cảnh sát giao thông đường bộ tuần tra, kiểm soát”.

Tuy nhiên một số thành viên UBTVQH cho rằng, không nên giao nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ cho Công an xã và đề nghị cân nhắc việc huy động các lực lượng cảnh sát khác do những lực lượng này chưa được đào tạo về chuyên môn, đồng thời có thể ảnh hưởng tới người dân nếu “tung” quá nhiều lực lượng cảnh sát tham gia tuần tra, kiểm soát. Đối với lực lượng Công an xã, việc tham gia tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông không phù hợp với chức năng nhiệm vụ của lực lượng này và không có hiệu quả, dễ vi phạm. Còn việc huy động các lực lượng cảnh sát khác chỉ là biện pháp tình thế trong trường hợp cần thiết nhằm giải quyết tình trạng tai nạn và ùn tắc giao thông. Nếu lực lượng cảnh sát giao thông chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ thì cần đầu tư về con người và vật chất cho đủ mạnh để hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Phát biểu giải trình bổ sung về vấn đề này, đại diện Bộ Công an khẳng định, Bộ đang từng bước xây dựng và sử dụng lực lượng cảnh sát giao thông được chuyên môn hóa, từng bước chính quy, hiện đại và có chức năng nhiệm vụ rõ ràng, rành mạch. Tuy nhiên, hiện nay lực lượng cảnh sát giao thông trong cả nước tham gia tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm giao thông chỉ xấp xỉ 6.000 người, bình quân mỗi cảnh sát giao thông phải quản lý 70 km đường quốc lộ. Trong khi đó yêu cầu về đảm bảo trật tự an toàn giao thông, chống ùn tắc giao thông, giảm thiểu tai nạn giao thông đang đặt ra hết sức cấp bách và là mối quan tâm của toàn xã hội. Qua kinh nghiệm thực tế từ việc Bộ Công an huy động các lực lượng tham gia tuần tra, lực lượng đã này góp phần không nhỏ trong việc đảm bảo trật tự an toàn giao thông. Do đó, Bộ đề nghị, nên giao quyền cho Bộ trưởng Bộ Công an được huy động công an xã, cảnh sát quản lý trật tự xã hội, cảnh sát cơ động... thực hiện việc đảm bảo trật tự an toàn trong trường hợp cần thiết.

Phó Chủ tịch Quốc hội Huỳnh Ngọc Sơn khẳng định, việc thử nghiệm huy động các lực lượng nói trên tham gia tuần tra, kiểm soát trong thời gian vừa qua đã mang lại hiệu quả cao, do đó cần thiết quy định vấn đề này trong luật, song quy định làm sao cho rõ hơn và chỉ huy động trong những trường hợp thật sự cần thiết, đồng thời quy định các lực lượng trên chỉ được tuần tra, kiểm soát mà không có thẩm quyền xử phạt.

Việc đàm phán, ký kết Công ước Lahay về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế

Việc Việt Nam tham gia Công ước Lahay về nuôi con nuôi đã được đặt ra từ đầu những năm 90. Do một thời gian dài thực hiện Nghị định 184/CP (từ năm 1994 đến hết 2002) và do chưa thành lập được Cơ quan trung ương về nuôi con nuôi quốc tế theo quy định của Công ước cũng như chưa kịp sửa đổi pháp luật trong nước để bảo đảm phù hợp với thông lệ quốc tế và tinh thần Công ước Lahay, nên đến nay, vấn đề ký kết mới được đặt ra và đây được coi là yêu cầu cấp thiết, tạo hành lang pháp lý ổn định và lâu dài cho công tác bảo vệ trẻ em được cho làm con nuôi; thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước thành viên, nhằm bảo đảm quá trình giải quyết cho trẻ em làm con nuôi theo đúng tinh thần nhân đạo, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.

  Tại phiên họp, y ban Pháp luật cho rằng, một số quy định của pháp luật nước ta còn mâu thuẫn và trái với nội dung của Công ước Lahay như: độ tuổi được nhận làm con nuôi (theo quy định tại Điều 3 và mục c Điều 17 của Công ước Lahay thì trẻ em chỉ được nhận làm con nuôi trước khi đến tuổi 18, trừ trường hợp được Cơ quan trung ương về nuôi con nuôi của cả hai quốc gia đồng ý. Nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Luật Hôn nhân và gia đình và khoản 1 Điều 36 Nghị định 69/2006/NĐ-CP của Chính phủ thì trẻ em được nhận làm con nuôi phải từ 15 tuổi trở xuống, trẻ em trên 15 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể được nhận làm con nuôi nếu là trẻ em tàn tật, trẻ em mất năng lực hành vi dân sự hoặc làm con nuôi của người già yếu cô đơn...); việc chấm dứt quan hệ pháp lý của trẻ em được nhận làm con nuôi quốc tế với cha mẹ đẻ (theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 26 của Công ước Lahay, khi trẻ em được nhận làm con nuôi quốc tế thì sẽ chấm dứt mối quan hệ pháp lý tồn tại trước đó với cha mẹ đẻ. Quy định này nhằm bảo đảm cho trẻ em được nhận làm con nuôi quốc tế được hưởng đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tại nước của cha mẹ nuôi hay còn gọi là Nước nhận. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật Việt Nam thì trẻ em là con nuôi vẫn được hưởng các quyền về nhân thân, quyền về tài sản); cơ quan có thẩm quyền quyết định việc nuôi con nuôi (Công ước Lahay quy định cả Nước nhận và Nước gốc phải chỉ định một Cơ quan ở trung ương có thẩm quyền, làm đầu mối trong việc bảo đảm thực hiện Công ước và việc chỉ định Cơ quan trung ương về nuôi con nuôi là bắt buộc. Theo Tờ trình của Chính phủ thì Chính phủ đã dự kiến giao cho Bộ Tư pháp là Cơ quan trung ương làm đầu mối giải quyết các vấn đề liên quan đến nuôi con nuôi quốc tế. Nhưng theo quy định tại Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình, thì y ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện việc đăng ký kết hôn, nuôi con nuôi và giám hộ có yếu tố nước ngoài…). Do đó, theo quy định tại khoản 5 Điều 12 Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế “Trong trường hợp cho ý kiến về việc đàm phán, ký kết điều ước quốc tế có quy định trái với các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, thì UBTVQH báo cáo Quốc hội cho ý kiến”, Thường trực y ban Pháp luật đề nghị UBTVQH báo cáo Quốc hội về vấn đề này tại kỳ họp thứ tư, dự kiến diễn ra vào tháng 10 năm 2008.

UBTVQH đồng ý với việc đàm phán, ký kết Công ước Lahay vì khi Việt Nam là thành viên của Công ước này, quyền lợi của trẻ em làm con nuôi quốc tế sẽ được bảo vệ nhiều hơn. Các thành viên UBTVQH cũng đồng ý với y ban Pháp luật về những mâu thuẫn đang tồn tại giữa pháp luật Việt Nam và Công ước Lahay. Do vậy, UBTVQH sẽ xem xét, đưa ra ý kiến của UBTVQH và sẽ trình Quốc hội thảo luận, cho ý kiến trước khi đàm phán, ký kết công ước này. Tuy nhiên, UBTVQH cũng lưu ý Chính phủ cần có các biện pháp hữu hiệu để khắc phục tình trạng nuôi con nuôi quốc tế thời gian gần đây tại Việt Nam còn nhiều sơ hở, bất cập dẫn đến tiêu cực, chạy theo lợi ích vật chất, gây bức xúc trong dư luận và làm xấu đi hình ảnh của Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế. /.

Khánh Vân
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi

Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp điện tử được hoàn thành với sự giúp đỡ của Dự án Danida
    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08048487•Fax: 08048486•Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân