Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Chủ nhật, 23/09/2018, 17:13(GMT+7)
 
Tổ chức bộ máy nhà nước

Tính “mở” của pháp luật Việt Nam trong thời kỳ mới
Việt Nam đang diễn ra quá trình, trong đó xây dựng nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự, xây dựng kinh tế thị trường cùng với hội nhập quốc tế đồng hành với nhau. Nếu nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải thiết lập được uy quyền của pháp luật, thì các thành viên của xã hội dân sự - sau khi tự giác giành một phần quyền của mình cho nhà nước - cũng có nhu cầu thực hiện phần quyền còn lại bằng các thể chế, thiết chế do chính họ xây dựng lên. Nếu kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ở chiều này thúc đẩy sự phát triển, thì ở chiều kia, có thể tác động làm biến dạng cả hệ thống thể chế chính trị, văn hoá và luật pháp chính thống. Đó là mâu thuẫn trong phát triển, mà để giải quyết, không thể không tiếp tục đổi mới trên nền tảng của một tư duy mới.

Trên lĩnh vực pháp lý, tư duy mới đòi hỏi phải nhận thức chính xác hơn vị trí của pháp luật trong đời sống xã hội, trong quan hệ với các quy phạm xã hội. Pháp luật phải hội tụ được những thuộc tính hiện đại, đồng thời, phải có được khả năng giao hoà, tương tác đồng thuận với các quy phạm xã hội, tác động cùng định hướng đến một trật tự xã hội của thời kỳ mới. Pháp luật như thế phải có tính "mở". Đó chính là “khả năng mà nhờ đó pháp luật tiếp thụ được các chuẩn mực phổ biến từ các nguồn quy phạm truyền thống và hiện đại, ở trong nước hay ở ngoài nước, vừa bảo đảm được vị trí chủ đạo trong điều chỉnh quan hệ xã hội, vừa tạo ra sự giao hoà, tương tác đồng thuận với các chuẩn mực xã hội trong việc xác lập trật tự xã hội”.

Quan niệm về tính "mở" như trên được tiếp cận theo hai phương diện có quan hệ chặt chẽ với nhau:

-phương diện thứ nhất, tính “mở” của pháp luật là khả năng của nó trong việc tiếp thụ những chuẩn mực xã hội có tính phổ biến từ các nguồn quy phạm xã hội khác nhau, như đạo đức, tập quán, truyền thống, điều lệ của các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp, các hiệp hội... theo các phương thức khác nhau. Chính là nhờ vào khả năng này mà pháp luật trở nên phong phú hơn, tính xã hội sâu sắc hơn, tác động điều chỉnh hiệu quả hơn, do có sự "đồng pha" giữa uy quyền của nhà nước và sức sống của xã hội dân sự.

- phương diện thứ hai, tính “mở” của pháp luật là khả năng của nó trong việc tiếp thụ và bảo đảm cho các chuẩn mực pháp lý của các nước và các chuẩn mực pháp lý quốc tế được thực thi. Tác động tích cực của pháp luật ở phương diện thứ hai này là ở chỗ, nó bảo đảm cho nhà nước - đại diện xã hội, có được vị trí chủ động trong mọi sinh hoạt quốc tế, chủ động tạo dựng một sân chơi chung trong khuôn khổ của những chuẩn mực pháp lý quốc tế, do đó, vừa bảo đảm được lợi ích quốc gia, giữ vững chủ quyền, giữ được bản sắc văn hoá, truyền thống dân tộc, vừa thu hút được nguồn lực to lớn từ nước ngoài cho phát triển.

Bảo đảm cho pháp luật có tính “mở” là nội dung quan trọng của Nghị quyết 48- NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị (khoá IX) về “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020”. Lần đầu tiên, theo Nghị quyết, trong cơ cấu của hệ thống pháp luật Việt Nam có một bộ phận mới - bộ phận pháp luật phục vụ cho hội nhập quốc tế. Đồng thời, Nghị quyết cũng đề ra chủ trương “nghiên cứu về khả năng khai thác, sử dụng án lệ, tập quán (kể cả tập quán, thông lệ quốc tế) và quy tắc của các hiệp hội nghề nghiệp, góp phần bổ sung và hoàn thiện pháp luật”. Công tác thực hiện Nghị quyết đặt ra một số vấn đề sau:

Một là, để hình thành tính “mở” của pháp luật theo phương diện thứ nhất, vấn đề quan trọng là phải đổi mới nhận thức và cách thức hoạch định chính sách pháp luật. Việc hoạch định đó hiện nay chủ yếu từ phía nhà nước, nhưng nhiều trường hợp lại được thực hiện theo quy trình ngược, đề ra quy tắc điều chỉnh rồi mới phân tích chính sách. Đây là lý do dẫn đến luật "khung", luật phải sửa đi, sửa lại, và phải có nhiều văn bản quy định cụ thể,  văn bản hướng dẫn mới được thi hành.

Đổi mới nhận thức và cách thức hoạch định chính sách pháp luật phải trên cơ sở nhận thức “pháp luật lấy xã hội làm cơ sở”; đặt ra pháp luật là quyền của nhà nước, nhưng sáng kiến chính sách pháp luật và quyết định chính sách pháp luật phải cả từ phía xã hội. Nhà nước là người “luật hoá” chính sách pháp luật và cụ thể hoá bằng các quy phạm điều chỉnh. Sự tham gia của xã hội trong hoạch định chính sách pháp luật sẽ cho phép pháp luật hội tụ đầy đủ các giá trị tiên tiến trong các chuẩn mực xã hội từ các nguồn quy phạm xã hội khác nhau, và do đó, bảo đảm được tính “mở” của pháp luật trên từng lĩnh vực đời sống xã hội.

Sự tham gia hình thành và quyết định chính sách pháp luật từ phía xã hội phụ thuộc rất nhiều vào các phương thức làm chính sách và cơ sở pháp lý của mỗi phương thức đó. Trong xu thế phát triển dân chủ hiện nay, cần coi trọng các phương thức:

- Phương thức phê phán xã hội, trong đó sự phê phán cũng có thể cần được phê phán, song được áp dụng đối với các chính sách pháp luật đang có hiệu lực, được thực hiện trên các diễn đàn công khai và hợp pháp, trên cơ sở các quyền cơ bản của công dân, trực tiếp là các quyền thông tin, quyền tham gia quản lý nhà nước, quyền khiếu nại tố cáo được ghi nhận trong Hiến pháp, được cụ thể hoá trong các đạo luật hiện hành.

-  Phương thức phản biện xã hội, áp dụng đối với các chính sách pháp luật đã được khởi thảo nhưng chưa có hiệu lực, theo những mô hình và cơ chế thích hợp với tính chất từng loại quan hệ xã hội mà chính sách tác động. Sự phản biện xã hội được thực hiện chủ yếu từ phía xã hội dân sự, với những nhận xét, đánh giá toàn diện về mục tiêu của chính sách, về tính hợp lý hay không hợp lý, hiệu quả hay không hiệu quả trong các nội dung cụ thể của chính sách. Cũng có thể đưa ra một chính sách khác làm đối chứng so sánh. Vấn đề quan trọng để thực hiện được phương thức này hiện nay là kiện toàn những cơ sở pháp luật tổ chức, hoạt động của hệ thống chính trị và xã hội dân sự, bổ sung và quy định cụ thể Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Luật Công đoàn, đồng thời khẩn trương ban hành Luật về Hội. Các luật này cần quy định rõ quyền phản biện theo từng lĩnh vực hoạt động của các tổ chức, các Hội, quy trình phản biện và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức đề xuất chính sách pháp luật đối với các phản biện đó.

- Phương thức phúc quyết xã hội, áp dụng đối với các chính sách pháp luật đã được quyết định nhưng chưa có hiệu lực. Phúc quyết xã hội chính là “chiếc van an toàn” bảo đảm tính đúng đắn của các chính sách pháp luật. Về mặt pháp luật, phương thức phúc quyết xã hội đòi hỏi phải có Luật Phúc quyết.

- Trưng cầu ý dân, là phương thức xã hội làm chính sách và tự mình quyết định chính sách, một hình thức dân chủ trực tiếp mang tính xã hội cao nhất, thể hiện sự hoàn bị cả về thể chế, cả về cơ chế của xã hội dân chủ. Phương thức trưng cầu ý dân đòi hỏi ý thức dân chủ và trách nhiệm công dân đầy đủ của các thành viên xã hội.

Những phương thức trên có quan hệ chặt chẽ với nhau, đòi hỏi sự áp dụng hợp lý, linh hoạt, phù hợp từng loại chính sách pháp luật. Thực tế xây dựng pháp luật cho thấy, phương thức thông qua chính sách pháp luật chỉ khuôn vào một số nhóm lợi ích, trong đó chủ yếu là lợi ích quản lý của một số cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trong nhiều trường hợp đã không hiệu quả. Trưng cầu ý dân hoặc phúc quyết sẽ khắc phục được những hạn chế trên, cần được nghiên cứu áp dụng trong hoạch định chính sách pháp luật, trước hết là chính sách lập pháp của Quốc hội. Thực tiễn làm luật của Quốc hội hiện nay cho thấy vẫn chưa thật sự hình thành được cơ chế phản biện nội tại. Việc công bố đạo luật đã được Quốc hội thông qua theo Hiến pháp là quyền của Chủ tịch nước, song cũng là nghĩa vụ không thể thoái thác của chức danh này. Chủ tịch nước cũng không có quyền cản trở nào đối với các đạo luật có nội dung vi hiến, có nguy cơ làm tổn hại đến lợi ích quốc gia. Trong khi đó, cơ chế bảo hiến lại chưa được xác lập. Việc quy định thẩm quyền và trách nhiệm của Chủ tịch nước cũng chỉ đóng khung trong các điều luật cơ bản, không có đạo luật quy định cụ thể. Điều đáng quan tâm là Chủ tịch nước, theo Hiến pháp hiện hành, là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt Nhà nước về mặt đối nội, đối ngoại, song trên thực tế dường như đứng ngoài quy trình hoạch định chính sách pháp luật. Rõ ràng, một đạo luật về Chủ tịch nước quy định cụ thể thẩm quyền và trách nhiệm của chức danh này trong việc hoạch định và tổ chức xã hội tham gia hoạch định chính sách pháp luật, thể hiện rõ vai trò là người “nhạc trưởng” điều hành sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp, là hết sức cần thiết hiện nay. Trước mắt, để áp dụng các phương thức xã hội tham gia xây dựng và quyết định chính sách pháp luật như đã phân tích, cần khẩn trương đổi mới về cơ bản quy trình xây dựng pháp luật, nhất là quy trình lập pháp, phân biệt rõ và có sự kết nối chặt chẽ giữa quy trình lập pháp chính sách với quy trình lập pháp điều chỉnh, đồng thời quy định cụ thể việc áp dụng các phương thức đó trong quy trình, tuỳ theo từng lĩnh vực mà chính sách tác động.

Hai là, để hình thành tính “mở” của pháp luật theo phương diện thứ hai, vấn đề quan trọng là phải “tiếp tục ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, tín dụng quốc tế, sở hữu trí tuệ, thuế quan, bảo vệ môi trường…”[1]; “tham gia các điều ước quốc tế đa phương về tương trợ tư pháp, nhất là các điều ước liên quan tới việc công nhận và cho thi hành các bản án, quyết định của toà án, quyết định trọng tài thương mại..”2; “ký kết và gia nhập các công ước quốc tế về chống khủng bố quốc tế, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, chống rửa tiền, chống tham nhũng”3. Việc ký kết và tham gia các điều ước quốc tế phải đồng thời với việc rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, xác định rõ quy trình, cơ chế “nội luật hoá” như Nghị quyết 48-NQ/TW của Bộ Chính trị (khoá IX) chủ trương. Thực tế hiện nay cho thấy, để thực hiện tốt "nội luật hoá" cần phải có sự phối hợp và kết nối trách nhiệm giữa cơ quan có thẩm quyền ký kết, gia nhập, phê chuẩn điều ước quốc tế với cơ quan có trách nhiệm "nội luật hoá". Mặt khác, cần thực hiện triệt để quy định tại Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế (Luật số 41/2005/QH11 ngày 14/6/2005) về việc áp dụng trực tiếp một phần hay toàn bộ các điều khoản của điều ước mà Việt Nam là thành viên trong trường hợp các điều khoản này đã được nêu chi tiết và rõ ràng cho việc thực hiện.

[1]ChiÕn l­îc x©y dùng vµ hoµn thiÖn hÖ thèng ph¸p luËt ViÖt Nam ®Õn n¨m 2010, ®Þnh h­íng ®Õn n¨m 2020, Nxb T­ ph¸p, Hµ Néi, 2007, tr 33.

(Bài viết đăng trên TCNCLP số 107, tháng 10/2007)

PGS, TS Lê Văn Hòe
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Bổ sung địa vị pháp lý của Kiểm toán Nhà nước và Tổng Kiểm toán Nhà nước trong Hiến pháp (15/01/2013)
Cơ chế kiểm soát hoạt động tư pháp - những vấn đề đang đặt ra và phương hướng đổi mới (15/01/2013)
Bàn thêm về vấn đề sửa đổi Hiến pháp 1992 nhìn từ nguyên tắc chủ quyền nhân dân (11/10/2012)
Những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện về điều kiện hoạt động của đại biểu Quốc hội (20/02/2012)
Góp bàn về Sửa đổi Hiến pháp ở Việt Nam (23/09/2011)
Lại bàn về bài học từ Hiến pháp 1946 (22/09/2011)
Quy trình sửa đổi, bổ sung hiến pháp và sự lựa chọn cho Việt Nam trong bối cảnh hiện nay (19/09/2011)
Lại bàn về bài học từ Hiến pháp 1946 (22/09/2011)
3.jpg
Đồng chí Nguyễn Đình Quyền, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc UBTVQH và ông Rhee, Ik Hyeon, Viện trưởng Viện Nghiên cứu pháp luật thuộc Chính phủ Hàn Quốc ký thỏa thuận hợp tác giữa hai cơ quan nghiên cứu tại Hà Nội, ngày 7/6/2018
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Kinh nghiệm các nước về thực thi pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Hoàn thiện chương trình bồi dưỡng cán bộ, công chức hiện nay

Thông tin trên mạng và hệ thống hóa các loại hình thông tin trên mạng

Hoàn thiện các quy định của Luật Thuơng mại năm 2005 để đảm bảo sự thống nhất với Bộ Luật Dân sự năm 2015

Quyền được tiếp cận thông tin và quyền bất khả xâm phạm về cuộc sống riêng tư

Vai trò của Quốc hội trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật nhằm mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc

Cần luật hóa trách nhiệm giải trình của trường đại học công lập

Bàn về việc thành lập cơ quan chuyên trách phòng, chống tham nhũng ở nước ta

Một số vấn đề về thời điểm đặc xá

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân