Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ ba, 23/10/2018, 05:38(GMT+7)
 
Văn hóa - xã hội

Hệ thống Pháp luật về Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em:Chặng đường hình thành và phát triển
Chính sách bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của nhà nước được thể hiện nhất quán theo hướng liên tục phát triển và được hoàn thiện liên tục trong hệ thống các văn bản pháp luật, phản ảnh sự quan tâm của xã hội nói chung và Đảng, nhà nước nói riêng đối với chất lượng của các công dân tương lai, nguồn nhân lực quyết định sự vẻ vang của đất nước. Bài viết điểm lại những đặc thù của hệ thống pháp luật về lĩnh vực này và chia sẻ những suy ngẫm để tiếp tục hoàn thiện trong giai đoạn phát triển tiếp theo.

     I. Khái quát   

Chính sách và pháp luật quốc gia

Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là truyền thống và đường lối nhất quán xuyên suốt trong chặng đường lịch sử 60 năm nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trong đó pháp luật cùng cơ chế thực thi có vai trò quan trọng đặc biệt.

Trải dọc hành trình lịch sử 60 năm, hệ thống các quy định pháp luật về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em đã liên tục được bổ sung, hoàn thiện, tạo thành một hệ thống thống nhất, từ hiến pháp, các đạo luật đến các văn bản dưới luật. Đặc biệt, có hẳn một đạo luật chuyên điều chỉnh lĩnh vực này, đó là Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Phạm vi điều chỉnh của pháp luật về trẻ em rộng lớn, liên quan đến các quyền, bổn phận của trẻ em, trách nhiệm của nhà nước, gia đình, xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, quy định hành vi vi phạm và chế tài đối với hành vi vi phạm quyền trẻ em. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định chính sách bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.

Hệ thống pháp luật về trẻ em bao gồm: các Hiến pháp, các đạo luật Luật hôn nhân và gia đình; Pháp lệnh về kế hoạch hoá gia đình 1988; Luật bảo vệ sức khoẻ nhân dân; các bộ luật hình sự, bộ luật tố tụng hình sự; từ pháp lệnh đến Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991 và 2004; Luật phổ cập giáo dục tiểu học 1991; bộ luật lao động; bộ luật dân sự; luật giáo dục, pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính vv... Đây chính là cơ sở pháp lý thể chế hoá chính sách của Đảng, Nhà nước ta về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em phù hợp với Công ước quốc về quyền trẻ em.

Có thể nhận thấy đặc thù xuyên suốt của hệ thống pháp luật về trẻ em ở nước ta là xu thế nhân đạo, thiên về giáo dục, sự nghiêm khắc đối với vi phạm và mục đích bảo vệ và phát triển nguồn nhân lực tương lai. Tính nhân đạo và giáo dục thể hiện rõ nét trong hệ thống các quy định pháp luật về trách nhiệm pháp lý đối với trẻ em vi phạm pháp luật. Các biện pháp trách nhiệm pháp lý tăng dần tính nghiêm khắc hơn đối với các hành vi vi phạm quyền trẻ em.

Điều ước quốc tế về quyền trẻ em

Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới và là nước đầu tiên ở Châu Á phê chuẩn Công ước quốc về quyền trẻ em. Nhiều Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em trên nhiều lĩnh vực giáo dục, văn hoá, y tế, dinh dưỡng đã được thực hiện có hiệu quả ở Việt Nam.

Các quyền trẻ em liên quan đến ba phương diện cơ bản C - quyền được bảo vệ, được chăm sóc và được giáo dục. Bảo vệ quyền trẻ em là một trong những nội dung của bảo vệ quyền con người. Có thể phân loại các quyền trẻ em thành: i) nhóm các quyền về dân sự - chính trị, bao gồm quyền có họ tên và quốc tịch, quyền tự do phát biểu ý kiến, đề đạt nguyện vọng, được bảo vệ không bị đối xử tàn ác, bị tra tấn; ii) nhóm các quyền về kinh tế, bao gồm quyền được hưởng an toàn về xã hội, có mức sống đủ để phát triển, được bảo vệ không bị bóc lột trong lao động; iii) nhóm các quyền xã hội,  bao gồm quyền được chăm sóc sức khoẻ, được bảo vệ khỏi bị bóc lột về tình dục; iv) nhóm các quyền văn hoá, bao gồm quyền được học tập, quyền thông tin, tham gia các hoạt động văn hoá, văn nghệ...

II. Hệ thống pháp luật về trẻ em: sự phát triển và đặc thù

2.1. Hình thành và phát triển

Ngay từ khi mới thành lập, Nhà nước Việt Nam kiểu mới đã dành sự quan tâm đến việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự nghiệp "vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người" trở thành tư tưởng chỉ đạo đối với các bản Hiến pháp nước ta.

Chính sách chăm sóc, giáo dục trẻ em đã được cương lĩnh hoá trong Chương trình Việt Minh và sau đó đã được thể hiện ngay trong Hiến pháp năm 1946. Chính sách đó đã liên tục được kế thừa và phát triển trong các bản Hiến pháp sau đó và trong hệ thống pháp luật nước nhà suốt trong chặng đường sáu mươi năm xây dựng và phát triển. Đặc biệt trong Hiến pháp năm 1992, các quyền xã hội của công dân trong đó có quyền trẻ em đã có sự kế thừa và phát triển, phù hợp với những điều kiện mới[1]. Các quy định về quyền trẻ em đã trở thành một bộ phận cấu thành nội dung Luật Hiến pháp Việt Nam, sợi chỉ đỏ xuyên suốt nền lập hiến Việt Nam[2]. Các hiến pháp nước ta đã đặt vấn đề quyền trẻ em trong mối quan hệ trực tiếp với quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, với quyền con người. Trong chương "Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân", có đến 25 điều quy định các quyền cơ bản của công dân trực tiếp hay gián tiếp có liên quan đến quyền trẻ em. Những quy định về trẻ em đã khẳng định, quyền trẻ em thực sự là một chế định hoàn chỉnh mang tính hiến định.

2.2. Một số nét đặc thù         

Bảo vệ quyền trẻ em gắn với bảo vệ quyền phụ nữ

Các quy định pháp luật thường gắn nhu cầu chăm sóc trẻ em bên cạnh nhu cầu chăm sóc người mẹ. Xu hướng này thể hiện trong Hiến pháp, Bộ luật lao động, Luật hôn nhân và gia đình, Bộ luật hình sự; ví dụ chính sách giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội là phụ nữ có thai, nuôi con dưới 36 tháng tuổi vv...

Liên quan giữa pháp luật với đạo đức

Trong lĩnh vực pháp luật về trẻ em nhất là trong các quan hệ hôn nhân gia đình, mối quan hệ này được thể hiện sâu sắc và bao quát hơn, bởi ở đó có yếu tố tình cảm là sợi dây gắn kết các thành viên gia đình. Các quyền, bổn phận - nghĩa vụ của trẻ em và giữa các thành viên khác trong gia đình trước hết là những quyền và bổn phận đạo đức. Đạo đức và pháp luật trong sự phối hợp chặt chẽ có vai trò to lớn trong việc hình thành nhân cách của trẻ em.

Pháp luật về trẻ em liên quan đến nhiều ngành pháp luật

 Mỗi một ngành luật có những đặc thù riêng nhằm bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em. Luật Hiến pháp ghi nhận những vấn đề mang tính nguyên tắc, cơ sở pháp lý cho tất cả các ngành luật khác. Các ngành luật có liên quan đến trẻ em nhiều hơn cả là ngành luật hôn nhân và gia đình, lao động, hình sự, dân sự, hành chính. Luật hình sự bảo vệ quyền trẻ em trên hai phương diện: khi trẻ em cùng với các quyền của trẻ em là đối tượng bị xâm hại, và cả khi bản thân trẻ em có hành vi phạm tội. Luật tố tụng hình sự lại lại có cách riêng, quy định cho các em những quyền tố tụng để tự bảo vệ hoặc có người bảo vệ quyền lợi của mình. Luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh mạnh về  địa vị pháp lý -  các quyền và nghĩa vụ - bổn phận của trẻ em cùng với các quyền và nghĩa vụ - bổn phận pháp luật - đạo đức của các thành viên khác trong gia đình đối với trẻ. Luật lao động quy định những điều cấm để bảo vệ lao động trẻ em trong nền kinh tế thị trường. Ngành luật hành chính và hình sự quy định hệ thống các biện pháp xử phạt nghiêm khắc những hành vi xâm phạm quyền trẻ em và những biện pháp xử lý trẻ em vi phạm pháp luật trên nguyên tắc lấy giáo dục làm chính.

2.3. Đạo luật chuyên về trẻ em

Trên cấp độ toàn diện, cơ bản và tập trung nhất, chính sách bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được quy định trang trọng trong một đạo luật - Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

Với những sửa đổi, bổ sung quan trọng, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 đã thể hiện sự kế thừa và phát triển đạo Luật cùng tên năm 1991[3], phù hợp với các nguyên tắc của pháp luật quốc tế về trẻ em và hoàn cảnh kinh tế xã hội, văn hoá của Việt Nam. Nguyên tắc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là không phân biệt đối xử, dành lợi ích tốt nhất để trẻ em thực hiện quyền, bổn phận và phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức, bảo đảm cho trẻ em được sống trong một môi trường an toàn và lành mạnh. Luật dành một chương riêng (chương II) quy định các quyền cơ bản và bổn phận của trẻ em mang tính toàn diện như quyền được khai sinh và có quốc tịch, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng; quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự, quyền được chăm sóc sức khoẻ, quyền được học tập vv... Luật có một chương riêng quy định trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của xã hội, gia đình, đoàn thể, các cấp chính quyền, nhằm bảo đảm cho trẻ em được hưởng 10 quyền cơ bản. Luật cũng quy định các bổn phận của trẻ em như: yêu quý, kính trọng, hiếu thảo với ông, bà, cha, mẹ; kính trọng thầy, cô giáo, giúp đỡ người già yếu; chăm chỉ học tập; bảo vệ môi trường; khiêm tốn, trung thực, rèn luyện đạo đức; tôn trọng pháp luật vv... Luật năm 2004 đã quy định cụ thể hoá những hành vi bị nghiêm cấm, để làm căn cứ quy định các biện pháp xử lý, ví dụ hành vi cha mẹ bỏ rơi con, dụ dỗ, lôi kéo trẻ em làm việc trái đạo đức, pháp luật vv... Luật còn quy định về những việc trẻ em không được làm: tự ý bỏ học, bỏ nhà sống lang thang; xâm phạm tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác; sử dụng văn hoá phẩm có nội dung xấu vv... Các quy định của Luật đã thể hiện truyền thống, đạo lý của dân tộc ta "Dành những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em", thể hiện sự vận dụng hợp lý nguyên tắc "Dành lợi ích tốt nhất cho trẻ em" trong Công ước Quốc tế về quyền trẻ em mà nhà nước ta đã ký kết và tham gia.

2.4. Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong một số lĩnh vực pháp luật

Quyền có quốc tịch là quyền nhân thân thiêng liêng của trẻ em. Ngay sau khi giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành sắc lệnh 53/SL ngày 20/10/1945 quy định quốc tịch Việt Nam, khẳng định quyền thiêng liêng của trẻ em là quyền có quốc tịch và đảm bảo cho trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam không rơi vào tình trạng không quốc tịch. Luật quốc tịch Việt Nam hiện hành đã quy định các nguyên tắc, điều kiện để đảm bảo quyền quốc tịch của trẻ em phù hợp với tình hình mới. Để đảm bảo trẻ em không trở thành người không có quốc tịch Điều 29 luật quốc tịch Việt Nam quy định: trong trường hợp " cả cha, mẹ bị tước hoặc huỷ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch của con chưa thành niên không thay đổi’’.

Quyền hộ tịch: Trẻ em có quyền được khai sinh - một trong những quyền quan trọng đầu tiên của trẻ em, là cơ sở để thực hiện các quyền cơ bản khác. Pháp luật về hộ tịch quy định thủ tục bình thường cho việc đăng ký khai sinh con ngoài giá thú; con bị bỏ rơi, con sinh ra trong một thời gian ngắn thì bị chết vv... Tinh thần chung của pháp luật là trong mọi  trường hợp đều phải cố gắng tới mức tối đa để có thể khai sinh cho trẻ sơ sinh.

Pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình: Bên cạnh việc kế thừa các quy định mang tính nguyên tắc của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 và Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng trong việc bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em. Luật này đã xác định các nguyên tắc cơ bản: nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ, trẻ em, không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con, giữa con trai và con gái, con đẻ và con nuôi, con trong giá thú và con ngoài giá thú. Luật nghiêm cấm mọi hành vi ngược đãi, hành hạ ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh, chị, em và các thành viên khác trong gia đình. Các quy định của Luật khuyến khích việc duy trì và phát triển gia đình nhiều thế hệ theo truyền thống gia đình Á Đông, đề cao vai trò của gia đình trong đời sống xã hội, giữ gìn, phát huy truyền thống và những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc, xoá bỏ những tập quán lạc hậu. Điều 2 của Luật quy định: cha mẹ có nghĩa vụ và quyền thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức; cha mẹ không được xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội. Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của các con và vì lợi ích tốt nhất cho trẻ em đã được cụ thể hoá trong các quan hệ hôn nhân gia đình, trong giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình liên quan đến trẻ em. Quyền và lợi ích của trẻ em còn được thể hiện trong chế định con nuôi trên nguyên tắc khuyến khích việc nhận trẻ em có hoàn cảnh khó khăn làm con nuôi, nghiêm cấm lợi dụng việc nuôi con nuôi để thực hiện những hành vi vi phạm đạo đức và pháp luật. Bên cạnh việc nghi nhận quyền và nghĩa vụ nhân thân, pháp luật Việt Nam còn quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ tài sản  của trẻ[4]. Bộ Luật dân sự Việt nam đã quy định các cơ sở pháp lý về năng lực chủ thể pháp luật dân sự của người chưa thành niên, chế định giám hộ; chế định thừa kế với việc bảo vệ quyền lợi cho trẻ em là con nuôi...[5]. Người chưa thành niên bình đẳng với các cá nhân khác trong năng lực pháp luật dân sự. Chế độ giám hộ trong Bộ Luật dân sự thể hiện sự quan tâm sâu sắc của nhà nước và xã hội ta đối với người chưa thành niên, đặc biệt là đối với trẻ em dưới 15 tuổi có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và những người mất năng lực hành vi.

   Pháp luật hình sự: Luật hình sự nước ta đã và luôn là công cụ bảo vệ có hiệu quả quyền lợi của phụ nữ và trẻ em khỏi sự xâm hại của tội phạm, thể hiện đậm nét chủ nghĩa nhân đạo, chính sách khoan hồng của nhà nước đối với phụ nữ và trẻ em phạm tội. Những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội tại chương X Bộ luật hình sự năm 1999 và những sửa đổi bổ sung so với năm 1985 thể hiện hướng bảo vệ mạnh hơn lợi ích của trẻ em, thể hiện tính nhân đạo và tính giáo dục sâu sắc đối với trẻ em phạm tội. Trước hết, đó là việc thu hẹp phạm vi xử lý hình sự đối với người chưa thành niên ở độ tuổi từ 14 đến dưới 16 tuổi. Người chưa thành niên chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội chủ yếu là nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành người công dân có ích cho xã hội. Hình phạt tù chung thân hoặc tử hình và hình phạt bổ sung không áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội. Mặt khác, Bộ luật đã quy định cụ thể và nghiêm khắc các chế tài đối với những hành vi xâm phạm quyền trẻ em trong đó bổ sung nhiều quy định về các tội phạm mới với các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Người phạm tội giết phụ nữ mà biết là có thai, hoặc giết trẻ em đều có thể bị áp dụng hình phạt cao nhất là tử hình; hành vi đối xử tàn ác với trẻ em là những người lệ thuộc được coi như một tình tiết tăng nặng và người phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt cao nhất đến 3 năm tù giam thay vì hai năm tù giam theo Bộ luật hình sự 1985. Xét cả từ hai góc độ nói trên, thì trẻ em cũng như phụ nữ đều được pháp luật hình sử đối xử đặc biệt so với các đối tượng khác[6]. 

Pháp luật xử lý vi phạm hành chính: Hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đã có những quy định tương đối đầy đủ để xử lý những hành vi vi phạm quyền trẻ em cũng như xử lý những hành vi vi phạm do trẻ em thực hiện. Đường lối xử lý thể hiện tính nhân đạo và trách nhiệm của cộng đồng trong việc bảo vệ, giáo dục trẻ em nhằm bảo đảm lợi ích tốt nhất cho  trẻ em, phù hợp với tâm sinh lý của trẻ em. Theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, tuổi chịu trách nhiệm hành chính được quy định đối với những người từ đủ 14 tuổi trở lên (từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chịu trách nhiệm hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; từ đủ 16 tuổi trở lên - về mọi hành vi vi phạm hành chính). Pháp lệnh quy định khi phạt tiền đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thì áp dụng mức phạt không quá 1/2 mức phạt đối với người thành niên. Quy định này đã được sửa đổi theo hướng có lợi cho người vị thành niên vi phạm. Việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của trẻ em còn được thể hiện ở các quy định nghiêm ngặt về tạm giữ theo thủ tục hành chính. Khi người chưa thành niên vi phạm bị tạm giữ trên 6 giờ, thì nhất thiết phải thông báo cho cha mẹ hoặc người giám hộ. Các quy định về xử lý vi phạm hành chính đối với trẻ em đã bao quát những yếu tố về độ tuổi, mức xử lý, các hình thức và biện pháp xử lý trách nhiệm của cha mẹ, người giám hộ trong việc nộp phạt và bồi thường thiệt hại thay; các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt. Các quy định này còn được cụ thể hoá trong các văn bản pháp luật của Chính phủ, ví dụ các nghị định về an ninh, trật tự, y tế, xử lý vi phạm trong hôn nhân và gia đình.

Pháp luật lao động: Sự ra đời của Bộ luật lao động đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng về lao động trẻ em nói riêng và pháp luật lao động nước ta nói chung. Đây cũng là lần đầu tiên trong pháp luật lao động, trẻ em với tư cách là một chủ thể có địa vị pháp lý được quy định rõ ràng theo tinh thần bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ, đảm bảo cho trẻ em tránh khỏi tình trạng bị lạm dụng, bóc lột sức lao động, tạo điều kiện hình thành, phát triển và hoàn thiện về nhân cách, thể lực của trẻ em. Bộ luật lao động đã giành một chương riêng - chương XI về lao động người chưa thành niên và một số lao động khác. Bộ luật cũng đã quy định những điều cấm, chế tài và những nghĩa vụ ràng buộc đối với người sử dụng lao động khi sử dụng lao động trẻ em, bảo vệ lao động nữ trong thời kỳ thai nghén, nuôi con nhỏ. Để phù hợp với các quy định về đỡ đầu, giám hộ, Bộ luật lao động quy định đối với ngành nghề  và công việc được nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc, học nghề, tập nghề thì phải có sự đồng ý và theo dõi của cha mẹ hoặc người đỡ đầu...

Là thành viên chính thức của ILO, Việt Nam đã tham gia phê chuẩn nhiều Công ước của tổ chức này về lao động trẻ em.

III. Nhìn lại và suy ngẫm

Thành tựu: Hệ thống pháp về trẻ em nước ta đã góp phần to lớn vào sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, thể hiện đầy đủ các nguyên tắc của Công ước quốc tế về quyền trẻ em. Cùng với các lĩnh vực điều chỉnh pháp luật khác, pháp luật về trẻ em đã liên tục được đổi mới, hoàn thiện, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của cuộc sống.

Rõ nét nhất là tính thống nhất, đồng bộ và tính phù hợp, khả thi của các quy định pháp luật về trẻ em ngày càng được nâng cao, nhằm dành cho trẻ em những lợi ích tốt nhất trên cơ sở trách nhiệm đạo đức và pháp luật của toàn xã hội. Từ phương diện chế tài, các quy định pháp luật cũng thể hiện sự nghiêm minh, tính vừa sức, lấy giáo dục làm chính trong việc xử lý trẻ em có hành vi vi phạm pháp luật.

Nhà nước và xã hội trong những năm qua đã có nhiều chương trình, chính sách đáp ứng nhu cầu và giải quyết các vấn đề của trẻ em. Hàng triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được bảo vệ, cải thiện đời sống, bảo đảm quyền bình đẳng gia nhập cộng đồng. Mỗi năm có hơn 200.000 trẻ em tàn tật được hưởng trợ cấp xã hội, 55.000 trẻ em mồ côi được hưởng trợ cấp nuôi đưỡng tại cộng đồng, khoảng 40% trẻ em khuyết tât được chăm sóc phục hồi chức năng, gần một triệu con em các gia đình nghèo được miễn giảm học phí[7]....

Bất cập: Cơ chế thực thi pháp luật nói chung và về trẻ em nói riêng cần đựơc chú ý hơn nữa để phát huy tính tích cực bảo vệ của hệ thống pháp luật. Giữa các quy định pháp luật và việc thực thi vẫn còn một khoảng cách xa. Công tác hướng dẫn, giải thích, tuyên truyền các văn bản pháp luật chưa được thực hiện tốt dẫn đến sự giảm sút hiệu lực và hiệu quả điều chỉnh của pháp luật.

Tình trạng các quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em bị xâm hại ngày càng nhiều và diễn biến phức tạp. Số thanh thiếu niên phạm tội ngày càng tăng, hầu như có đủ tất cả các loại tội danh, kể cả tội phạm nghiêm trọng. Tình trạng tái phạm của các em đáng báo động, số các em vi phạm pháp luật từ 3 đến 5 lần và 6 đến 10 lần là phổ biến, thậm chí có cả những vi phạm trên 10 lần cũng chiếm tỷ lệ đáng kể[8]. Trẻ em là nạn nhân của bạo lực gia đình, bị ngược đãi, hành hạ thô bạo[9] đang gây bức xúc cho xã hội, thách thức pháp luật và các giá trị đạo đức truyền thống. Tệ nạn trẻ em đường phố, trẻ em phải lao động sớm, trẻ em lâm vào các tệ nạn xã hội như ma tuý, mại dâm... đang trở thành vấn đề nhức nhối; đòi hỏi nhà nước và toàn xã hội phải quan tâm hơn nữa.  

Bàn về giải pháp tăng cường tính thực thi của hệ thống pháp luật bảo vệ quyền trẻ em, có thể xuất phát từ giả thiết rằng trong khi  quy định pháp luật về nội dung tương đối đầy đủ thì các quy định pháp luật về thủ tục và cơ chế thực thi lại còn thiếu và yếu, không thống nhất, dẫn đến tình trạng có luật nhưng không thi hành được. Do vậy, trước mắt, thay vì bổ sung các quy định về nội dung, nên quan tâm đến việc rà soát để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật về thủ tục, về cơ chế thực thi mang tính pháp lý và xã hội cao hơn. Một mình pháp luật cho dù với những chế tài nghiêm khắc cũng không thể giải quyết hết được các vấn đề nảy sinh. Giải pháp pháp luật chỉ có ý nghĩa, hiệu quả khi được xây dựng trên cơ sở các giải pháp kinh tế, văn hoá, xã hội. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho trẻ em phải được thực hiện cùng với giáo dục đạo đức, giải quyết việc làm, dạy nghề, hướng nghiệp cho trẻ em. /. 

[1] Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, Nxb Khoa học xã hội, Hà nội, 1995, tr.275

[2] Nguyễn Đình Lộc, bài viết trong sách "Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam", Bộ Tư pháp, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Nxb Giáo dục, UNICEP, Hà nội, 1996, tr.20

[3]  Vụ pháp luật hình sự – hành chính, UNICEF, “Bảo vệ Quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam”, Nxb Tư pháp,  Hà nội 2005,

[4] Xem Hà Thị Mai Hiên, Quyền trẻ em đối với tài sản và thừa kế tài sản: Một vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 5/1998, tr.26

[5] Xem Nguyễn Đức Giao, Hoàng Thế Liên, bài viết trong sách “Bảo vệ Quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam”, sđd, tr.35-60

[6] Xem thêm Phạm Hồng Hải, Bộ luật hình sự, 1999 với vấn đề bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 3/ 2001, tr.19

[7] Đàm Hữu Đắc, Tổ chức thực hiện tốt Chương trình Hành động Quốc gia Vì trẻ em giai đoạn 2001-2010, báo Lao động và Xã hội số 23 (23/1/2001).

[8] Xem, Trần Đức Châm, Tình trạng tội phạm ở lứa tuổi thanh, thiếu niên, tạp chí Xã hội học số 2/1998, tr. 63-66

[9]  Việc ngược đãi, hành hạ con ở thị xã Bắc Ninh, xem Hà Tân, Những kẻ hành hạ, đánh đập và khâu mồm  con, Báo Phụ nữ thủ đô số 18/2001, trang 10.

(Bài viết đăng trên TCNCLP số 53, tháng 6/2005)

Hoàng Thị Kim Quế
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Đổi mới tư duy pháp lý về kinh tế và quyền con người, quyền công dân trong xây dựng pháp luật ở nước ta hôm nay (09/09/2011)
Tiếp cận quyền tiếp cận thông tin dưới góc độ quyền con người (23/03/2011)
Pháp luật đảm bảo sự phát triển của gia đình ở Việt Nam và một số giải pháp hoàn thiện (16/06/2010)
Giáo dục quyền con người trong các cơ sở đào tạo chuyên ngành Luật ở Việt Nam (08/10/2009)
Sự cần thiết ban hành Luật Tiếp cận thông tin (18/09/2009)
Quyền tiếp cận thông tin - Điều kiện thực hiện các quyền con người và quyền công dân (09/09/2009)
Bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của công dân (07/08/2009)
Quyền tiếp cận thông tin - Điều kiện thực hiện các quyền con người và quyền công dân (09/09/2009)
2.jpg
Phòng Biên tập - Tạp chí Nghiên cứu lập pháp đón nhận Huân chương lao động hạng ba tại Hà Nội ngày 18/10/2018
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Bàn về việc thành lập cơ quan chuyên trách phòng, chống tham nhũng ở nước ta

Cần luật hóa trách nhiệm giải trình của trường đại học công lập

Thông tin trên mạng và hệ thống hóa các loại hình thông tin trên mạng

Kinh nghiệm các nước về thực thi pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Mô hình pháp điển hóa của Hoa Kỳ và một số nội dung Việt Nam có thể tiếp thu

Chính sách ưu đãi thuế, tài chính, ngân hàng ở một số đặc khu thuộc Trung Quốc và kiến nghị cho các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt của Việt Nam

Sự hình thành luật tập quán quốc tế trước bối cảnh thay đổi cơ bản

Hoàn thiện chương trình bồi dưỡng cán bộ, công chức hiện nay

Giải thích pháp luật - một vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn ở Việt Nam

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân