Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ ba, 16/10/2018, 09:17(GMT+7)
 
Tap chi Nghien cuu Lap phap - Van phong Quoc hoi

Phân biệt giám sát của Quốc hội đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án của Viện kiểm sát và chức năng giám đốc của TANDTC đối với TAND các cấp
Phân biệt giám sát của Quốc hội đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án của Viện kiểm sát và chức năng giám đốc của TANDTC đối với TAND các cấp
Ảnh minh họa: Internet

Tóm tắt: Để góp phần vào việc hoàn thiện chức năng và tổ chức thực hiện tốt chức năng giám sát của Quốc hội đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp, cần phân biệt giữa giám sát của Quốc hội đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án của Viện kiểm sát và chức năng giám đốc của Tòa án nhân dân tối cao đối với Tòa án nhân dân các cấp.

Từ khóa: giám sát; giám sát của Quốc hội; giám sát hoạt động tư pháp

Abstract: It is necessary to seperately identify the supervision by the National Assembly against the performance of the judiciary agencies and the observance functions for the lawful compliance in the investigation, prosecution, adjudication and judgment execution by the Procuracy and the directoring function of the Supreme People's Court to the lower-level People's Courts so that it would provide the further improvements of the National Assembly’s functioning development and its effective supervision towards the performance of the judiciary agencies.

 

Keywords: supervision; supervision by the National Assembly; supervision towards performance of the judiciary agencies.

 

1. Đặt vấn đề

Việc bảo đảm cho Hiến pháp và pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh, thống nhất trong cả nước trước hết thuộc trách nhiệm của các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Các hoạt động kiểm tra, kiểm sát, giám sát, giám đốc có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc bảo đảm tính đúng đắn, có hiệu lực và hiệu quả trong hoạt động của các cơ quan, cán bộ công chức, viên chức nhà nước, tôn trọng và phát huy quyền dân chủ của công dân. Các hoạt động này do nhiều cơ quan nhà nước có vị trí, vai trò, thẩm quyền khác nhau tiến hành theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan do luật định, nhưng giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước thuộc chức năng riêng có của Quốc hội, mang tính quyền lực nhà nước do nhân dân trực tiếp giao qua bầu cử.

Trước yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước, bên cạnh thành tựu, kết quả đạt được trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và ngoại giao, tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước cũng bộc lộ một số hạn chế, tồn tại cần được khắc phục, đó là biên chế, tổ chức bộ máy cồng kềnh; thủ tục hành chính nặng nề, phiền hà và hiệu quả hoạt động còn thấp; chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, mối quan hệ giữa một số cơ quan còn chưa rõ, trùng lặp; tình trạng tham nhũng, lãng phí xảy ra khá nghiêm trọng. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đang tiến hành quyết liệt công cuộc cải cách hành chính, cải cách tư pháp, đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân (TAND), Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) và chính quyền địa phương, toàn thể bộ máy nhà nước, phúc đáp yêu cầu, nhiệm vụ của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Theo Hiến pháp năm 2013, các hoạt động kiểm tra, kiểm sát, giám sát, giám đốc là một trong những hoạt động quan trọng cần được đổi mới để thực hiện nhiệm vụ này. Do đó, về mặt khoa học, xuất phát từ nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước cũng cần nghiên cứu đầy đủ và kỹ lưỡng hơn về lý luận cũng như thực tiễn hoạt động giám sát, một chức năng rất quan trọng của Quốc hội.

Để góp phần vào việc nghiên cứu hoàn thiện chức năng và tổ chức thực hiện tốt chức năng giám sát của Quốc hội đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp, trong khuôn khổ bài viết, chúng tôi đề cập một số vấn đề về việc phân biệt giữa giám sát của Quốc hội đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án của Viện kiểm sát và chức năng giám đốc của TAND tối cao đối với TAND các cấp.

2. Quan niệm về hoạt động của các cơ quan tư pháp

Là một bộ phận của quyền lực nhà nước, quyền tư pháp gắn bó chặt chẽ với quyền lập pháp và quyền hành pháp trong tổng thể quyền lực nhà nước thống nhất. Hoạt động tư pháp là một trong những phương thức thực hiện quyền lực nhà nước, được hiểu là hoạt động xét xử của Tòa án, hoạt động của các cơ quan khác của Nhà nước và các tổ chức trực tiếp liên quan đến hoạt động xét xử như điều tra, công tố, thi hành án, bổ trợ tư pháp (luật sự, công chứng, giám định tư pháp, tư vấn pháp luật...). Trong các cơ quan, tổ chức đó thì Tòa án là nơi biểu hiện tập trung quyền tư pháp, là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, nơi mà kết quả các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, bào chữa, giám định tư pháp, tranh tụng, thẩm vấn... được tiến hành một cách công khai thông qua các thủ tục tố tụng chặt chẽ để đưa ra phán quyết cuối cùng mang tính quyền lực nhà nước, nhân danh nhà nước; nơi thể hiện sự thượng tôn pháp luật, công lý, sự công bằng và bình đẳng, đồng thời cũng thể hiện chất lượng hoạt động và uy tín của các cơ quan tư pháp trong tổ chức bộ máy nhà nước.

Các cơ quan tư pháp đặc biệt là Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án là những cơ quan bảo vệ và giữ gìn pháp luật, thông qua hoạt động của mình áp dụng các biện pháp cần thiết do pháp luật quy định nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời, đúng pháp luật mọi hành vi vi phạm, phục vụ cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, phục vụ việc giải quyết các tranh chấp phát sinh trong đời sống xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo vệ chế độ, bảo vệ pháp chế XHCN, quyền con người, quyền công dân, giữ vững trật tự kỷ cương, bảo đảm công bằng xã hội.

Xét từ phía công dân thì hoạt động của các cơ quan tư pháp là phương tiện hữu hiệu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Hoạt động của các cơ quan tư pháp có liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Do vậy, người dân đòi hỏi các cơ quan tư pháp, đặc biệt là Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án phải là biểu tượng của việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, phải thể hiện trực tiếp tính dân chủ, công khai và yêu cầu khách quan bảo vệ công lý trong hoạt động.

3. Tính chất quyền giám sát của Quốc hội đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp

Trước hết phải khẳng định, giám sát của Quốc hội đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp là giám sát mang tính chất quyền lực nhà nước, quyền lực do nhân dân giao cho Quốc hội thông qua chế độ bầu cử trực tiếp và Hiến định. Quyền lực đó mang tính tối cao, được bắt nguồn từ vị trí, vai trò của Quốc hội trong bộ máy nhà nước mà Điều 69 Hiến pháp năm 2013 quy định “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”.

Đối tượng chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội trước hết trực tiếp là những cơ quan tư pháp có vị trí pháp lý cao nhất, đó là TAND tối cao, VKSND tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp (điểm a, Khoản 1, Điều 4 Luật Hoạt động Giám sát của Quốc hội và Hội đồng Nhân dân năm 2015 - Luật HĐGS của QH và HĐND). Tuy nhiên, là cơ quan có chức năng giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước, nên phạm vi đối tượng giám sát của Quốc hội không chỉ duy nhất bó hẹp đối với các cơ quan này (mặc dù đây là các cơ quan chịu sự giám sát trực tiếp và chủ yếu) mà còn có thể đối với bất kỳ Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án ở cấp nào khi xét thấy cần thiết trong việc làm rõ trách nhiệm của những người đứng đầu các cơ quan tư pháp ở cấp cao nhất; những người do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn (Khoản 2, Điều 4 Luật HĐGS của QH và HĐND).

Thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp không có nghĩa Quốc hội can thiệp trực tiếp vào hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; vào việc ra các bản án của Tòa án, quyết định của Thủ trưởng cơ quan điều tra, cơ quan công tố, cơ quan thi hành án, mà nội dung của quyền giám sát là theo dõi, kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp, tính tuân thủ pháp luật đối với các văn bản quy phạm pháp luật và các hoạt động của TAND, VKSND, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án; xử lý những người có hành vi vi phạm Hiến pháp và pháp luật trong hoạt động tư pháp bằng  việc miễn nhiệm, bãi nhiệm người giữ các chức vụ cao nhất, người đứng đầu các cơ quan tư pháp; bãi bỏ các văn bản trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và ra Nghị quyết khi xét thấy cần thiết để yêu cầu các cơ quan tư pháp tuân thủ đúng pháp luật (Điều 70 Hiến pháp năm 2013).

Giám sát tối cao của Quốc hội đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp là giám sát mang tính chất vĩ mô để hoạch định chính sách phù hợp với vị trí, tính chất của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Trên thực tế, Quốc hội thường tổ chức các Đoàn công tác của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội để tiến hành giám sát trực tiếp ở một số cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, cơ quan thi hành án đối với một số vụ việc, vụ án cụ thể. Tuy nhiên, phải khẳng định rằng hoạt động giám sát trực tiếp của các đoàn không can thiệp vào các hoạt động, việc giải quyết các vụ án, vụ việc của các cơ quan tư pháp, không ra quyết định để hủy bản án của Tòa án này, đình chỉ hoặc bãi bỏ quyết định của Thủ trưởng cơ quan điều tra, cơ quan công tố, cơ quan thi hành án kia, mà trên cơ sở hoạt động của các đoàn ở cơ sở để Quốc hội xác định chất lượng hoạt động, làm rõ trách nhiệm của những người đứng đầu các cơ quan tư pháp trong việc thi hành, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án...; đồng thời, có những căn cứ thực tiễn trong việc hoạch định chính sách cho phù hợp với yêu cầu mà thực tế cuộc sống đặt ra. Trong trường hợp thấy có sai phạm trong hoạt động, nhất là trong việc giải quyết các vụ án thì kiến nghị, yêu cầu các cơ quan tư pháp có thẩm quyền chỉ đạo, xem xét giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

4. Phân biệt giữa giám sát của Quốc hội đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án của Viện kiểm sát và chức năng giám đốc của Tòa án nhân dân tối cao đối với Tòa án nhân dân các cấp

Hoạt động giám sát, kiểm sát, giám đốc thuộc trách nhiệm của nhiều cơ quan trong việc thực thi pháp luật nhằm bảo đảm và tăng cường pháp chế XHCN ở nước ta. Tuy có chung mục đích như vậy, song mỗi hoạt động đều mang nội dung, tính chất đặc thù riêng về chủ thể, phạm vi đối tượng, phương thức và hậu quả pháp lý, đồng thời lại bao gồm các yếu tố có quan hệ và tác động qua lại lẫn nhau. Do vậy, việc nghiên cứu để nâng cao hiệu lực và hiệu quả của hoạt động này, không thể tách rời việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động khác. Với cách đặt vấn đề như vậy, chúng tôi cho rằng, việc làm rõ về nội dung, tính chất của mỗi hoạt động giám sát, kiểm sát, giám đốc là một vấn đề có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn, tránh trùng lặp làm thay hoặc bỏ trống đối tượng, lĩnh vực hoạt động không ai chịu trách nhiệm.

4.1 Chủ thể thực hiện quyền giám sát, kiểm sát và giám đốc

Xuất phát từ vị trí của Quốc hội trong bộ máy nhà nước do nhân dân trực tiếp bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp bỏ phiếu kín (Điều 7 Hiến pháp năm 2013) và nguyên tắc tập trung, thống nhất phân công, kiểm soát quyền lực nhà nước (Điều 2 Hiến pháp năm 2013), có thể khẳng định rằng, Quốc hội là cơ quan duy nhất thực hiện quyền giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước, đó là quyền chủ thể riêng của Quốc hội. Tuy nhiên, hiểu Quốc hội theo quy định của Hiến pháp và các luật về tổ chức bộ máy nhà nước phải bao gồm tất cả các bộ phận cấu thành của nó được tổ chức thành một thiết kế bộ máy hoàn chỉnh. Do đó, hoạt động giám sát tối cao đối với hoạt động tư pháp phải bao gồm hoạt động giám sát của Quốc hội tại kỳ họp, hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và ĐBQH. Tất cả các hoạt động này tạo nên một phạm vi khá bao quát khái niệm về Quốc hội với tính chất là chủ thể thực hiện quyền giám sát tối cao đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp.

Có ý kiến nghiên cứu cho rằng, Quốc hội thực hiện quyền giám sát bằng hai cách trực tiếp và gián tiếp. Trực tiếp chính là hoạt động của Quốc hội, còn gián tiếp là thông qua hoạt động của một số cơ quan nhà nước bằng cách thành lập, giao chức năng giám sát và quyền hạn tương ứng cho các cơ quan này như giao cho VKSND tối cao, TAND tối cao thực hiện các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật và giám đốc xét xử. Nếu theo quan niệm như vậy thì ở phương diện nào đó, các cơ quan tư pháp cũng thực hiện các hoạt động giám sát do Quốc hội giao bằng cách quy định trong các đạo luật. Theo chúng tôi, quan niệm như vậy là không đúng, dễ dẫn đến trùng lặp chức năng hoặc làm thay trong các hoạt động của các cơ quan nhà nước, vì đây là các cơ quan nhà nước có vị trí pháp lý, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và nguyên tắc tổ chức hoạt động rất khác nhau.

Hiểu Quốc hội là chủ thể duy nhất thực hiện quyền giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước không thể tách rời các bộ phận cấu thành trong một chỉnh thể thống nhất, đó là các cơ quan của Quốc hội, các Đoàn ĐBQH, từng ĐBQH. Tính cao nhất ở đây thể hiện ở hậu quả pháp lý cao nhất mà Quốc hội thực hiện đối với các cơ quan tư pháp, người đứng đầu các cơ quan tư pháp có vị trí pháp lý cao nhất trong bộ máy theo từng hệ thống, đó là TAND tối cao, VKSND tối cao.

Nếu tách rời hoạt động giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, các Đoàn ĐBQH và ĐBQH thì hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội đối với các cơ quan tư pháp tại kỳ họp sẽ thiếu cơ sở thực tiễn và căn cứ pháp luật cần thiết.

Theo quy định tại Điều 107 của Hiến pháp năm 2013 và Điều 2 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 thì Viện kiểm sát có chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Trong lĩnh vực tư pháp, bên cạnh chức năng thực hiện quyền công tố, VKSND còn có nhiệm vụ tiến hành kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án (Điều 4 Luật Tổ chức VKSND). Chủ thể thực hiện quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung, thống nhất dưới sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng VKSND tối cao (Điều 109 Hiến pháp năm 2013). Người đứng đầu cơ quan thực hiện quyền kiểm sát hoạt động tư pháp do Quốc hội bầu, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội (Điều 70, Điều 108 Hiến pháp năm 2013).

Như vậy, chủ thể thực hiện quyền kiểm sát trong hoạt động tư pháp là một cơ quan tư pháp chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội và là đối tượng chịu sự giám sát của Quốc hội.

Với vị trí là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, cơ quan thực hiện quyền tư pháp - TAND tối cao thực hiện chức năng giám đốc xét xử Tòa án địa phương và các Tòa án quân sự; giám đốc hoạt động của Tòa án đặc biệt và Tòa án khác trừ các trường hợp Quốc hội quy định khác khi thành lập Tòa án đó (Điều 20 Luật Tổ chức TAND năm 2014). Như vậy, chủ thể thực hiện quyền giám đốc là một cơ quan tư pháp, người đứng đầu là Chánh án TAND tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội (Điều 27 Luật Tổ chức TAND) và là đối tượng chịu sự giám sát của Quốc hội, sự kiểm sát của VKSND tối cao. Mối quan hệ giữa chủ thể thực hiện quyền giám đốc với đối tượng chịu sự giám đốc là mối quan hệ về tố tụng tư pháp.

4.2 Phạm vi đối tượng chịu sự giám sát, kiểm sát và giám đốc

Về mặt chủ thể thì Chủ tịch nước, Chính phủ, TAND tối cao, VKSND tối cao là các đối tượng chịu sự giám sát trực tiếp nhất của Quốc hội (Điều 70 Hiến pháp năm 2013). Tuy nhiên, khi xét thấy cần thiết, Quốc hội có quyền giám sát đối với bất kỳ hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân nào. Hiến pháp không hạn chế quyền này của Quốc hội. Do đó, mọi hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án của các cơ quan tư pháp đều chịu sự giám sát của Quốc hội và các cơ quan này đều có thể trở thành đối tượng chịu sự giám sát của Quốc hội.

Có ý kiến nghiên cứu cho rằng, khi Quốc hội đã giao cho VKSND chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, giao cho TAND tối cao giám đốc việc xét xử của TAND các cấp thì đối tượng chịu sự kiểm sát và giám đốc không còn là đối tượng chịu sự giám sát của Quốc hội. Theo chúng tôi, quan niệm như vậy là chưa phù hợp với tinh thần và nội dung của Hiến pháp năm 2013 và các luật về tổ chức bộ máy nhà nước, các luật, bộ luật về tố tụng, theo đó đối tượng chịu sự kiểm sát, giám đốc, chủ thể thực hiện quyền kiểm sát, giám đốc đều là đối tượng giám sát của Quốc hội.

Việc xác định cụ thể đối tượng chịu sự giám sát của Quốc hội có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định phạm vi và nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, nhất là giám sát hoạt động của các cơ quan tư pháp. Vì mỗi đối tượng chịu sự giám sát có vị trí pháp lý, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau, do vậy khi Quốc hội thực hiện quyền giám sát sẽ phát sinh trách nhiệm và hậu quả pháp lý khác nhau đối với từng đối tượng chịu sự giám sát. Đây là cơ sở để Quốc hội xem xét, đánh giá chất lượng hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát để Quốc hội tiến hành chất vấn tại kỳ họp hoặc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn; đồng thời là căn cứ để chính Quốc hội đánh giá chất lượng hoạt động của mình.

Đối tượng chịu sự kiểm sát của VKSND trong hoạt động tư pháp

Hoạt động của các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, cơ quan thi hành án ở các cấp trong công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đều là đối tượng chịu sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật do VKSND tiến hành theo chức năng, nhiệm vụ do luật định (Điều 4 Luật Tổ chức VKSND). Mối quan hệ giữa chủ thể thực hiện quyền kiểm sát và chịu sự kiểm sát là mối quan hệ giữa các cơ quan tư pháp, mối quan hệ về mặt tố tụng trong việc giải quyết các vụ án, vụ việc ở tất cả các giai đoạn từ khởi tố, khởi kiện, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp. Đây là các mối quan hệ giữa các cơ quan tư pháp và chủ yếu là quan hệ về mặt tố tụng.

Đối tượng chịu sự giám đốc của TAND tối cao

Theo quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức TAND, các luật tố tụng thì đối tượng chịu sự giám đốc của TAND tối cao là TAND các cấp, các Tòa án quân sự, trong một số trường hợp còn là Tòa án đặc biệt, Tòa án khác (trừ trường hợp Quốc hội có quy định khác khi thành lập)[1]. Đặc điểm quan hệ giữa đối tượng chịu sự giám đốc và cơ quan thực hiện quyền giám đốc cùng nằm trong hệ thống tổ chức TAND, quan hệ giữa các cơ quan này chủ yếu là quan hệ về tố tụng. Hoạt động xét xử bao gồm thẩm phán và hội thẩm thuộc các Tòa án độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, không chịu sự chỉ đạo, ràng buộc của Chánh án hoặc bất kỳ cơ quan quản lý nào[2]. Do đó, chỉ phát sinh mối quan hệ giữa TAND tối cao là cơ quan thực hiện quyền giám đốc và đối tượng chịu sự giám đốc là TAND các cấp, Tòa án quân sự về mặt tố tụng và về việc hướng dân áp dụng thống nhất pháp luật.

4.3 Phương thức thực hiện quyền giám sát, kiểm sát, giám đốc

Phương thức thực hiện quyền giám sát của Quốc hội

ĐBQH chất vấn Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao tại các kỳ họp Quốc hội (Điều 80 Hiến pháp năm 2013);

Quốc hội, Ủy ban Pháp luật của Quốc hội giám sát tính hợp hiến, hợp pháp đối với các văn bản quy phạm pháp luật của TAND tối cao, VKSND tối cao (Điều 4 Luật HĐGS của QH và HĐND);

Xét báo cáo của Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao tại các kỳ họp Quốc hội (Điều 70 Hiến pháp năm 2013; Điều 11, Điều 13 Luật HĐGS của QH và HĐND);

Tổ chức các Đoàn giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội để tiến hành giám sát trực tiếp việc thi hành và áp dụng pháp luật của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, thi hành án ở các cấp trong việc giải quyết các vụ án, vụ việc cụ thể (Điều 16, Điều 41 Luật HĐGS của QH và HĐND).

Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp (Điều 70 Hiến pháp năm 2013).

Phương thức thực hiện quyền kiểm sát trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án của VKSND

VKSND thực hiện kiểm sát trực tiếp việc tuân theo pháp luật của các cơ quan tư pháp trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Khi thực hiện phương thức kiểm sát này, Viện kiểm sát với tư cách là người tiến hành tố tụng hoặc tham gia tố tụng trong việc giải quyết các vụ án, vụ việc ở các giai đoạn tố tụng và sử dụng các nhiệm vụ, quyền hạn do luật định để can thiệp trực tiếp vào việc giải quyết các vụ án, chẳng hạn VKSND có thể phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các quyết định của cơ quan điều tra; quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của cơ quan điều tra, kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm... (Điều 4 Luật Tổ chức VKSND).

Phương thức thực hiện quyền giám đốc của TAND tối cao

Phương thức thực hiện quyền giám đốc của TAND tối cao là kiểm tra, xem xét hiệu lực, tính có căn cứ pháp luật, tính hợp pháp của các bản án, quyết định của TAND các cấp để tiến hành kháng nghị hay không kháng nghị và xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm. Nếu như quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát có thể tác động trực tiếp đối với việc giải quyết các vụ án trong các giai đoạn tố tụng, thì hoạt động giám đốc của TAND tối cao chỉ ở giai đoạn xét xử của TAND các cấp.

4.4 Hậu quả pháp lý của hoạt động giám sát, kiểm sát, giám đốc

Hậu quả giám sát tối cao của Quốc hội đối với hoạt động tư pháp

Xem xét trách nhiệm, việc chấp hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội của những người đứng đầu các cơ quan tư pháp như Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao; Quốc hội ra nghị quyết về việc miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh đó, hoặc việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm (Điều 70 Hiến pháp năm 2013).

Trong việc giám sát văn bản có quyền đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ, hủy bỏ các văn bản của TAND tối cao, VKSND tối cao khi các văn bản này trái với Hiến pháp, luật và Nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh và nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội (Điều 70, Điều 74 Hiến pháp năm 2013);

Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp, Quốc hội có quyền kiến nghị, yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt, khắc phục ngay hành vi trái pháp luật.

Như vậy, hậu quả pháp lý hay còn gọi là chế tài của hoạt động giám sát của Quốc hội được trực tiếp áp dụng đối với những người đứng đầu, các cơ quan tư pháp có vị trí pháp lý cao nhất. Còn đối với các cơ quan tư pháp khác thì chế tài không được trực tiếp áp dụng mà thông qua các kiến nghị, yêu cầu đối với các cơ quan tư pháp có thẩm quyền để các cơ quan này có trách nhiệm xem xét thực hiện, khi cần thiết phải áp dụng các biện pháp do luật định, kể cả việc áp dụng các chế tài để thực hiện các yêu cầu, kiến nghị đó. Việc quy định hậu quả pháp lý trong hoạt động giám sát của Quốc hội như vậy là xuất phát từ nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, tránh được sự chồng chéo về chức năng giám sát giữa Quốc hội và chức năng của các cơ quan nhà nước khác, nhất là với các hoạt động kiểm sát, giám đốc.

Hậu quả kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp

Trong công tác kiểm tra điều tra: phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của cơ quan điều tra; quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của cơ quan điều tra. Quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ điều tra. Yêu cầu cơ quan điều tra khắc phục các vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra...

Trong công tác kiểm sát xét xử: kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của TAND theo quy định của pháp luật. Yêu cầu TAND cùng các cấp áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật, kiến nghị với TAND cùng cấp và cấp dưới khắc phục những vi phạm pháp luật trong hoạt động xét xử.

Trong công tác kiểm sát thi hành án: kháng nghị, yêu cầu TAND, cơ quan thi hành án áp dụng các biện pháp cần thiết bảo đảm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án được thi hành đúng pháp luật, đầy đủ, nhanh chóng, kịp thời.

Hậu quả giám đốc của TAND tối cao đối với TAND các cấp

Kháng nghị các bản án, quyết định đã có hiệu lực của TAND các cấp để xét xử lại theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm (Điều 20 Luật Tổ chức TAND).

Trong việc xét xử theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm, TAND tối cao có quyền cải, sửa, hủy bỏ toàn bộ hay một phần các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, giao lại cho TAND các cấp giải quyết hoặc ra phán quyết trong những trường hợp do luật định.

Trình bày trên đây cho thấy hoạt động giám sát, kiểm tra, giám đốc có tính chất và nội dung rất khác nhau. Do đó, có thể khẳng định rằng về lý luận cũng như trên thực tế, chưa bao giờ Quốc hội giao việc thực hiện chức năng giám sát, nhất là giám sát hoạt động của các cơ quan tư pháp cho các cơ quan nhà nước khác thực hiện./.



 [1] Điều 102, 104 Hiến pháp năm 2013, Điều 20 Luật Tổ chức TAND. 

[2] Điều 103 Hiến pháp năm 2013.

Bài viết được đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 17/2018
 

TS. Nguyễn Đình Quyền - Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Lập pháp, Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, Đại biểu Quốc hội khóa XII, XIII
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
3.jpg
Đồng chí Nguyễn Đình Quyền, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc UBTVQH và ông Rhee, Ik Hyeon, Viện trưởng Viện Nghiên cứu pháp luật thuộc Chính phủ Hàn Quốc ký thỏa thuận hợp tác giữa hai cơ quan nghiên cứu tại Hà Nội, ngày 7/6/2018
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Thông tin trên mạng và hệ thống hóa các loại hình thông tin trên mạng

Bàn về việc thành lập cơ quan chuyên trách phòng, chống tham nhũng ở nước ta

Kinh nghiệm các nước về thực thi pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Cần luật hóa trách nhiệm giải trình của trường đại học công lập

Hoàn thiện chương trình bồi dưỡng cán bộ, công chức hiện nay

Mô hình pháp điển hóa của Hoa Kỳ và một số nội dung Việt Nam có thể tiếp thu

Hoàn thiện các quy định của Luật Thuơng mại năm 2005 để đảm bảo sự thống nhất với Bộ Luật Dân sự năm 2015

Chính sách ưu đãi thuế, tài chính, ngân hàng ở một số đặc khu thuộc Trung Quốc và kiến nghị cho các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt của Việt Nam

Vai trò của Quốc hội trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật nhằm mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân