Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ sáu, 25/05/2018, 15:39(GMT+7)
 
Tap chi Nghien cuu Lap phap - Van phong Quoc hoi

Thẩm quyền của Chính phủ theo Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức Chính phủ 2015
Thẩm quyền của Chính phủ theo Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức Chính phủ 2015
Ảnh minh họa/nguồn internet
Nguyễn Cửu Việt, PGS, TS. Nguyên Giảng viên trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.

Tóm tắt: Phân định thẩm quyền là vấn đề quan trọng hàng đầu của Hiến pháp và của các luật tổ chức cơ quan nhà nước. Bài viết phân tích các quy định về thẩm quyền chung của Chính phủ, thẩm quyền của tập thể Chính phủ, thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ và đưa ra các đề xuất, kiến nghị nhằm phân định thẩm quyền hợp lý.

Từ khóa: thẩm quyền, thẩm quyền chung, Chính phủ

Abstract: Separation of the authority is the top priority of the Constitution and of the laws of the organization of the state. This article provides analysis of the provisions on the general authority of the government, the authority of the government cabinet, the competence of the Prime Minister, and also provides proposals and recommendations to determine the reasonable authorities.

Keywords: authority, general authority, the government

 Thẩm quyền của một cơ quan nhà nước là một khái niệm mang tính hệ thống, bao gồm các nghĩa vụ (trước nhà nước) và các quyền (đối với các đối tượng quản lý) thực hiện các nhiệm vụ, chức năng, các vấn đề nhất định… và các quyền hạn cụ thể để thực hiện các quyền và nghĩa vụ chung đó (như: quyền ban hành văn bản pháp luật, thực hiện các biện pháp cưỡng chế, các hoạt động mang tính tổ chức kỹ thuật…)[1].

Theo quy định của Điều 94 Hiến pháp năm 2013, Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội. Để thực hiện các nhiệm vụ, chức năng hiến định của mình, Chính phủ được trao thẩm quyền rất rộng lớn nhằm đảm bảo thực hiện quyền hành pháp, lãnh đạo hệ thống hành chính và tổ chức thực hiện quản lý nhà nước trên mọi lĩnh vực trong phạm vi cả nước.

      Thẩm quyền của Chính phủ được quy định tập trung tại Điều 96 Hiến pháp năm 2013, Chương II Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015, ngoài ra còn được quy định bổ sung rải rác trong nhiều luật khác về tổ chức các cơ quan nhà nước và các luật chuyên ngành.

           Trong số thẩm quyền của Chính phủ có thẩm quyền chung của Chính phủ, thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ, thẩm quyền của các bộ trưởng và thủ trưởng cơ quan ngang bộ (sau đây gọi chung là bộ trưởng).

1. Thẩm quyền chung của Chính phủ

Thẩm quyền chung của Chính phủ (thẩm quyền của Chính phủ) được quy định tập trung tại Điều 96 Hiến pháp 2013.  

Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1. Tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH), lệnh, quyết định của Chủ tịch nước;

2. Đề xuất, xây dựng chính sách trình Quốc hội, UBTVQH quyết định hoặc quyết định theo thẩm quyền để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều này; trình dự án luật, dự án ngân sách nhà nước và các dự án khác trước Quốc hội; trình dự án pháp lệnh trước UBTVQH;

3. Thống nhất quản lý về kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, thông tin, truyền thông, đối ngoại, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thi hành lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và các biện pháp cần thiết khác để bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm tính mạng, tài sản của Nhân dân;

4. Trình Quốc hội quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ; thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; trình UBTVQH quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

5. Thống nhất quản lý nền hành chính quốc gia; thực hiện quản lý về cán bộ, công chức, viên chức và công vụ trong các cơ quan nhà nước; tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước; lãnh đạo công tác của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp; hướng dẫn, kiểm tra UBND trong việc thực hiện văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; tạo điều kiện để UBND thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do luật định;

6. Bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền công dân; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội;

7. Tổ chức đàm phán, ký điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước theo ủy quyền của Chủ tịch nước; quyết định việc ký, gia nhập, phê duyệt hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ, trừ điều ước quốc tế trình Quốc hội phê chuẩn quy định tại khoản 14 Điều 70; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân Việt Nam ở nước ngoài;

8. Phối hợp với Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình[2].

So với Hiến pháp năm 1992, thẩm quyền của Chính phủ theo Hiến pháp năm 2013 có một số điểm mới chủ yếu sau đây:

1) Về đơn vị hành chính: bỏ quyền hạn quyết định việc điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyền hạn này đã được Hiến pháp 2013 trao cho UBTVQH (khoản 8 Điều 74); thay vào đó, bổ sung quyền hạn trình UBTVQH quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh (khoản 4); ngoài ra bổ sung quyền hạn trình Quốc hội quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.

2) Bổ sung tại khoản 2 quyền hạn đề xuất, xây dựng chính sách trình Quốc hội, UBTVQH quyết định hoặc quyết định theo thẩm quyền để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều này. Đây là quyền hạn đặc trưng để thực hiện quyền hành pháp.

3) Bổ sung tại khoản 4 quyền hạn trình Quốc hội quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ. Trước đây quyền hạn này Hiến pháp 1992 trao cho Thủ tướng Chính phủ. 

Trong Điều 96 dẫn trên, xét theo tính chất của vấn đề, những chữ in nghiêng là những quyền hạn cụ thể phải được thảo luận tập thể, quyết định theo đa số trên phiên họp toàn thể của Chính phủ. Để dễ phân biệt, chúng tôi gọi bộ phận này là“thẩm quyền của tập thể Chính phủ”, mặc dù cách gọi này chỉ mang tính ước lệ[3]. Còn những chữ in đứng là những quyền và nghĩa vụ chung, mà trách nhiệm thực hiện thuộc về cả tập thể Chính phủ (trên phiên họp) và mọi thành viên Chính phủ.    

Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 95 Hiến pháp 2013 đã quy định nguyên tắc “Chính phủ làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số”, nên mọi quyết định thuộc thẩm quyền của Chính phủ (được hiểu là “thẩm quyền chung của Chính phủ”), về nguyên tắc, đều được quyết định theo đa số trên phiên họp toàn thể của Chính phủ. Tuy nhiên, thực tế lại không phản ánh đúng quy định này. Chỉ đơn cử: để thực hiện quy định tại khoản 1, 6 Điều 96 Hiến pháp 2013 thì không chỉ Chính phủ (nói chung), bao gồm cả tập thể Chính phủ, Thủ tướng và mọi thành viên khác, mà cả hệ thống bộ máy hành chính, phải chung sức thực hiện.

Như vậy, các quy định này của Hiến pháp 2013 (khoản 1 Điều 95, Điều 96) và Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 (Luật năm 2015) đã đng nhất thẩm quyền của tập thể Chính phủ (với tư cách là hình thức hoạt động của tập thể Chính phủ) với thẩm quyền của Chính phủ nói chung. Vấn đề là ở chỗ, Hiến pháp 2013 đã bỏ nguyên tắc rất đúng đắn của Hiến pháp 1992: Những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của Chính phủ phải được thảo luận tập thể và quyết định theo đa số (khoản 2 Điều 115) và thay bằng nguyên tắc: Chính phủ làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số (khoản 1 Điều 95). Kết quả là, Luật năm 2015 không còn giữ lại quy định về những vấn đề quan trọng phải được giải quyết trên phiên họp Chính phủ như Điều 19 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001 (Luật năm 2001). Do vậy, có thể nói, về vấn đề này, Hiến pháp 2013 và Luật năm 2015 là bước lùi so với Hiến pháp 1992 và Luật năm 2001.

Tuy nhiên, Nghị định số 138/2016/NĐ-CP ngày 01/10/2016 ban hành kèm theo Quy chế làm việc của Chính phủ (Quy chế năm 2016) đã liệt kê cụ thể vấn đề Chính phủ thảo luận và quyết định theo đa số:

1. Đề nghị của Chính phủ về xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết trình Quốc hội, UBTVQH; các dự án luật, nghị quyết trình Quốc hội, dự án pháp lệnh, nghị quyết trình UBTVQH.

2. Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn và hàng năm; dự toán ngân sách nhà nước và phương án phân bổ ngân sách trung ương hằng năm; quyết toán ngân sách nhà nước.

3. Tình hình kinh tế - xã hội hằng tháng, 06 tháng, cả năm và những nhiệm vụ, giải pháp chỉ đạo, điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

4. Cơ cấu tổ chức của Chính phủ; việc thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ; việc thành lập, sáp nhập, giải thể cơ quan thuộc Chính phủ; thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.

5. Chương trình công tác của Chính phủ hằng năm; kiểm điểm công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và việc thực hiện Quy chế làm việc của Chính phủ.

6. Những vấn đề mà pháp luật quy định Chính phủ phải thảo luận và quyết nghị.

7. Những vấn đề cần thiết khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. (Điều 4).

Theo quy định của Điều 4 này, có thể hiểu, tất cả những vấn đề còn lại thuộc thẩm quyền của Chính phủ sẽ không được đưa ra thảo luận tập thể và quyết định theo đa số. Quy định này phản ánh đúng thực tế, tuy nhiên lại không hợp hiến, hợp pháp, bởi lẽ, việc phân định thẩm quyền của Chính phủ phải do Quốc hội thực hiện bằng Hiến pháp luật. Do đó, nội dung này cần được quy định trong Luật năm 2015, tương tự như Điều 19 Luật năm 2001.  

2. Thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ

Thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ được quy định tại Điều 98 Hiến pháp năm 2013:

Thủ tướng Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1. Lãnh đạo công tác của Chính phủ; lãnh đạo việc xây dựng chính sách và tổ chức thi hành pháp luật;

2. Lãnh đạo và chịu trách nhiệm về hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương, bảo đảm tính thống nhất và thông suốt của nền hành chính quốc gia;

3. Trình Quốc hội phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thứ trưởng, chức vụ tương đương thuộc bộ, cơ quan ngang bộ; phê chuẩn việc bầu, miễn nhiệm và quyết định điều động, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

4. Đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ văn bản của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, UBND, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; đình chỉ việc thi hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị UBTVQH bãi bỏ;

5. Quyết định và chỉ đạo việc đàm phán, chỉ đạo việc ký, gia nhập điều ước quốc tế thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ; tổ chức thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hoà XHCN Việt Nam là thành viên;

6. Thực hiện chế độ báo cáo trước Nhân dân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng về những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền giải quyết của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ.

Trong nội dung điều này có thể thấy đa phần là quyền hạn cụ thể (chữ in nghiêng), còn lại là các quyền và nghĩa vụ chung (chữ in đứng) và như vậy là phù hợp vì cá nhân Thủ tướng cần được trao quyền giải quyết những công việc có tính chất cấp bách và cụ thể, ngoài những quyền hạn đặc trưng cho vai trò của người đứng đầu Chính phủ. Quy định của Khoản 6 Điều này nhằm phát huy tính dân chủ, công khai, thắt chặt quan hệ giữa Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với Nhân dân, tuy nhiên, đáng tiếc việc thực hiện các quy định này trên thực tế không thật sự rõ ràng.

Quy định của Hiến pháp năm 2013 cho thấy sự tăng cường vai trò của Thủ tướng Chính phủ. Hiến pháp bổ sung thêm cho Thủ tướng quyền quyết định và chỉ đạo việc đàm phán, chỉ đạo việc ký, gia nhập điều ước quốc tế thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ; tổ chức thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hoà XHCN Việt Nam là thành viên (khoản 5 Điều 98).

Bên cạnh đó, Luật năm 2015 còn trao cho Thủ tướng Chính phủ “quyết định các vấn đề khi còn có ý kiến khác nhau giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ” (khoản 1 điểm c, Điều 28); “Trong thời gian Quốc hội không họp, quyết định giao quyền Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong trường hợp khuyết Bộ trưởng hoặc Thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Trong thời gian giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, quyết định giao quyền Chủ tịch UBND cấp tỉnh theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong trường hợp khuyết Chủ tịch UBND cấp tỉnh (khoản 5 Điều 28);

Ngoài ra, Quy chế năm 2016 quy định: “Trong trường hợp xét thấy cần thiết do tính chất quan trọng, cấp bách của công việc, Thủ tướng Chính phủ trực tiếp chỉ đạo giải quyết công việc thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND cấp tỉnh (điểm e khoản 2, Điều 5). Quy định này xuất phát từ tính chất của vị trí, vai trò chỉ đạo, điều hành hoạt động hành chính, bảo đảm sự thông suốt, kịp thời trong hoạt động hành chính của Thủ tướng Chính phủ.

Bên cạnh những mặt tích cực nêu trên, quy định về thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ trong Hiến pháp năm 2013, Luật năm 2015 còn một số hạn chế sau đây:

1) Hiến pháp năm 2013 không phân định rõ thẩm quyền chung của Chính phủ với thẩm quyền của tập thể Chính phủ, do đó, nếu đặt Điều 96 Hiến pháp 2013 bên cạnh Điều 98 (mà không so sánh nội dung), thì dường như thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ hoàn toàn độc lập với thẩm quyền chung của Chính phủ. Thực tế, như đã phân tích, thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ chỉ là để thực hiện thẩm quyền chung của Chính phủ, cũng như thẩm quyền của tập thể Chính phủ, bộ trưởng (với tư cách thủ trưởng bộ), UBND...   

2) Khoản 2 Điều 5 Luật năm 2015 về “Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Chính phủ” quy định: “Phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm giữa Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ...”. Quy định như vậy hình chung đã xếp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ vào một thiết chế có chung thẩm quyền. Trong khi đó, Chính phủ có “thẩm quyền chung” và có hình thức hoạt động quan trọng của tập thể Chính phủ (gọi là “thẩm quyền của tập thể Chính phủ”), còn Thủ tướng Chính phủ có “thẩm quyền riêng”.  

Đúng ra, mục đích của quy định nêu trên là nhằm phân định rõ thẩm quyền giữa hình thức hoạt động của tập thể Chính phủ với hình thức hoạt động của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, UBND… trong thực hiện thẩm quyền của Chính phủ nói chung, tức là thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhánh hành pháp, của quản lý nhà nước. Vì vậy, để khắc phục hạn chế này, cần sửa đổi khoản 2 Điều 5 Luật năm 2015 như sau: “Phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm giữa tập thể Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với tư cách là thủ trưởng bộ” (vì Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với tư cách là thành viên Chính phủ thì không có thẩm quyền riêng của mình).

3) Bên cạnh sự cần thiết khôi phục lại Điều 19 Luật năm 2001 về những vấn đề thuộc thẩm quyền chung của Chính phủ phải được bàn bạc tập thể và biểu quyết theo đa số trên phiên họp Chính phủ, một vấn đề quan trọng khác là, Luật năm 2015 cần bổ sung quy định  về vai trò “lấp lỗ hổng về thẩm quyền” của Thủ tướng Chính phủ đó là: “Thủ tướng Chính phủ có quyền giải quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Chính phủ, trừ những vấn đề phải được giải quyết trên phiên họp của Chính phủ theo Điều...”.

Cần lưu ý rằng, các Phó Thủ tướng Chính phủ không có thẩm quyền “riêng”, mà chỉ là người giúp Thủ tướng Chính phủ, được Thủ tướng Chính phủ phân công phụ trách một số lĩnh vực công tác. Các bộ trưởng, với tư cách là thủ trưởng của bộ thì bộ trưởng có có thẩm quyền riêng, nhưng với tư cách là thành viên Chính phủ cũng không có thẩm quyền “riêng”. Nói cách khác, ngoài phiên họp của tập thể Chính phủ, thì gánh nặng thực hiện thẩm quyền của Chính phủ (nói chung) được trao cho Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ.

Tóm lại, để phân định thẩm quyền hợp lý trong nhánh hành pháp, quản lý nhà nước, cần phải có các sửa đổi sau đây:

Thứ nhất, quy định về thẩm quyền chung của Chính phủ (không nên ghi là “thẩm quyền của Chính phủ” vì dễ nhầm lẫn với bộ phận thẩm quyền chung của Chính phủ phải được bàn bạc tập thể và biểu quyết theo đa số), tức là chỉ thay đổi tên điều, không bàn về nội dung; điều này thực chất là quy định về tất cả những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của quyền hành pháp, quản lý nhà nước. 

Thứ hai, quy định về thẩm quyền của tập thể Chính phủ (là những vấn đề thuộc thẩm quyền chung của Chính phủ phải được bàn bạc tập thể và biểu quyết theo đa số trên phiên họp Chính phủ); sửa đổi nguyên tắc “Chính phủ làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số” (khoản 1 Điều 95 Hiến pháp năm 2013) thành Những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền chung của Chính phủ phải được thảo luận tập thể và quyết định theo đa số”.

Thứ ba, quy định về thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ, theo đó:Thủ tướng Chính phủ có quyền giải quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền chung của Chính phủ, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của tập thể Chính phủ. Đồng thời, quy định Thủ tướng Chính phủ có quyền giải quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của bộ trưởng, UBND, Chủ tịch UBND cấp tỉnh nhưng chỉ trong trường hợp các chủ thể này không giải quyết được hay giải quyết không kịp thời, không đạt yêu cầu và sau đó báo cáo Chinh phủ trong phiên họp gần nhất.

Thứ tư, Quy chế làm việc của Chính phủ không thể là văn bản quy định những vấn đề mang tính chất phân định thẩm quyền mới, bổ sung Hiến pháp năm 2013 hay Luật năm 2015, mà chỉ là phân công công việc trong hoạt động của Chính phủ trên cơ sở thẩm quyền mà Hiến pháp năm 2013, Luật năm 2015 và các văn bản luật khác đã có liên quan. Cần phân biệt khái niệm “phân định thẩm quyền” là quy định và giao quyền mới, với “phân công công việc” là phân giao quyền, nhiệm vụ đã được Hiến pháp, luật phân định./.

 


[1] Về khái niệm thẩm quyền nói chung và các quyền, nghĩa vụ chung và các quyền hạn cụ thể - hai nhóm yếu tố của khái niệm thẩm quyền, có thể xem thêm: Б. М. Лазарев, Компетенция органов управления, Юрид. лит. М., 1972, с. 101. (B.M. Lazaep. Thẩm quyền của các cơ quan quản lý, Nxb. Pháp lý, Maxcơva, 1972, tr. 101) Xem thêm bài của Nguyễn Cửu Việt: “Cải cách hành chính: về khái niệm thẩm quyền” và “Các yếu tố cấu thành và tính hệ thống của thẩm quyền”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, các số 8 - 9/2005.

[2] Những chữ nghiêng là những quyền hạn cụ thể, những chữ đứngnhững quyền và nghĩa vụ chung (TG)

[3] Chính phủ vốn là một tập thể, do đó có thể lập luận rằng, “thẩm quyền của tập thể Chính phủ” chính là “thẩm quyền của Chính phủ”.

Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Vai trò, trách nhiệm của Chính phủ trong việc soạn thảo, chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo luật, pháp lệnh (25/05/2018)
Về khái niệm, đối tượng bảo vệ an ninh mạng và giải thích từ ngữ tại Điều 3 Dự thảo Luật An ninh mạng (25/05/2018)
Xác định quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ (23/05/2018)
Pháp luật của Trung Quốc và Nhật Bản về ô nhiễm không khí và một số nhận xét, so sánh với pháp luật Việt Nam (22/05/2018)
Tham vấn cộng đồng dân cư trong quá trình đánh giá tác động môi trường và những vấn đề đặt ra (22/05/2018)
Dự thảo Luật Trồng trọt: các nội dung cần sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện (22/05/2018)
Xác định phán quyết trọng tài thuộc đối tượng của thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam (22/05/2018)
Dự thảo Luật Trồng trọt: các nội dung cần sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện (22/05/2018)
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em qua công tác xét xử ở khu vực miền Trung - Tây nguyên

Tổng quan và đánh giá các quy định của pháp luật về đại biểu Quốc hội ở Việt Nam

các điều kiện bảo đảm thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước

kinh nghiệm xây dựng thể chế tự quyết cho các thành phố văn minh

Vai trò của Toà Hành chính trong bảo đảm quyền công dân theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015

về tính độc lập và quyền miễn trừ của thẩm phán

Những nội dung về bảo vệ môi trường trong xây dựng và phát triển các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt

Đặc điểm, yêu cầu và thực trạng phân cấp quản lý đất đai hiện nay

Mô hình hợp tác nghề cá ở các vùng biển chồng lấn, đang tranh chấp của một số quốc gia

Đối tượng của quyền hưởng dụng trong pháp luật Việt Nam

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân