Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ năm, 24/05/2012, 05:08(GMT+7)
 
Nhà nước và pháp luật

Tính chính đáng của đảng cầm quyền

Đảng cầm quyền là đảng (hay liên minh một số đảng) nắm quyền đại diện ý chí chung trong xã hội, và do đó, đảng này (hay liên minh những đảng này) nắm quyền chi phối tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền. Tính chính đáng của đảng cầm quyền có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống chính trị cũng như đối với sự ổn định, phát triển của mỗi quốc gia, quyết định vị thế quyền lực của đảng cầm quyền.

Vậy tính chính đáng của đảng cầm quyền được hiểu như thế nào? Đây là vấn đề còn ít được nghiên cứu, trao đổi. Theo chúng tôi, xuất phát từ quan niệm về tính chính đáng chính trị, ngoài những tiêu chí đánh giá tính chính đáng trong chính trị nói chung1, tính chính đáng của một đảng cầm quyền trong các xã hội dân chủ còn có những tiêu chí riêng, rất cơ bản.

1. Đảng nắm quyền lực phải được lòng dân, phải được đa số xã hội ủng hộ thông qua các cuộc bầu cử người vào các cơ quan công quyền

Xã hội dân chủ là xã hội mà quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, do dân uỷ quyền bằng lá phiếu của mình. Vì vậy, quá trình đi đến quyền lực đòi hỏi mỗi đảng phải có khả năng dẫn dắt, tạo công luận, hướng dẫn công luận, tạo ý chí chung, giành thắng lợi trong tranh cử, giành quyền chi phối nhà nước.   

Sự tin cậy, tín nhiệm bằng đa số xã hội, không chỉ biểu hiện ở đa số cử tri đi bầu so với tổng cử tri trong xã hội, mà còn là đa số so với số cử tri thực tế tham gia bầu cử. Tuy nhiên, vấn đề này chỉ là tương đối. Ở một số nước, ngoài việc người ta xem xét tính chính đáng về khía cạnh ủng hộ của cử tri, xã hội còn xem xét sự ủng hộ của các lực lượng khác đằng sau cử tri (chẳng hạn là sự ủng hộ của các đại gia, các nhà tài phiệt, thậm chí phải kể đến sự ủng hộ của các thế lực bên ngoài, hoặc của người đứng đầu chính thể quân chủ đại nghị) mặc dù vị thế này không có một vai trò chính trị lớn nào. Những thắng lợi từ bầu cử cộng thêm các ủng hộ quan trọng khác là “một trắc nghiệm đắc nhân tâm” của xã hội với đảng, phản ánh sự lớn mạnh của đảng và uy tín của đảng đó, lực lượng chính trị đó trong xã hội. Trái lại, sự thất bại liên tiếp của đảng đó, lực lượng chính trị đó trong tranh cử là điều chứng tỏ uy tín đảng, của lực lượng chính trị đó giảm sút, đang trên đà suy yếu và có thể chết. Nếu như một đảng nào đó không chết hẳn, còn sống sót được là vì vài xu hướng khác. 

Chính vì lẽ đó, để một đảng, một lực lượng chính trị có được đa số xã hội công nhận, các ứng cử viên của đảng, của lực lượng chính trị đó cũng như các ứng cử viên độc lập trong các nền dân chủ đã phải bỏ ra nhiều công sức để tranh cử, để tổ chức công luận, tạo công luận, dẫn dắt công luận, lôi kéo cử tri để tạo ý chí của đa số. Đây là vấn đề cốt yếu để một đảng, một lực lượng chính trị có thể thắng cử trong tranh cử. 

2. Để giành đa số chính đáng, các cuộc tranh cử phải diễn ra thật sự dân chủ, các thủ tục và trình tự bầu cử phải tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật

 Muốn trở thành đảng cầm quyền, trước hết phải trở thành đảng đa số, đảng thắng cử trong các cuộc bầu cử các cơ quan quyền lực dân cử (Quốc hội, Hội đồng địa phương). Nhưng đảng giành đa số trong bầu cử chỉ được thừa nhận là chính đáng khi các cuộc bầu cử được tiến hành đúng theo quy định của pháp luật. Một số nhà khoa học chính trị coi đó là tính hợp lệ trong cách thức đạt quyền lực.

Đây là tiêu chí rất quan trọng đối với một đảng được thừa nhận là có vai trò cầm quyền chính đáng trong điều kiện đa nguyên, đa đảng đối lập, cạnh tranh hay bán cạnh tranh. Tính dân chủ của các cuộc bầu cử đó thể hiện thực chất trọng yếu của nền dân chủ, đó là đảng cầm quyền phải có tính đại diện cao. Sự hạn chế dân chủ trong bầu cử là một hạn chế thể hiện tính chính đáng đối với một đảng khi giành được quyền lực.

Một cuộc bầu cử dân chủ thể hiện trên những vấn đề chủ yếu: Cơ quan lập pháp và các vị trí đứng đầu chính quyền hình thành thông qua bầu cử phải được tiến hành thông qua bầu cử phổ thông đầu phiếu - dân chủ trực tiếp (hoặc dân chủ đại diện); có sự cạnh tranh giữa các ứng cử viên và danh sách đề cử, ứng cử phải nhiều hơn số được bầu; các cuộc tuyển cử diễn ra tương đối đều đặn, không có một lực lượng chính trị nào có quyền chủ quan thay đổi tùy tiện thời gian, quy trình bầu cử (giới thiệu số lượng nhân sự, tranh cử, bầu cử…) và không có yếu tố cưỡng bức, áp đặt; các điều kiện tranh cử phải công bằng (như việc sử dụng thời lượng tranh cử trên truyền hình, đài phát thanh…); công dân có quyền bầu cử, ứng cử phải tuân thủ theo quy định của pháp luật về tuổi đời, quốc tịch, thời gian và nơi cư trú…), mọi người được tự do biểu đạt quan điểm về những người tranh cử; công chúng có quyền được thông tin và tìm đến thông tin về cuộc bầu cử. Xét về bản chất, đảng gian lận để thắng cử trong bầu cử thực chất chỉ là đảng thiểu số. Nếu một đảng thắng cử, nhưng là kết quả của cuộc tranh cử chứa đựng các yếu tố gian lận, giành quyền bằng đảo chính lật đổ đều bị coi là bất hợp pháp, không được thừa nhận là một đảng cầm quyền chính đáng và phải được cơ quan pháp luật xử lý, có thể sẽ phải đứng trước phán xét của Tòa án hiến pháp về giải tán đảng và các thành viên của đảng đó sẽ bị cấm tham dự các hoạt động chính trị trong một số năm. Tình huống đó thường dẫn tới tình trạng bất ổn định chính trị - xã hội.

3. Nhà nước do đảng đa số lập nên phải là một nhà nước hợp pháp, có sự giám sát quyền lực

Dù là đảng đa số cầm quyền, nhưng đảng vẫn chỉ là tổ chức chính trị, không phải là cơ quan công quyền. Đảng chỉ cầm quyền (lãnh đạo nhà nước) về mặt chính trị, và do vậy, đảng cầm quyền không có nghĩa là đảng muốn làm gì thì làm. Tính chính đáng của đảng cầm quyền còn thể hiện ở chỗ “thượng tôn pháp luật”, tuyệt đối tôn trọng pháp luật.

Một nhà nước dân chủ phải là một nhà nước hợp hiến. Do đó, sau khi giành được đa số chính đáng trong bầu cử, đảng đa số có hai phương thức quan trọng để chi phối cơ quan công quyền theo quy định của pháp luật: Một là, đề ra chủ trương và đảng phải thông qua các tổ chức đảng, đảng viên trong các cơ quan nhà nước để biến ý chí của đảng thành thành ý chí nhà nước, thành  luật - ý chí xã hội; hai là, quyền bố trí bộ máy nhân sự trong chính phủ theo quy định của luật pháp, thông qua các vị trí quyền lực đảng nắm để thực hiện ý chí của đảng. 

Các vị trí nhân sự mà đảng có quyền quyết định trong các nhà nước dân chủ là những vị trí chính trị, còn các vị trí khác trong bộ máy công quyền là các vị trí hành chính - chuyên môn, đảng đa số không có quyền quyết định. Điều này cũng thường được quy định rất rõ trong luật. Tuy nhiên, trong các nền dân chủ khác nhau, việc quy định của luật pháp về các vị trí nhân sự do đảng cầm quyền quyết định cũng khác nhau, thậm chí không rõ ràng. Có các nền chính trị bỏ ngỏ vấn đề này để đảng cầm quyền tuỳ ý quyết định. Đây là vấn đề khá phức tạp, bởi đảng càng có khả năng can thiệp sâu vào cơ quan công quyền cũng đồng nghĩa với đảng nắm được nhiều quyền, đảng càng có thể thực hiện được nhiều lợi ích trong tương quan với lợi ích xã hội và lợi ích của các lực lượng chính trị xã hội khác. Trên thực tế, các đảng cầm quyền đều có xu hướng lạm dụng quyền lực, dùng bạo lực áp đặt, không đúng với quy định luật pháp. Trong các nền dân chủ xã hội chủ nghĩa hiện nay, phương thức điều hành của đảng còn nhiều dấu ấn cầm quyền theo kiểu hành chính - chỉ huy.

Một nền dân chủ yếu (hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh và thực thi pháp luật không nghiêm) sẽ chứa đựng nhiều nguy cơ dẫn đến chủ quan, duy ý chí, lạm quyền, lấn quyền, đảng đứng trên, đứng ngoài pháp luật. Nếu một đảng khi đã trở thành đảng cầm quyền, nhưng trong các hoạt động của nó lại đi ngược lại những cam kết với người dân, không đảm bảo tính pháp lý, vi phạm pháp luật, lạm quyền, vi phạm dân chủ, sử dụng quyền lực không đúng mục đích… thì tính chính đáng của đảng cầm quyền lúc này cũng sẽ bị suy giảm và mất dần trong xã hội, vì người dân sẽ không còn tin tưởng vào những hành động mà đảng cầm quyền đang đại diện cho những lợi ích công. Hậu quả là đảng này sẽ khó mà tiếp tục giành được sự ủng hộ của cử tri cho các hoạt động của mình, nó báo hiệu cho sự thất bại trong các cuộc bầu cử sắp tới.

 Trong các xã hội chỉ có một đảng duy nhất cầm quyền thì nguy cơ dẫn đến việc lạm quyền, chuyên quyền là rất cao, và điều này là khó kiểm soát khi thiếu đi những sự ràng buộc về mặt thể chế trong tổ chức và thực thi quyền lực. Chính vì vậy mà học giả Acton đã cảnh báo rằng “Quyền lực tuyệt đối thì sự lạm quyền cũng là tuyệt đối”. Do vậy, phải thiết lập một sự ràng buộc về quyền lực bằng luật pháp, và chỉ có luật pháp mới có thể khắc phục được tình trạng lạm quyền trong tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước. 

4. Đảng phải cầm quyền có hiệu quả

Đặc trưng của nền dân chủ trước hết phải thể hiện tính dân chủ trong bầu cử các cơ quan dân cử. Nhưng, như các nhà chính trị đã nói, đó cũng mới chỉ là các tiêu chí đầu tiên, tối thiểu, và càng không phải là tiêu chí duy nhất để đánh giá tính chính đáng của đảng cầm quyền2. Một nền chính trị dân chủ đầy đủ, một đảng cầm quyền chính đáng còn phải thể hiện ở việc các chủ trương, quyết sách của đảng phải phát triển được xã hội, mang lại lợi ích cho đại đa số nhân dân, nói đi đôi với làm, đường lối đi liền với giải pháp, mở rộng dân chủ…

Sức mạnh của đảng cầm quyền không thể không dựa vào bạo lực chính trị, nhưng lại càng không thể tuyệt đối chỉ dựa vào bạo lực. Cầm quyền mà chỉ dựa vào bạo lực có thể dẫn đến mất lòng tin, mất tín nhiệm trong xã hội, và khi đảng đã mất lòng tin trong xã hội, có thể đảng sẽ mất tất cả. Do đó, “Cách sử dụng sức mạnh hiệu quả nhất là dùng vũ lực chính đáng chứ không phải dùng sức mạnh mà không cần quan tâm chính đáng hay không”3. Đảng có giữ được vai trò cầm quyền lâu dài hay không, tuỳ thuộc vào sự tín nhiệm của nhân dân đối với đảng sau khi đã thắng cử trong các cuộc bầu cử các cơ quan quyền lực công. Có làm cho dân tin mới giành được sự tin cậy của dân. 

Do đó, ngay cả khi đã có vị trí cầm quyền rồi thì đảng đó, lực lượng chính trị- xã hội đó vẫn phải giữ được vị trí tiên phong trong xã hội. Gramsci, một nhà tư tưởng chính trị đã nhấn mạnh rằng, để một lực lượng nào đó vươn tới nắm quyền lực (chính quyền) thì bắt buộc lực lượng đó phải nắm được vị trí “tiên phong” trước khi chiếm được chính quyền. Nhóm này sau đó sẽ trở thành nhóm cầm quyền. Nhưng ngay cả khi nắm vững quyền lực trong tay, nhóm này vẫn bắt buộc phải tiếp tục vai trò tiên phong của mình, nếu không có thể sẽ mất quyền4.

Cho dù đảng thắng cử trong bầu cử, nhưng khi đã cầm quyền rồi vẫn phải giữ vững vị trí tiên phong, và nếu không giữ được vị trí tiên phong, tất sẽ dẫn đến giảm lòng tin trong xã hội, và thậm chí, bằng cách này hay cách khác xã hội đòi hỏi phải thay đổi lực lượng cầm quyền. Bi kịch đó luôn diễn ra trong lịch sử chính trị ở các thời đại, ở mọi quốc gia. Để dân tin, để những lời hứa của đảng trong tranh cử không phải là lời nói suông, thì sau khi nắm quyền, Đảng phải cầm quyền có hiệu quả, phải xây dựng một nhà nước hiệu quả: phát triển kinh tế - xã hội, mang lại lợi ích cho đại đa số nhân dân thông qua hoạch định đường lối, chính sách đúng, thực hiện dân chủ với nhân dân… Thực tế, nhiều nền chính trị trong thế giới đương đại, do quản lý nhà nước kém hiệu quả, dẫn đến trì trệ trong phát triển kinh tế, gây nên những bức xúc về mặt xã hội, làm mất lòng tin của xã hội đối với chính phủ và đảng cầm quyền.

Tính hợp pháp và tính hiệu quả của đảng cầm quyền có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và nó là những bộ phận không thể tách rời khi đề cập đến tính chính đáng. Sự tin cậy, tín nhiệm xã hội là nền tảng, tính hợp pháp là điều kiện cần để quy định vai trò cầm quyền của đảng, còn tính hiệu quả là điều kiện đủ để củng cố vững chắc vai trò, vị trí cầm quyền của đảng. Thế nhưng trên thực tế, không phải lúc nào sự tin cậy, tín nhiệm với tính hợp pháp và hiệu quả cũng đi liền với nhau. Có những đảng chính trị trở thành đảng cầm quyền nhờ sự tín nhiệm cao trong bầu cử, thực hiện quyền lực hợp pháp nhưng lại không có được tính hiệu quả trong các đường lối, chính sách cũng như phương thức thực thi quyền lực, do đó, đảng đã bị mất quyền. Cũng có những đảng trở thành đảng cầm quyền thông qua phương thức bất hợp pháp (như tiến hành cách mạng lật đổ, đảo chính), nhưng lại chứa đựng yếu tố hợp lý, và trong quá trình thực hiện quyền lực đã chiếm được lòng dân nhờ đem lại sự phát triển, phồn vinh đất nước. Tuy nhiên, dù ở trường hợp nào, việc đảm bảo sự tín nhiệm xã hội, tính hợp pháp và tính hiệu quả đều phải được các đảng cầm quyền hướng đến, nếu nó muốn củng cố và duy trì vị trí cầm quyền của mình. 

5. Người đứng đầu, các thành viên của đảng nắm giữ các cương vị chủ chốt trong bộ máy công quyền và các đảng viên của đảng đa số phải là những  người có phẩm chất, đạo đức và sự trọng sạch trong thực thi quyền lực và trong lối sống

Để được xã hội thừa nhận, tạo uy tín xã hội trong vai trò cầm quyền, để nâng cao năng lực và hiệu quả cầm quyền, vấn đề quyết định là yếu tố con người chính trị (lãnh đạo và đội ngũ hoạt động chính trị), với phẩm chất, đạo đức và sự trong sạch, năng lực lãnh đạo, quản lý, thực thi nhiệm vụ chính trị, nói đi đôi với làm, chủ trương đi liền với giải pháp của người thủ lĩnh cùng bộ máy và những quan chức tham gia nắm quyền... là rất quan trọng. Một trong những vấn đề liên quan đến phẩm chất của người cầm quyền, của lực lượng cầm quyền, đảng cầm quyền là sự trong sạch. Một đảng có nhiều biểu hiện tham nhũng là một đảng có nhiều nguy cơ mất tín nhiệm xã hội, dẫn đến mất quyền.

Tâm chính là gốc của mọi hành động. Người nắm quyền có nhân tâm mới được lòng dân. Tâm người có yên thì mới làm được việc tốt. Nếu tâm đức của người cầm quyền không yên thì lòng dân cũng dễ bị xáo động. Không vì dân, mọi chính thể sẽ lâm nguy. 

Tham nhũng là biểu hiện của sự vi phạm pháp luật, sự vi phạm dân chủ nhất, sự yếu kém nhất về phẩm chất, đạo đức của người cầm quyền, là yếu tố dễ dẫn đến làm mất lòng tin nhất của xã hội đối với hệ thống quyền lực, thậm chí làm mất lòng tin với cả chế độ xã hội - chính trị. Điều đó có thể dẫn đến bi kịch là mất vị trí cầm quyền của đảng, thậm chí đánh đổ cả một chế độ.

*      *

Đánh giá tính chính đáng của đảng cầm quyền là vấn đề phức tạp. Tuy nhiên, có thể xác định tính chính đáng của đảng cầm quyền thông qua cả một hệ thống các tiêu chí liên quan mật thiết với nhau, tương hỗ nhau. Không thể chỉ đánh giá sự cầm quyền của một đảng là chính đáng hay không chính đáng khi chỉ dựa vào một vài tiêu chí, mà phải được xem xét trên cơ sở quan điểm biện chứng, hệ thống và lịch sử cụ thể.

(1) Xem Đặng Đình Tân, “Tính chính đáng chính trị” Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 2+3 (187+188), tháng 1+2/2011, tr 18.

(2) TS. Đặng Đình Tân, “Tìm hiểu về tính chính đáng của đảng cầm quyền trong các thể chế chính trị tư bản”. Tạp chí NCLP, Số 2+3; 1/2009.

(3) GS Nye, nhà chính trị học Mỹ, xem Nguyễn Trung, “Về tính chính đáng trong vận hành quyền lực”. Vietnamnet, 28/12/2009.

(4) Theo TS Ngô Huy Đức (6/2009): Tính chính đáng của Đảng cộng sản Việt Nam cầm quyền trong thể chế nhà nước pháp quyền XHCN”. Tham luận tại hội thảo “Mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, thuộc đề tài cấp Nhà nước “Đảng chính trị, đảng cầm quyền- Những vấn đề lý luận và thực tiễn”.

TS. Đặng ĐÌnh Tân - Viện Chính trị học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Luật tục và pháp luật trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam (21/05/2012)
Sửa đổi, bổ sung Điều 2 và Điều 6 Hiến pháp hiện hành để bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân (15/05/2012)
Một số đề xuất sửa đổi, bổ sung phần liên quan đến chương I - Hiến pháp năm 1992 (02/05/2012)
Hướng đến một công cụ pháp lý vững chắc cho việc bảo đảm hòa bình trên Biển Đông (24/04/2012)
Tiếp cận quyền để bổ sung, sửa đổi Hiến pháp năm 1992 thành bản Hiến pháp có giá trị bền vững (18/04/2012)
Cơ quan nhân quyền quốc gia, vị trí của nó trong Hiến pháp trên thế giới và gợi ý cho Việt Nam (09/04/2012)
Trường phái kinh tế học pháp luật và khả năng áp dụng tại Việt Nam (03/04/2012)
Cơ quan nhân quyền quốc gia, vị trí của nó trong Hiến pháp trên thế giới và gợi ý cho Việt Nam (09/04/2012)
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân