Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Chủ nhật, 28/05/2017, 21:53(GMT+7)
 
Văn hóa - xã hội

Luật bình đẳng giới bảo đảm sự phát triển bình đẳng của cả nam và nữ
Ngay từ khi mới ra đời năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã coi “nam, nữ bình quyền” là một trong mười nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng Việt Nam. Khi cách mạng thành công, bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà cũng quy định quyền bình đẳng về mọi mặt giữa nam, nữ. Trong thực tế mấy chục năm qua, vấn đề bình đẳng nam, nữ luôn được quán triệt trong các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước. Bước vào giai đoạn phát triển mới, trước xu thế hội nhập toàn cầu, để phát huy nhân tố con người đồng thời phát huy hơn nữa vị trí, vai trò của phụ nữ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, khắc phục những bất cập trong xây dựng, thực hiện pháp luật hiện hành nhằm bảo đảm quyền bình đẳng giữa nam và nữ, góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước, ngày 21/11/2006, Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật Bình đẳng giới.

 

1. Luật bình đẳng giới  thúc đẩy sự phát triển của nam và nữ  

Theo quy định của Luật, bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó. Vì vậy, Điều 1 phạm vi điều chỉnh của Luật có nêu: “Luật này quy định nguyên tắc bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, biện pháp bảo đảm bình đẳng giới, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện bình đẳng giới”. Mục tiêu bình đẳng giới “là xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình” (Điều 4). Như vậy, Luật không quy định những điều chỉ có lợi cho một giới nữ hoặc nam mà còn xác định mục tiêu xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội cho cả nam, nữ trong phát triển kinh tế - xã hội.

Điều 6 của Luật đề cập đến các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới nhằm tạo cơ hội phát triển cho cả nam và nữ. Đặc biệt, Luật còn đề ra nguyên tắc “chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử về giới” nhằm bảo đảm cho phụ nữ thực hiện được “thiên chức” làm mẹ khi mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ, đồng thời tạo cho trẻ em (cả trai và gái) được người mẹ, gia đình, xã hội chăm sóc tốt hơn.

Trên cơ sở các nguyên tắc này, Luật đưa ra chính sách của nhà nước về bình đẳng giới (Điều 7) tạo cơ hội cho cả nam và nữ, như bảo đảm bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình; hỗ trợ và tạo điều kiện cho nam, nữ phát huy khả năng, có cơ hội như nhau để tham gia vào quá trình phát triển và thụ hưởng thành quả của sự phát triển; áp dụng những biện pháp thích hợp để xoá bỏ các phong tục, tập quán lạc hậu cản trở mục tiêu bình đẳng giới; hỗ trợ những điều kiện cần thiết để nâng chỉ số phát triển giới đối với các ngành, lĩnh vực và địa phương mà chỉ số phát triển giới thấp hơn mức trung bình của cả nước... Và điều đáng ghi nhận là lần đầu tiên, ở tư cách một đạo luật, vấn đề “tạo điều kiện để nam, nữ chia sẻ công việc gia đình” đã được quy định.

Tại Chương II, Luật quy định mang tính nguyên tắc bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình như: chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao, y tế. Đăc biệt, trong quan hệ gia đình, Luật nhấn mạnh : “1. Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong quan hệ dân sự và các quan hệ khác liên quan đến hôn nhân và gia đình. 2. Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong sử dụng nguồn thu nhập chung của vợ chồng và quyết định các nguồn lực trong gia đình. 3. Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong việc bàn bạc, quyết định lựa chọn và sử dụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình phù hợp; sử dụng thời gian nghỉ chăm sóc con ốm theo quy định của pháp luật. 4. Con trai, con gái được gia đình chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện như nhau để học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển. 5. Các thành viên nam, nữ trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình” (Điều 18).

2. Luật bình đẳng giới và các biện pháp bảo đảm cho sự phát triển của nam và nữ

Chương III của Luật đề cập đến các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới nhằm tạo cơ hội phát triển cho cả nam và nữ, bao gồm: biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới, bảo đảm các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, thẩm tra lồng ghép vấn đề bình đẳng giới, thông tin, giáo dục, truyền thông về giới và bình đẳng giới, nguồn tài chính cho hoạt động bình đẳng giới. 

Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là những biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và xem xét việc thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được. Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới, bao gồm: quy định tỷ lệ nam, nữ hoặc bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng tham gia, thụ hưởng; đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ năng lực cho nữ hoặc nam; hỗ trợ để tạo điều kiện, cơ hội cho nữ hoặc nam; quy định tiêu chuẩn, điều kiện đặc thù cho nữ hoặc nam” (Khoản 1 Điều 19). 

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có vị trí, vai trò quan trọng nhằm xác lập, điều chỉnh các quan hệ xã hội nói chung, quan hệ về giới, bình đẳng giới trên các lĩnh vực nói riêng. Nó có tác dụng thúc đẩy và bảo đảm thực hiện bình đẳng giới trên thực tế nếu nội dung của nó hàm chứa các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới. Kể từ 01/7/2007 - ngày Luật Bình đẳng giới bắt đầu có hiệu lực, “việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật phải bảo đảm các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới”. Và từ nay, “các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới là một căn cứ quan trọng của việc rà soát để sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật”.

Trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, từ nay có thêm khái niệm và quy trình “lồng ghép vấn đề bình đẳng giới”. Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới bằng cách xác định vấn đề giới, dự báo tác động giới, trách nhiệm, nguồn lực để giải quyết vấn đề giới trong các quan hệ xã hội được văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh. Khoản 1 Điều 21 Luật quy định lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật gồm: xác định vấn đề giới và các biện pháp giải quyết trong lĩnh vực mà văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh; dự báo tác động của các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật khi được ban hành đối với nữ và nam; xác định trách nhiệm và nguồn lực để giải quyết các vấn đề giới trong phạm vi văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh. Và theo quy định của Luật, các cơ quan có thẩm quyền trong việc xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật tùy thuộc vào chức năng và nhiệm vụ của mình phải bảo đảm sự “lồng ghép vấn đề bình đẳng giới” trong văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành.

Một trong những biện pháp quan trọng bảo đảm bình đẳng giới là thông tin, giáo dục, truyền thông về giới và bình đẳng giới nhằm nâng cao nhận thức về giới và bình đẳng giới. Việc thông tin, giáo dục, truyền thông về giới và bình đẳng giới được đưa vào chương trình giáo dục trong nhà trường, trong các hoạt động của cơ quan, tổ chức và cộng đồng; thông qua các chương trình học tập, các ấn phẩm, các chương trình phát thanh, truyền hình và các hình thức khác (Điều 23).

Đặc biệt, lần đầu tiên, một văn bản luật xác định rõ ràng rằng nguồn tài chính cho hoạt động bình đẳng giới là một trong những biện pháp bảo đảm bình đẳng giới rất quan trọng. Luật quy định tại Điều 24: “1. Nguồn tài chính cho hoạt động bình đẳng giới bao gồm: a) Ngân sách nhà nước; b) Đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân; c) Các nguồn thu hợp pháp khác. 2. Việc quản lý, sử dụng nguồn tài chính cho hoạt động bình đẳng giới phải đúng mục đích, có hiệu quả và theo quy định của pháp luật”.

Có thể nói, các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới được nêu trên đây là những căn cứ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm cho việc xây dựng, thực hiện pháp luật về bình đẳng giới, đồng thời bảo đảm thực hiện bình đẳng nam và nữ về mọi mặt trên thực tế. 

3. Trách nhiệm thực hiện và bảo đảm bình đẳng giới của cơ quan, tổ chức, cá nhân

Luật quy định trách nhiệm thực hiện và bảo đảm bình đẳng giới của các cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân tập trung tại Chương IV. Đó là những trách nhiệm rõ ràng, cụ thể để các cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân phải thực hiện, tạo điều kiện, cơ hội cho sự phát triển về mọi mặt của cả nam, nữ cán bộ, công chức, công nhân lao động và mọi thành viên trong gia đình. Đối với các cơ quan nhà nước, như Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang bộ; cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới, ủy ban nhân dân các cấp; và đối với các tổ chức chính trị - xã hội thì tùy thuộc vào chức năng, nhiệm vụ của mình mà có trách nhiệm tương ứng trong lĩnh vực bảo đảm hoạt động bình đẳng giới được quy định cụ thể trong các Điều 25, 26, 27, 28, 29, 31.

Các cơ quan, tổ chức khác, trong công tác tổ chức và hoạt động có trách nhiệm: bảo đảm cho nam, nữ bình đẳng trong tham gia và thụ hưởng; báo cáo hoặc cung cấp kịp thời thông tin về bình đẳng giới trong cơ quan, tổ chức theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền; đề xuất hoặc tham gia xây dựng chính sách, pháp luật về bình đẳng giới liên quan đến hoạt động của cơ quan, tổ chức mình (Điều 32).

Ngoài ra, căn cứ vào khả năng, điều kiện của mình, cơ quan, tổ chức chủ động hoặc phối hợp tham gia các hoạt động thúc đẩy bình đẳng giới, bao gồm: tổ chức các hoạt động tuyên truyền kiến thức về giới và pháp luật về bình đẳng giới cho các thành viên của cơ quan, tổ chức và người lao động; bố trí cán bộ hoạt động về bình đẳng giới; tổ chức nghiên cứu và ứng dụng kết quả nghiên cứu nhằm tăng cường bình đẳng giới; dành nguồn tài chính cho các hoạt động bình đẳng giới; tổ chức hệ thống nhà trẻ phù hợp để lao động nam, nữ kết hợp hài hoà giữa lao động sản xuất và lao động gia đình; hỗ trợ lao động nữ khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con dưới ba mươi sáu tháng tuổi; tạo điều kiện cho lao động nam nghỉ hưởng nguyên lương và phụ cấp khi vợ sinh con.

Hơn nữa, Luật cũng quy định tại Điều 33 về trách nhiệm của gia đình phải thực hiện và bảo đảm thực hiện bình đẳng giới như: tạo điều kiện cho các thành viên trong gia đình nâng cao nhận thức, hiểu biết và tham gia các hoạt động về bình đẳng giới; giáo dục các thành viên có trách nhiệm chia sẻ và phân công hợp lý công việc gia đình; chăm sóc sức khoẻ sinh sản và tạo điều kiện cho phụ nữ thực hiện làm mẹ an toàn; đối xử công bằng, tạo cơ hội như nhau giữa con trai, con gái trong học tập, lao động và tham gia các hoạt động khác.

Mỗi công dân cũng có trách nhiệm: học tập nâng cao hiểu biết, nhận thức về giới và bình đẳng giới; thực hiện và hướng dẫn người khác thực hiện các hành vi đúng mực về bình đẳng giới; phê phán, ngăn chặn các hành vi phân biệt đối xử về giới; giám sát việc thực hiện và bảo đảm bình đẳng giới của cộng đồng, của cơ quan, tổ chức và công dân (Điều 34).

4. Chế tài xử lý các hành vi vi phạm  

Luật Bình đẳng giới đưa ra các chế tài xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới. Theo Điều 10 của LuậtL, thì các hành vi bị nghiêm cấm gồm: cản trở nam, nữ thực hiện bình đẳng giới; phân biệt đối xử về giới dưới mọi hình thức; bạo lực trên cơ sở giới; các hành vi khác bị nghiêm cấm theo quy định của pháp luật. Cụ thể hoá điều này, Điều 40 và Điều 41 của Luật quy định các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế và gia đình. Trong đó, có nhiều hành vi vi phạm trong một số lĩnh vực được quy định rất mới và kịp thời nhằm cụ thể hoá các tư tưởng tiến bộ của nhân loại và phù hợp với thực tiễn Việt Nam như c ác hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế là: cản trở, xúi giục hoặc ép buộc người khác không tham gia các hoạt động giáo dục sức khỏe vì định kiến giới; lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức hoặc xúi giục, ép buộc người khác phá thai vì giới tính của thai nhi. Còn trong gia đình, các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới bị ngăn cấm là: cản trở thành viên trong gia đình có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tham gia định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung của hộ gia đình vì lý do giới tính; không cho phép hoặc cản trở thành viên trong gia đình tham gia ý kiến vào việc sử dụng tài sản chung của gia đình, thực hiện các hoạt động tạo thu nhập hoặc đáp ứng các nhu cầu khác của gia đình vì định kiến giới; đối xử bất bình đẳng với các thành viên trong gia đình vì lý do giới tính; hạn chế việc đi học hoặc ép buộc thành viên trong gia đình bỏ học vì lý do giới tính; áp đặt việc thực hiện lao động gia đình, thực hiện biện pháp tránh thai, triệt sản như là trách nhiệm của thành viên thuộc một giới nhất định (Điều 41).

Bên cạnh đó, luật còn đưa ra các nguyên tắc xử lý hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới (Điều 39) nhằm phát hiện, ngăn chặn kịp thời mọi hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới. Việc xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để theo đúng quy định của pháp luật. Ngoài ra, nhằm bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan đến bình đẳng giới, Luật còn quy định việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới (Điều 37), tố cáo và giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới (Điều 38).

 Có thể nói, Luật Bình đẳng giới là sự tiếp tục khẳng định quan điểm “nam, nữ bình quyền” của Đảng và nhà nước ta suốt mấy chục năm qua, là cơ sở pháp lý hữu hiệu để tiến tới chấm dứt, xoá bỏ triệt để tư tưởng “trọng nam khinh nữ” hiện còn tồn tại, rơi rớt trong xã hội ta hiện nay, đồng thời góp phần quan trọng để thực hiện, thúc đẩy sự phát triển về mọi mặt của cả nam và nữ.

      (Bài viết đăng trên TCNCLP số 93, tháng 3/2007)

Trần Thị Quốc Khánh
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Đổi mới tư duy pháp lý về kinh tế và quyền con người, quyền công dân trong xây dựng pháp luật ở nước ta hôm nay (09/09/2011)
Tiếp cận quyền tiếp cận thông tin dưới góc độ quyền con người (23/03/2011)
Pháp luật đảm bảo sự phát triển của gia đình ở Việt Nam và một số giải pháp hoàn thiện (16/06/2010)
Giáo dục quyền con người trong các cơ sở đào tạo chuyên ngành Luật ở Việt Nam (08/10/2009)
Sự cần thiết ban hành Luật Tiếp cận thông tin (18/09/2009)
Quyền tiếp cận thông tin - Điều kiện thực hiện các quyền con người và quyền công dân (09/09/2009)
Bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của công dân (07/08/2009)
Quyền tiếp cận thông tin - Điều kiện thực hiện các quyền con người và quyền công dân (09/09/2009)
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo trong hai dự thảo luật

Công khai thông tin với việc thực hiện phản biện xã hội

Thư của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gửi Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

CÔNG BỐ VÀ TRAO NGHỊ QUYẾT BỔ NHIỆM VIỆN TRƯỞNG VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt Nam

Khai mạc trọng thể Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Lựa chọn chính sách cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay

Chất vấn và hậu chất vấn

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân