Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Chủ nhật, 13/07/2014, 04:56(GMT+7)
 
Nhà nước và Pháp luật

Quan điểm của Đảng về hệ thống pháp luật trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN
Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã chủ trương “quản lý đất nước bằng pháp luật chứ không chỉ bằng đạo lý”; “Quản lý bằng pháp luật đòi hỏi phải quan tâm xây dựng pháp luật, từng bước bổ sung và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật” , đồng thời, coi xây dựng hệ thống pháp luật là một trong những nhiệm vụ thể hiện và kiểm chứng năng lực quản lý, điều hành của bộ máy nhà nước. Xuất phát từ chủ trương đổi mới trên, Đảng đã có nhiều quan điểm quan trọng, thể hiện tư duy pháp lý mới về hệ thống pháp luật trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Những quan điểm này được thể hiện trong văn kiện các Đại hội của Đảng, các Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị..

 “Pháp luật là thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân”[1]

Đây là quan điểm cơ bản, có giá trị chỉ đạo toàn bộ quá trình chuyển đổi hệ thống pháp luật từ mô hình và cơ chế hành chính, quan liêu bao cấp sang hệ thống pháp luật của thời kỳ đổi mới, đặt cơ sở cho việc đổi mới công tác xây dựng pháp luật theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.

Quan điểm này khẳng định bản chất của pháp luật trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam  là sự kết hợp hài hoà của hai thuộc tính quan trọng: tính giai cấp công nhân và tính nhân dân. Về mặt khoa học, quan  điểm “pháp luật là thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân” cho thấy tư duy pháp lý mới của Đảng về pháp luật, đặt cơ sở cho sự phát triển mới của khoa học pháp lý Việt Nam.

Đây không đơn giản chỉ là quan điểm về pháp luật, mà nó còn tạo cơ sở cho việc đổi mới phương thức lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng. Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội chủ yếu bằng việc hoạch định đường lối, chủ trương và lãnh đạo Nhà nước thể chế hoá thành pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật. Như thế, thực hiện pháp luật cũng là thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, từ đây khắc phục được nhận thức sai lầm cho rằng quy định “các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” (Điều 4 của Hiến pháp năm 1992)  là làm cho Đảng bị lệ thuộc vào Nhà nước, mất quyền lãnh đạo Nhà nước. Trong điều kiện của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng và bảo đảm vị thế pháp lý của các tổ chức đảng, trước hết là vị thế pháp lý của các tổ chức cơ sở đảng - như Đại hội X chủ trương, trở thành vấn đề quan trọng trong lý luận về đảng cầm quyền và thực tiễn lãnh đạo của Đảng.

Sự kết hợp hài hoà giữa tính giai cấp công nhân và tính  nhân dân trong pháp luật đòi hỏi phải đổi mới đồng thời cả quy trình hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, cả quy trình soạn thảo, ban hành các văn bản quy phạm, bảo đảm nguyên tắc dân chủ, theo đó “nhân dân là người thực hiện pháp luật cũng phải là người xây dựng pháp luật”, “làm cho luật pháp dân chủ ngày càng nhiều hơn, tốt hơn”[2] như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy. Theo định hướng này, Đảng chủ trương “đổi mới công tác thông tin và quy trình ra các quyết định của Đảng và Nhà nước, để các quyết định ấy phản ánh được ý chí, nguyện vọng và trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân”[3]. Đại hội X của Đảng cùng với chủ trương xây dựng xã hội dân chủ đã xác định: “Bộ máy nhà nước, các thiết chế khác trong hệ thống chính trị có nhiệm vụ đề xuất ý kiến với Đảng trong quá trình xây dựng, hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng”[4]. Từ đó, vấn đề đổi mới công tác xây dựng pháp luật trên cơ sở vừa nâng cao chất lượng dân chủ đại diện, vừa nâng cao chất lượng dân chủ trực tiếp được đặt ra như một tất yếu.

Liên tục từ Đại hội VI đến Đại hội X, Đảng kiên trì chủ trương đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động, nâng cao năng lực lập pháp của Quốc hội. Văn kiện Đại hội IX của Đảng khẳng định: “Kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội, trọng tâm là tăng cường công tác lập pháp, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đổi mới quy trình ban hành và hướng dẫn thi hành luật”[5]. Mới đây, theo tinh thần hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội -  cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất - suy cho cùng phải được thể hiện ở hiệu lực thực tế của các đạo luật do Quốc hội ban hành, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 01/8/2007 về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước, khẳng định cải cách hành chính phải được thực hiện đồng bộ với cải cách lập pháp và cải cách tư pháp. Nghị quyết xác định nội dung cải cách lập pháp, trong đó có chủ trương tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của Quốc hội; hoàn thiện quy chế bầu cử nhằm nâng cao chất lượng Đại biểu Quốc hội; tăng hợp lý số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách; tổ chức lại một số Uỷ ban của Quốc hội; đổi mới hơn nữa quy trình xây dựng luật…

Để bảo đảm pháp luật thể hiện ý chí của nhân dân, Đảng đề ra nhiều chủ trương lớn được thể hiện tập trung trong Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (Nghị quyết số 48-NQ/TW). Nghị quyết nhấn mạnh: “Tăng cường vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức nghiên cứu chuyên ngành trong hoạt động xây dựng pháp luật. Có cơ chế thu hút các hiệp hội, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các chuyên gia giỏi tham gia vào việc nghiên cứu, đánh giá nhu cầu, hoạch định chính sách pháp luật, soạn thảo, thẩm tra các dự thảo văn bản pháp luật. Xác định cơ chế phản biện xã hội và tiếp thu ý kiến của các tầng lớp nhân dân đối với các dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật”. Ngay từ Đại hội VIII, Đảng đã đề cập vấn đề phải xây dựng và ban hành Luật Trưng cầu ý dân, nhằm bảo đảm những vấn đề hệ trọng của đất nước, dân tộc sẽ do chính nhân dân quyết định thông qua các cuộc trưng cầu ý dân, một hình thức dân chủ trực tiếp đặc biệt quan trọng.

Biện pháp có tính chất quyết định bảo đảm tính nhân dân của pháp luật trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là đổi mới về cơ bản quy trình xây dựng luật, trọng tâm là quy trình lập pháp. Quy trình lập pháp phải là biện pháp pháp lý bảo đảm sự chính xác, toàn diện, khách quan của quá trình phản ánh ý chí của nhân dân dưới hình thức các đạo luật. Từ đây đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền phải có trách nhiệm công bố dự thảo để lấy ý kiến, tiếp thu ý kiến của nhân dân; trách nhiệm công bố công khai kết quả tiếp thu ý kiến chỉnh lý dự thảo văn bản, kể cả công bố dự thảo văn bản đã được chỉnh lý. Mặt khác, để nâng cao năng lực tham gia xây dựng pháp luật của nhân dân, Nghị quyết số 48-NQ/TW xác định giải pháp “phát triển hệ thống thông tin và phổ biến giáo dục pháp luật, xây dựng và triển khai Chương trình Quốc gia về phổ biến giáo dục pháp luật dài hạn”. Thực hiện giải pháp này, cùng với các chủ trương đưa việc giảng dạy pháp luật vào các trường của Đảng, của Nhà nước và của các tổ chức chính trị - xã hội, Đảng yêu cầu cán bộ quản lý các cấp phải có kiến thức quản lý và hiểu biết pháp luật. Thêm nữa, với chủ trương tăng cường vai trò lãnh đạo của các tổ chức đảng đối với công tác giáo dục pháp luật tại Chỉ thị số 32/CT-TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá IX) thì chắc chắn, trình độ hiểu biết và ý thức pháp luật của nhân dân được nâng lên và do đó, họ có khả năng chủ động tham gia có hiệu quả vào công tác xây dựng pháp luật.

Xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

Xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân đặt ra các vấn đề: phải khắc phục bệnh chủ quan, duy ý chí, nhất là bệnh cục bộ địa phương, cục bộ ngành trong xây dựng pháp luật; quy định hợp lý thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật; nhất là bảo đảm sự phân công và phối hợp, xác định rõ vai trò của một “nhạc trưởng” điều hành toàn bộ hoạt động xây dựng pháp luật.

Quan điểm trên của Đảng giúp cho việc nhận diện chính xác diện mạo của hệ thống pháp luật trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đặt cơ sở cho việc hoạch định Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong thời kỳ đổi mới (Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị). Chiến lược đánh dấu bước đột phá trong tư duy lý luận của Đảng về hệ thống pháp luật trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu của Chiến lược xác định: “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, góp phần đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.

Mục tiêu cho thấy rõ “diện mạo” của hệ thống pháp luật trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam như sau:

Đó là một hệ thống kết tinh đầy đủ các thuộc tính hiện đại của pháp luật, gồm: tính thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch. Trong phần xác định quan điểm chỉ đạo xây dựng hệ thống pháp luật, Chiến lược khẳng định những thuộc tính bản chất của pháp luật, gồm tính giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân chủ và pháp chế, đồng thời đề cập hai thuộc tính mới, là tính phù hợp với các cam kết quốc tế, những chuẩn mực pháp lý quốc tế; thuộc tính về sự kết hợp hài hoà bản sắc văn hoá, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tính hiện đại của hệ thống pháp luật. Với hai thuộc tính mới này, hệ thống pháp luật trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mang tính kế thừa và phát triển, là sự kết nối giữa truyền thống với hiện đại, đồng thời là một hệ thống mở, có khả năng tương tác, hấp thụ những giá trị pháp lý quốc tế phổ biến, trở thành “cầu nối” đưa nền kinh tế nước ta hội nhập với nền kinh tế thế giới, là bộ phận không tách rời của nền kinh tế toàn cầu.

Những thuộc tính hiện đại trên của hệ thống pháp luật được Chiến lược lượng hoá và bảo đảm bằng sáu định hướng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Đó cũng là sáu bộ phận tạo nên cấu trúc của hệ thống pháp luật, gồm:

1- Pháp luật về tổ chức và hoạt động của các thiết chế trong hệ thống chính trị;

2- Pháp luật về bảo đảm quyền con người, quyền tự do dân chủ của công dân;

3- Pháp luật về dân sự, kinh tế, trọng tâm là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;

4- Pháp luật về giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế, văn hoá - thông tin, thể thao, dân tộc, tôn giáo, dân số, gia đình, trẻ em và chính sách xã hội;

5- Pháp luật về quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội;

6- Pháp luật về hội nhập quốc tế.

Có thể nhận rõ, từ sáu yếu tố cấu trúc trên, hệ thống pháp luật trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã được mở rộng về phạm vi điều chỉnh, thể hiện rõ ở sự xuất hiện bộ phận pháp luật mới về hội nhập quốc tế, ở phạm vi điều chỉnh đối với toàn bộ tổ chức và hoạt động của các thiết chế trong hệ thống chính trị, từ đó bảo đảm được yêu cầu về chủ động hội nhập quốc tế và tính pháp quyền trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Nếu căn cứ vào nội dung của sáu yếu tố cấu trúc của hệ thống pháp luật, có thể thấy tính đồng bộ của hệ thống pháp luật đã được phát triển ở một trình độ mới. Đó là sự đồng bộ giữa quy phạm xác định chính sách pháp luật với quy phạm quy định cụ thể chính sách; giữa quy phạm nội dung xác định các chuẩn mực điều chỉnh với quy phạm hình thức xác định trình tự, thủ tục thực hiện; giữa quy phạm quy định với quy phạm bảo đảm thực hiện; giữa các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên với các văn bản “nội luật hoá”,  và cả sự đồng bộ với các quy phạm điều chỉnh quá trình tạo lập hệ thống pháp luật. Để bảo đảm sự đồng bộ này, Chiến lược xác định một loạt các chủ trương, như: “hoàn thiện pháp luật về quy trình xây dựng, ban hành và công bố văn bản quy phạm pháp luật thống nhất cho cả trung ương và địa phương, theo hướng Quốc hội ban hành luật, giảm dần việc Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh; Chính phủ ban hành văn bản hướng dẫn tổ chức thi hành luật; hạn chế dần thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương”; bảo đảm “các đạo luật ngày càng giữ vị trí trung tâm, trực tiếp điều chỉnh các quan hệ xã hội”; “xác định rõ quy trình, cơ chế nội luật hoá các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên”. Mới đây, Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 01/8/2007 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá X), khi đề ra chủ trương cải cách lập pháp đã bổ sung nhiều biện pháp quan trọng, như: “Khắc phục nhanh tình trạng ban hành luật khung, hạn chế tối đa luật phải chờ văn bản hướng dẫn thi hành. Khắc phục tình trạng ban hành luật với những vấn đề chưa đủ rõ và khó hướng dẫn thực hiện. Tính thống nhất của hệ thống pháp luật phải được đề cao, phải được bảo đảm chấp hành nghiêm minh trong thực tiễn của đời sống xã hội”.

Hệ thống pháp luật phải là một hệ thống tồn tại trong hiện thực.

Quan điểm này của Đảng được thể hiện trước hết trong nội dung của các bộ phận tạo nên cấu trúc của hệ thống pháp luật; ở sự đồng bộ giữa các quy phạm xác định tổ chức các cơ quan có thẩm quyền xây dựng pháp luật với các quy phạm xác định tổ chức cơ quan thực thi và bảo vệ pháp luật, các thiết chế phổ biến, giáo dục pháp luật, tư vấn, trợ giúp pháp lý và đào tạo pháp luật; ở việc thống nhất giữa cơ chế điều chỉnh pháp luật với cơ chế thực hiện pháp luật. Nghị quyết số 48-NQ/TW khẳng định: “Các dự án luật, pháp lệnh chỉ được xem xét thông qua khi có giải trình rõ ràng về cơ chế, biện pháp, các nguồn lực bảo đảm tổ chức thực hiện”.

Tính hiện thực của hệ thống pháp luật còn được thể hiện ở chỗ các quy phạm tạo nên cấu trúc của nó đã xác định cơ chế, chế độ trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm thực thi pháp luật. Từ đây, pháp luật về quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân theo tư duy thông thường đã được thể hiện trong Nghị quyết 48-NQ/TW với tên gọi là “pháp luật bảo đảm các quyền con người, quyền tự do dân chủ của công dân”.

Cơ chế và chế độ trách nhiệm thực hiện pháp luật của Nhà nước còn được thể hiện trong Chiến lược thông qua việc thực hiện ba nguyên tắc đặc thù của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong mối quan hệ với cá nhân. Đó là, nguyên tắc “trách nhiệm ràng buộc giữa Nhà nước và cá nhân”; nguyên tắc “công dân được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm”; và nguyên tắc “cơ quan, công chức nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép”. Để thực hiện các nguyên tắc này, Chiến lược chủ trương xác lập chế độ bảo hộ của Nhà nước đối với các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, ban hành Luật về Bồi thường Nhà nước, các đạo luật về lập hội, biểu tình; Luật Công chức; Luật công vụ, xếp đặt thể chế xác định khuôn khổ pháp lý trong hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của các nguyên tắc của kinh tế thị trường.

[1] Sđd, tr. 120.

[2] Hồ Chí Minh, Nhà nước và pháp luật, Nxb. Pháp lý, Hà Nội, 1985, tr. 187.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 91.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 125.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ  IX, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 132.

 

Ths. Nguyễn Tư Long
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Những quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về bộ máy nhà nước trong quá trình phát triển đất nước (27/05/2010)
Sự phát triển nhận thức của Đảng ta từ cương lĩnh 1991 đến nay (25/05/2010)
Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế (21/05/2010)
Kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2010): Lãnh tụ Hồ Chí Minh nhà sáng tạo lý luận cách mạng (17/05/2010)
Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội (14/05/2010)
Bài học về sự lãnh đạo, chỉ đạo chiến lược sáng suốt của Đảng và Bác Hồ trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc (04/05/2010)
Vai trò của các ủy ban của Quốc hội trong bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật (28/04/2010)
Bài học về sự lãnh đạo, chỉ đạo chiến lược sáng suốt của Đảng và Bác Hồ trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc (04/05/2010)
Số 01 ((162) tháng 1/2010) 10/01/2010
Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân