Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ tư, 25/04/2018, 03:49(GMT+7)
 
Văn hóa - xã hội

Góp ý vào Dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội: Hoàn thiện chế độ bảo hiểm hưu trí
Dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội1 (BHXH) đã được trình Chính phủ vào tháng 5/2005 để lấy ý kiến của một số cơ quan thuộc Chính phủ. Theo kế hoạch, Dự thảo này sẽ được Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội Khoá XI. Đây là một sự kiện quan trọng, thể hiện những bước cải cách cần thiết trong lĩnh vực BHXH, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà quản lý, nhiều luật gia và các nhà nghiên cứu chính sách... Để Dự thảo Luật BHXH được hoàn thiện hơn, trong bài viết dưới đây, chúng tôi xin đưa ra một số nhận định và kiến nghị về chế độ bảo hiểm hưu trí - một trong những chế độ quan trọng trong hệ thống BHXH của mỗi quốc gia

1. Những điểm tiến bộ của Dự thảo về chế độ hưu trí[1]

Trong pháp luật hiện hànhT, điều kiện hưởng chế độ hưu trí hàng tháng được quy định như sau: nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi và có 20 năm đóng bảo hiểm (BH). Một số trường hợp được giảm 5 năm tuổi đời do làm việc trong lực lượng vũ trang; có 15 năm làm việc trong điều kiện lao động không thuận lợi; có 10 năm chiến đấu ở chiến trường hoặc đã đủ 30 năm đóng BH và có nguyện vọng về hưu. Một số đối tượng được nghỉ hưu sớm hơn mười năm do suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên, hoặc thậm chí không căn cứ vào độ tuổi nếu mất sức lao động vì tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp... Mức BH hàng tháng tính trên mức lương bình quân làm căn cứ đóng BH của năm năm cuối, nếu đóng theo thang bảng lương do Nhà nước quy định; tính trên toàn bộ thời gian đóng BH đối với đối tượng khác. Mức cụ thể phụ thuộc vào số năm công tác của mỗi người, theo công thức: nếu đóng BH 15 năm thì mức BH bằng 45% mức lương bình quân làm căn cứ đóng, sau đó, cứ thêm một năm đóng BH thì cộng thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ, nhưng tối đa không quá 75%. Người hưởng BH ở mức thấp bị trừ 1% mức lương bình quân đối với mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định.

Những người không đủ điều kiện hưởng BH hưu trí hàng tháng có thể hưởng trợ cấp một lần hoặc được bảo lưu thời gian tham gia BH để đóng tiếp khi có đủ điều kiện hoặc chờ đến khi đủ tuổi đời để hưởng hưu trí hàng tháng. Nếu hưởng trợ cấp một lần thì mức trợ cấp cho mỗi năm đóng BH bằng một tháng lương bình quân làm căn cứ đóng BH (tính như chế độ hưu trí hàng tháng).

Dự thảo đã kế thừa các quy định chung về điều kiện hưởng BH của pháp luật hiện hành như: quy định về một số đối tượng được giảm năm năm tuổi đời, một số đối tượng được hưởng BH hưu trí với mức thấp, về mức trợ cấp hưu trí một lần... Bên cạnh đó, Dự thảo còn có nhiều nội dung thể hiện sự tiến bộ, cụ thể như sau:

Một là, thời gian đóng BH tối thiểu 20 năm đã được quy định thống nhất trong điều kiện hưởng BH hưu trí hàng tháng. Như vậy, so với quy định hiện hành, Dự thảo đã loại bỏ đối tượng đủ tuổi đời nhưng mới đủ 15 năm đóng BHXH ra khỏi đối tượng được hưởng BH hưu trí hàng tháng. Đây là điều hợp lý, đảm bảo cân đối nguồn quỹ BH dài hạn đang tiềm ẩn nguy cơ thâm hụt trong tương lai.

Hai là, Dự thảo đã dự liệu một số lĩnh vực, vị trí... (do Chính phủ quy định) có thể tăng tuổi nghỉ hưu không quá 5 năm so với điều kiện chung. Đây là một điểm mới, phù hợp với quy định của nhiều nước trên thế giới và thực sự rất cần thiết với Việt Nam, vì nếu so sánh trên bình diện quốc tế, tuổi nghỉ hưu hiện nay ở nước ta vào loại trung bình thấp. Trong khi đó, các chế độ đối với người nghỉ hưu lại được quy định tương đối cao, làm cho quỹ BH chưa đảm bảo an toàn. Quy định này sẽ tạo ra tư duy mới về vấn đề hưu trí, tạo điều kiện và khuyến khích người lao động làm việc sau tuổi hưu nếu khả năng cho phép.

Ba là, đối tượng được nghỉ hưu trước tuổi cũng đã được thu hẹp hơn so với trước đây. Những người đủ 30 năm đóng BH, có nguyện vọng về hưu cũng vẫn phải đủ điều kiện tuổi đời theo quy định chung. Như vậy, chính sách hưu trí trong Dự thảo đã được phân biệt hợp lý với chính sách giảm biên chế trong khu vực Nhà nước. Khi Nghị định 93/1998/NĐ-CP quy định đối tượng này được giảm năm năm tuổi đời, không phải giảm tỷ lệ lương hưu do nghỉ trước tuổi đã làm cho tuổi nghỉ hưu bình quân trên thực tế giảm từ 54, 5 tuổi xuống 51, 8 tuổi[2]. Như vậy, quỹ BHXH đã mất thêm bình quân 2, 7 năm thu BH và phải kéo dài thời gian chi trả BH cho mỗi đối tượng bình quân thêm 2, 7 năm nữa. Do đó, quy định như trong Dự thảo là cần thiết, tránh tình trạng quỹ BHXH bị thất thu, tăng chi, trong khi đối tượng vẫn đủ tuổi để tiếp tục làm việc.

Bốn là, công thức tính mức BH hưu trí hàng tháng trong Dự thảo đã được quy định hợp lý hơn: đủ 20 năm đóng BH được tính bằng 55% mức lương bình quân đóng, năm thứ 21 tính thêm 2%, sau đó, cứ mỗi năm tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ, mức tối đa 75%. Như vậy, người chưa đủ 20 năm đóng BH không được hưởng BH hưu trí hàng tháng. Số năm đóng để đạt tỷ lệ bảo hiểm tối đa của lao động nữ được tăng từ 25 năm lên 27 năm so với quy định hiện hành. Đặc biệt, Dự thảo quy định người nghỉ hưu trước tuổi bị trừ 2% cho mỗi năm nghỉ trước là điều cần thiết, đảm bảo công bằng giữa tỷ lệ cộng và trừ cho cùng một đơn vị thời gian.

Năm là, đối tượng hưởng trợ cấp một lần được quy định cho người có thời gian đóng BH trên 30 năm đối với nam và trên 27 năm đối với nữ là phù hợp với công thức tính nêu trên. Đặc biệt, Dự thảo không khống chế mức tối đa của loại trợ cấp này, đảm bảo công bằng hơn cho người hưởng và khuyến khích đối tượng đóng BH với thời gian dài.

Sáu là, đối tượng hưởng BH hưu trí một lần trong Dự thảo đã được thu hẹp hơn so với quy định hiện hành: chỉ quy định cho những người đã đủ tuổi đời hoặc mất sức lao động 61% trở lên mà chưa đủ điều kiện hưởng BH hưu trí hàng tháng hoặc người ra nước ngoài định cư hợp pháp. Những trường hợp chấm dứt hợp đồng khi chưa đủ tuổi không được xác định là đối tượng trợ cấp đã thể hiện đúng bản chất của BH hưu trí là BH tuổi già. Nội dung này cũng góp phần ổn định nguồn quỹ BH và tạo điều kiện cho đối tượng có thể đóng tiếp theo chế độ BH bắt buộc khi có điều kiện hoặc tham gia BH tự nguyện.

Bảy là, cách tính mức bình quân tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH trong Dự thảo cũng được thay đổi hợp lý hơn theo hướng, mở rộng khoảng thời gian tính của những người đóng BH theo thang bảng lương của Nhà nước, tiến tới có thể tính theo một cách chung cho tất cả các thành phần kinh tế. Điều đó là cần thiết để thực hiện nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế trong cơ chế thị trường.

Tám là, Dự thảo đã có quy định để khống chế tiền lương làm căn cứ đóng BH tối đa bằng khởi đầu mức thu nhập chịu thuế. Quy định này sẽ khuyến khích người lao động cố gắng phấn đấu để tăng lương, khuyến khích người sử dụng lao động nâng cao mức tiền lương cho người lao động. BHXH cũng không phải chi trả những mức quá cao, đảm bảo tính chất của an sinh xã hội và giảm gánh nặng cho quỹ trong những thời kỳ khó khăn, do khủng hoảng kinh tế hoặc khi Nhà nước phải bù thiếu.

Như vậy, có thể thấy rằng, chế độ hưu trí được quy định trong Dự thảo đã kế thừa một số nội dung và khắc phục nhiều bất hợp lý trong các quy định của pháp luật hiện hành.

2. Một số kiến nghị

Để hoàn thiện chính sách BHXH nói chung và chế độ hưu trí nói riêng, xin kiến nghị một số nội dung cụ thể như sau:

Thứ nhất, việc giảm tối đa năm tuổi đời cho một số đối tượng là cần thiết, nhưng nên quy định phạm vi hẹp hơn nữa, bởi thực tế, không phải tất cả những người lao động làm việc trong môi trường độc hại, ở vùng không thuận lợi hoặc làm việc trong lực lượng vũ trang đều cần nghỉ hưu sớm và muốn nghỉ hưu sớm. Vì vậy, nên bổ sung thêm điều kiện mất sức lao động ở mức độ nhất định (ví dụ từ 31% trở lên), để đảm bảo rằng, khi đối tượng còn khả năng làm việc thì quỹ BHXH không phải chi trả. Đối tượng cũng vẫn được ưu đãi vì nếu nghỉ hưu sớm, họ không bị trừ tỉ lệ lương hưu như những lao động khác. Trong tương lai, sự ưu đãi này nên thay bằng các quy định đảm bảo tiêu chuẩn an toàn vệ sinh lao động ở mức độ cao, cải thiện điều kiện lao động và điều kiện sống, để môi trường làm việc không ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe của người lao động.

Thứ hai, về tuổi nghỉ hưu của lao động nữ, hiện nay và trong Dự thảo vẫn quy định nữ nghỉ hưu trước 5 năm tuổi. Vấn đề này còn có nhiều ý kiến khác nhau, có ý kiến cho rằng phù hợp, có ý kiến lại cho rằng không bình đẳng vì đã hạn chế quyền làm việc của lao động nữ... Hiện nay, nhiều nước cũng đang xoá bỏ tình trạng phân biệt này. Với điều kiện của nước ta, chúng ta có thể chọn một trong ba cách khi quy định tuổi nghỉ hưu của lao động nữ trong Luật BHXH. Tuy nhiên, mỗi cách đều có những thuận lợi và khó khăn nhất định:

1. Quy định lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu của lao động nữ một cách phù hợp để bình đẳng với nam giới (ví dụ, mỗi năm tăng thêm sáu tháng, sau 10 năm, tuổi nghỉ hưu của hai giới bằng nhau – xem bảng ở dưới). Cách này có thể nâng được tuổi nghỉ hưu của tất cả các lao động nữ, áp dụng đơn giản và được sử dụng tương đối phổ biến ở những nước đã và đang tăng tuổi nghỉ hưu của lao động nữ. Song, nếu áp dụng, có thể sẽ gặp phải sự phản ứng của một số lao động nữ làm việc trực tiếp, sức khỏe không đảm bảo, lương thấp... và sự phản ứng của một số người sử dụng lao động trong các ngành nghề mà công nghệ thay đổi nhanh, cần phải trẻ hóa lực lượng lao động.

2. Có thể xác định việc nghỉ hưu sớm là quyền, không phải là nghĩa vụ của lao động nữ. Như hiện nay, tuổi 55 là tuổi có thể nghỉ hưu của nữ và tuổi 60 là tuổi nghỉ hưu của cả hai giới. Trong khoảng hai mốc này, bất cứ lúc nào lao động nữ cũng có thể lựa chọn: về nghỉ hưu hay tiếp tục làm việc. Nếu hợp đồng lao động là xác định thời hạn và còn thời hạn thì các bên có quyền và nghĩa vụ tiếp tục thực hiện hợp đồng, không được hưởng BH hưu trí. Nếu hợp đồng lao động của các bên không xác định thời hạn mà lao động nữ muốn nghỉ hưu thì họ có thể chấm dứt hợp đồng để nghỉ hưu; nếu lao động nữ muốn tiếp tục làm việc thì người sử dụng lao động cũng không được chấm dứt hợp đồng khi họ chưa đủ 60 tuổi. Như vậy, có thể giải quyết được tương quan giữa quyền lao động và quyền nghỉ hưu của lao động nữ, góp phần cân đối quỹ BHXH. Khi đã xác định là quyền của lao động nữ, do họ tự quyết định thì cũng không cần thiết phải ưu tiên trong việc tính lương hưu cho họ như hiện nay. Cách này đáp ứng được nhu cầu của lao động nữ trong các ngành nghề khác nhau, nhưng có thể phức tạp trong tổ chức thực hiện và chỉ nâng được tuổi nghỉ hưu của một số lao động nữ.

3. Quy định tuổi nghỉ hưu của lao động nữ trong một số ngành nghề, công việc hoặc với người có học vị... bằng tuổi nghỉ hưu của nam giới (ví dụ: các lao động trong khu vực hành chính sự nghiệp hoặc lao động gián tiếp trong các doanh nghiệp, các nhà khoa học có học vị, các chuyên gia, nghệ nhân, nghệ sỹ, nhà giáo, thầy thuốc... có danh hiệu nhất định). Ngoài phạm vi này, tuổi nghỉ hưu của lao động nữ vẫn ít hơn nam giới. Lựa chọn cách này sẽ ít gặp phản ứng hơn (không thể hoàn toàn tránh khỏi điều đó). Tuy nhiên, sẽ khó khăn trong việc xác định phạm vi hợp lí và cũng chỉ nâng được tuổi nghỉ hưu của một số lao động nữ. Điều phức tạp nhất là, nếu áp dụng cách quy định này thì việc tính mức lương hưu theo một công thức chung hay theo hai công thức khác nhau giữa lao động nam và lao động nữ đều tạo ra cảm giác không công bằng. Song, dường như đây là hướng quy định của Dự thảo (điểm c, khoản 1, Điều 22).

Thứ ba, công thức tính lương hưu trong Dự thảo vẫn phân biệt giữa lao động nam và nữ là không công bằng theo nguyên tắc đóng - hưởng. Tuy nhiên, nếu lựa chọn tuổi nghỉ hưu của lao động nữ theo cách (3) mà áp dụng một công thức chung thì có thể gặp phản ứng, vì những người nghỉ hưu sớm theo quy định của pháp luật sẽ có cảm giác bị thiệt thòi. Vì vậy, nếu lựa chọn cách quy định (1) và (2) về tuổi nghỉ hưu của lao động nữ thì có thể áp dụng một công thức chung cho cả hai giới một cách bình đẳng. Nếu lựa chọn hướng này, nên quy định 20 năm đóng BHXH thì hưởng 51% mức lương đóng bình quân, sau đó, cứ tăng thêm một năm đóng BH thì tăng lên 2% mức lương bình quân. Công thức này đảm bảo cho một người học xong đại học (22 tuổi) tham gia BHXH (23 tuổi), nếu làm việc trong những ngành nghề được giảm năm năm tuổi đời (55 tuổi) thì cũng có tỷ lệ hưởng tối đa khi về hưu: 32 năm đóng, hưởng 75% mức lương bình quân.

Riêng trường hợp lựa chọn tuổi nghỉ hưu của lao động nữ theo cách (1), có thể có công thức chuyển tiếp, áp dụng trong mười năm thực hiện lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu của lao động nữ như sau:

Như vậy, giả định năm 2007, Luật BHXH có hiệu lực, thì đến năm 2017 tuổi nghỉ hưu của lao động nữ đạt 60 tuổi và mỗi năm đóng tăng thêm cộng 2% như nam giới.

Trong trường hợp các cơ quan có thẩm quyền vẫn lựa chọn cách quy định tuổi nghỉ hưu của lao động nữ thấp hơn nam và áp dụng hai công thức khác nhau thì nên quy định công thức tính: 20 năm đóng BH được 45% mức lương bình quân đóng, sau đó, cứ tăng thêm một năm thì cộng thêm 2% cho nam giới và 3% cho nữ giới. Như vậy, sau 30 năm đóng BH đối với nữ và sau 35 năm đóng BH đối với nam, người lao động sẽ được hưởng tỉ lệ tối đa 75% lương bình quân. Công thức này cũng khả thi, bởi hiện nay, thời gian tham gia BH bình quân của nam đã đạt tới 34 năm và nữ 29 năm. Nếu quy định chung về tuổi nghỉ hưu được tuân thủ triệt để hơn thì phần lớn người nghỉ hưu sẽ đạt mức tối đa 75%. Tuy nhiên, như trên đã đề cập, áp dụng hai công thức riêng sẽ tạo ra cảm giác không công bằng, bởi lao động nữ đóng quỹ cùng tỷ lệ với lao động nam nhưng lại được hưởng theo tỷ lệ cao hơn, mức hưởng không dựa trên mức đóng. Vì vậy, đây không phải là phương án chúng tôi muốn khuyến nghị.

Thứ tư, cách tính lương bình quân làm căn cứ đóng BHXH trong Dự thảo đã hướng tới sự bình đẳng giữa khu vực Nhà nước và ngoài quốc doanh, nhưng cách tính còn tương đối phức tạp. Thực tế, phần lớn người lao động đều có thời gian đóng BH qua cả hai hoặc ba giai đoạn (trước 1995, từ 1995 đến khi Luật BHXH có hiệu lực và sau khi Luật BHXH có hiệu lực), nên phân chia cách tính trên cơ sở này sẽ khó áp dụng. Vì vậy, có thể quy định: người đóng BH theo thang bảng lương của Nhà nước, tính lương bình quân làm căn cứ đóng BH của năm năm cuối trước khi Luật BHXH có hiệu lực và toàn bộ thời gian tham gia sau khi Luật BHXH có hiệu lực. Nếu Luật BHXH có hiệu lực từ 2007 thì tính lương bình quân của đối tượng này từ 2002 cho đến khi đối tượng nghỉ hưu. Như vậy, vừa đảm bảo được hiệu lực của quy định mới và quy định cũ, vừa mở rộng thời gian tính lương bình quân của đối tượng này, sau một số năm sẽ tính như nhau giữa cả hai khu vực và dễ thực hiện.

Thứ năm, Dự thảo quy định mức lương hưu thấp nhất bằng mức lương tối thiểu một cách vô điều kiện cũng là rộng rãi và không thực sự cần thiết trong trường hợp người lao động có thời gian tham gia BH ngắn nên mức lương hưu thấp, nhưng họ có tài sản và không cần phải tương trợ. Trong khi không kiểm soát được tài sản cá nhân thì cũng cần quy định: nếu người lao động đã tham gia BHXH bắt buộc một thời gian tương đối dài (ví dụ, đã đạt được tỉ lệ hưởng tối đa 75%) mà mức BH vẫn thấp hơn lương tối thiểu thì mới được tương trợ cho bằng mức lương tối thiểu.

Thứ sáu, mức hưởng BH hưu trí một lần hiện nay và trong Dự thảo đều quy định mỗi năm bằng một tháng lương trung bình là thấp so với mức đóng. Điều đó tạo ra sự chênh lệch quá lớn giữa người được hưởng BH hưu trí hàng tháng và một lần. Nó cũng làm cho BHXH không khẳng định được thế mạnh hơn so với các loại hình BH nhân thọ khác. Cần nâng mức hưởng này cao hơn, bằng tỷ lệ đóng của cả hai bên quan hệ lao động trong các năm đóng. Nếu đóng theo mức hiện hành thì hưởng bằng 1, 8 tháng lương bình quân cho mỗi năm đóng BH, nếu tăng mức đóng cho nguồn quỹ dài hạn thì mức hưởng này cũng nên tăng tương ứng để công bằng giữa đóng góp và hưởng thụ. Công thức này có thể chỉ áp dụng từ khi Luật BHXH có hiệu lực, thời gian trước khi Luật BHXH có hiệu lực không được tính lại, vẫn áp dụng công thức hiện hành để đảm bảo ổn định quỹ và hiệu lực pháp luật trong cả hai giai đoạn.

Thứ bảy, cần bổ sung quy định khuyến khích người lao động và người sử dụng lao động tiếp tục quan hệ lao động sau tuổi nghỉ hưu (trừ người có chức vụ trong các cơ quan quyền lực công). Ví dụ, quy định nếu đủ điều kiện nghỉ hưu mà các bên vẫn tiếp tục quan hệ lao động (không làm thủ tục hưởng chế độ hưu trí) thì cả hai bên không phải đóng phí BHXH dài hạn. Điều đó sẽ tạo động lực cho cả hai bên và BHXH không phải chi trả trong khoảng thời gian này.

Thứ tám, trong tương lai, cần quy định lộ trình hoặc nguyên tắc tăng dần điều kiện chung về tuổi nghỉ hưu theo mức tăng tuổi thọ đạt được, tránh tình trạng thâm hụt quỹ BH do nguyên nhân già đi của dân cư. Về vấn đề này, phải căn cứ vào kết luận của nhân khẩu học, sau một khoảng thời gian nhất định, nếu tuổi thọ của người nghỉ hưu tăng lên bao nhiêu thì tuổi nghỉ hưu cần điều chỉnh tăng lên bấy nhiêu, đảm bảo ổn định nguồn thu và chi của quỹ dài hạn. /.

 

[1] Tham khảo Dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội lần thứ 7.

[2] Những thông tin thực tế trong bài viết này được tham khảo từ tài liệu Hội thảo về “Chính sách bảo hiểm xã hội” do Uỷ ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội tổ chức tại Quảng Ninh tháng 4/2005.

(Bài viết đăng trên TCNCLP số 57, tháng 8/2005)

Nguyễn Thị Kim Phụng
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Đổi mới tư duy pháp lý về kinh tế và quyền con người, quyền công dân trong xây dựng pháp luật ở nước ta hôm nay (09/09/2011)
Tiếp cận quyền tiếp cận thông tin dưới góc độ quyền con người (23/03/2011)
Pháp luật đảm bảo sự phát triển của gia đình ở Việt Nam và một số giải pháp hoàn thiện (16/06/2010)
Giáo dục quyền con người trong các cơ sở đào tạo chuyên ngành Luật ở Việt Nam (08/10/2009)
Sự cần thiết ban hành Luật Tiếp cận thông tin (18/09/2009)
Quyền tiếp cận thông tin - Điều kiện thực hiện các quyền con người và quyền công dân (09/09/2009)
Bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của công dân (07/08/2009)
Quyền tiếp cận thông tin - Điều kiện thực hiện các quyền con người và quyền công dân (09/09/2009)
6.jpg
Đồng chí Lê Bộ Lĩnh, Phó Chủ nhiệm VPQH phát biểu khai mạc Hội thảo "Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan nhà nước và xã hội trong thúc đẩy thực thi các quy định pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã"
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em qua công tác xét xử ở khu vực miền Trung - Tây nguyên

Tổng quan và đánh giá các quy định của pháp luật về đại biểu Quốc hội ở Việt Nam

các điều kiện bảo đảm thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước

kinh nghiệm xây dựng thể chế tự quyết cho các thành phố văn minh

Vai trò của Toà Hành chính trong bảo đảm quyền công dân theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015

Những nội dung về bảo vệ môi trường trong xây dựng và phát triển các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt

về tính độc lập và quyền miễn trừ của thẩm phán

Mô hình hợp tác nghề cá ở các vùng biển chồng lấn, đang tranh chấp của một số quốc gia

Đối tượng của quyền hưởng dụng trong pháp luật Việt Nam

Quản lý phát triển xã hội vùng dân tộc và dân tộc thiểu số ở nước ta

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân