Xây dựng luật, pháp lệnh theo chương trình, kế hoạch là một trong những đặc thù trong hoạt động lập pháp ở nước ta. Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được Quốc hội thông qua cho từng nhiệm kỳ và từng năm là cơ sở để Quốc hội tiến hành công tác xây dựng pháp luật, tạo ra sự chủ động trong hoạt động của các chủ thể trong tham gia hoạt động lập pháp và đưa hoạt động lập pháp của nước ta đi vào nề nếp. Tuy nhiên, thực tế hoạt động lập pháp trong thời gian qua cho thấy, việc thực hiện các chương trình còn nhiều hạn chế. Các chương trình ít khi được hoàn thành đúng dự định và thường xuyên bị điều chỉnh, thay đổi. Thực trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó việc lập Chương trình còn thiếu cơ sở khoa học là một trong những nguyên nhân chủ yếu. Bài viết tập trung vào việc nghiên cứu đề xuất những tiêu chí mang tính chất như những công cụ để xem xét, đánh giá tính khả thi của các dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, góp phần hỗ trợ các đại biểu Quốc hội trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình.
1. Việc thực hiện chương trình lập pháp trong thời gian qua
Trong những năm qua, thông qua việc thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, công tác lập pháp của nước ta đã đạt được những kết quả rất đáng ghi nhận. Số lượng các dự án luật, pháp lệnh được ban hành ngày càng nhiều, Chương trình năm sau thường có số lượng dự án được thông qua cao hơn năm trước. Chất lượng các dự án luật, pháp lệnh ngày càng được cải thiện do Chương trình đã tạo nên tính chủ động nhất định cho các cơ quan có liên quan. Song, bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh còn có những hạn chế nhất định.
1.1. Các chương trình xây dựng luật, pháp lệnh thường không được hoàn thành đúng dự định
Thực tế hoạt động lập pháp kể từ khi có Kế hoạch xây dựng luật, pháp lệnh từ năm 1988 và đến nay là Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh cho thấy, các chương trình lập pháp thường không được hoàn thành theo đúng kế hoạch. Theo thống kê trong sáu tháng đầu năm 1988, kết quả thực hiện dự kiến Kế hoạch của Hội đồng Nhà nước là rất thấp, chỉ 2/13 dự án luật và 1/19 dự án pháp lệnh (1). Đến năm 1990, công tác lập pháp của Quốc hội đã có nhiều tiến bộ, Quốc hội và Hội đồng Nhà nước đã ban hành được gần 2/3 tổng số dự án so với kế hoạch đã đề ra (2). ở thời điểm năm 1991, kết quả của công tác này đạt trên dưới 50%(3).
Trong những năm gần đây, Báo cáo công tác nhiệm kỳ Quốc hội khóa X đã nhận xét: “Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh còn thiếu tính khả thi; chương trình hàng năm và cả nhiệm kỳ mới thực hiện được khoảng 60% - 70% số dự án” (4).
Trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá XI, Quốc hội đã thực hiện nhiều biện pháp quyết liệt để thay đổi cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động nhằm nâng cao tốc độ xây dựng pháp luật, nhưng về cơ bản, các Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh vẫn không được hoàn thành theo đúng dự kiến.
1.2. Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh còn thiếu tính ổn định, hay bị điều chỉnh
Ngoài việc Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh không được thực hiện đúng theo dự định, số lượng các lần điều chỉnh chương trình còn có xu hướng tăng lên trong thời gian gần đây. Riêng trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XI đã có bốn lần các Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm được sửa đổi, bổ sung. Chỉ riêng trong năm 2005, Quốc hội đã hai lần ban hành nghị quyết điều chỉnh Chương trình của năm. Điều tương tự cũng diễn ra trong năm 2007. Điều này, ngoài việc làm ảnh hưởng tới các ý nghĩa tích cực của Chương trình lập pháp là tạo ra sự ổn định và chủ động của công tác lập pháp, còn làm tăng thêm chi phí cho hoạt động lập pháp. Mặc dù trong nhiều trường hợp, việc thay đổi Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh là hoàn toàn cần thiết để đáp ứng các đòi hỏi của đời sống kinh tế, xã hội, nhưng xét ở một góc độ nào đó, sự thay đổi Chương trình cũng cho thấy công tác kế hoạch xây dựng luật, pháp lệnh của chúng ta còn có những hạn chế nhất định và chưa phát huy được các ý nghĩa tích cực của Chương trình.
Ngoài ra, thực tế hoạt động lập pháp của Quốc hội còn cho thấy có hiện tượng “gối đầu” các dự án tồn đọng trong các Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh. Đó là trường hợp những dự án chưa được xem xét, thông qua trong năm trước, nhiệm kỳ trước đương nhiên được đưa vào Chương trình của năm sau, của nhiệm kỳ sau. Chình vì vậy, đã có những dự án mặc dù không được chuẩn bị kỹ, soạn thảo kỹ trong các nhiệm kỳ nhưng vẫn tồn tại dai dẳng trong Chương trình, kéo dài thời gian soạn thảo của các văn bản. Ví dụ điển hình nhất là dự án Luật Thanh niên. Dự án Luật này được bắt đầu soạn thảo vào năm 1983, sau đó được đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh từ năm 1998 nhưng mãi đến năm 2005 mới được xem xét, thông qua. Hay dự án Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo được đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2000, được giữ trong Chương trình các năm 2001, 2002, 2003, 2004 và phải trải qua nhiều phiên họp, ủy ban thường vụ Quốc hội mới thông qua được Pháp lệnh này (5).
1.3. Việc thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiều khi còn chú ý nhiều đến số lượng mà chưa tập trung vào chất lượng của dự án
Nghị quyết về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh thường là một danh sách dài các dự án dự kiến sẽ được Quốc hội xem xét thông qua vào từng kỳ họp, từng năm nhất định. Như vậy, có thể thấy Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh không xác định rõ thứ tự ưu tiên dành cho hoạt động lập pháp mà chỉ là những chỉ tiêu, kế hoạch về mặt số lượng buộc hoạt động lập pháp phải hoàn thành trong những thời hạn nhất định. Điều này đã dẫn đến tình trạng hoạt động lập pháp trong thời gian gần đây có hiện tượng cố gắng hoàn thành các chỉ tiêu, kế hoạch đề ra mà chưa tập trung vào chất lượng, có thứ tự ưu tiên đối với các dự án trọng điểm, có tính chất quan trọng đối với đời sống kinh tế, xã hội.
Tình trạng này được thể hiện rõ qua nhiều đánh giá của các đại biểu Quốc hội. Trong buổi thảo luận chuẩn bị cho chương trình lập pháp năm 2004, đại biểu Nguyễn Thị Vân Lan đã lo lắng nhận xét: “Chúng ta thấy Quốc hội đang chạy theo số lượng...”. Điều này cũng được nhiều đại biểu khác chia sẻ. Đại biểu Nguyễn Mạnh Cường tỏ rõ sự phân vân của mình khi cho rằng: “Chúng ta cứ chạy theo số lượng, nhưng con người, vật chất chỉ có đến vậy thì có nên đặt số lượng lên hàng đầu?”(6).
Minh chứng cho thực trạng này có thể thấy, trong thời gian qua, nhiều văn bản luật, pháp lệnh được ban hành thường quy định chung chung, khó áp dụng trực tiếp trong cuộc sống hoặc muốn áp dụng thì phải cần đến sự hướng dẫn của các cơ quan, bộ, ngành hữu quan. Chính yếu tố này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của các dự án luật, pháp lệnh, đặc biệt ảnh hưởng đến cách hiểu cũng như cách vận dụng từng nội dung cụ thể của các dự án vào cuộc sống. Ví dụ như trường hợp Pháp lệnh người cao tuổi có quy định “Người nào từ 90 tuổi trở lên nếu không có lương hưu và các khoản trợ cấp xã hội khác được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng từ nguồn ngân sách địa phương”. Sau đó, để thi hành Pháp lệnh này trên thực tế, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 16/TT-BLDTBXH ngày 9/12/2002 hướng dẫn với nội dung: ngoài những điều kiện đã được quy định trong Pháp lệnh, người cao tuổi đó còn phải bổ sung điều kiện nữa đó là không có thu nhập để đảm bảo cuộc sống thì được xem xét hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng tại cộng đồng tối thiểu bằng 45.000 đ/người /tháng. Như vậy, để thực hiện quy định của Pháp lệnh trên thực tế, Thông tư hướng dẫn đã phải thu hẹp đối tượng được thụ hưởng chính sách so với nội dung mà ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành trước đó (7).
2. Các nguyên nhân
Thực trạng việc thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh như trình bày ở trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau. Chẳng hạn, điều kiện kinh tế, xã hội nước ta đang trong thời kỳ chuyển đổi và phát triển nhanh chóng, các mối quan hệ xã hội chưa có sự ổn định, do vậy việc lập Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh khó theo sát được các yêu cầu của cuộc sống. Bên cạnh đó, nền lập pháp nước ta có thời gian phát triển chưa lâu, còn thiếu kinh nghiệm nên trong hoạt động soạn thảo, xây dựng pháp luật còn gặp nhiều khó khăn, dẫn đến nhiều khi còn chậm trễ trong việc thực hiện kế hoạch lập pháp. Cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội nước ta chưa hoàn thiện, còn một số hạn chế trong năng lực lập pháp của Quốc hội. Chính điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện các Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội (8).
Chúng tôi không đi sâu phân tích tất cả các nguyên nhân có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội mà chỉ xin phân tích những nguyên nhân có tác động đến quá trình lập Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh. Bởi đây là khâu quan trọng nhất, có tính quyết định đến việc thực hiện chương trình vì nếu Chương trình được xây dựng hợp lý, phù hợp với năng lực thực tế của các cơ quan soạn thảo và của Quốc hội thì việc thực hiện Chương trình sẽ dễ dàng, thuận lợi hơn.
Việc lập Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh chưa phù hợp với điều kiện của hoạt động lập pháp ở nước ta dẫn đến tính khả thi thấp xuất phát từ một số nguyên nhân sau đây:
2.1. Thiếu một Chiến lược lập pháp dài hạn
Trước đây, do chúng ta chưa có một Chiến lược lập pháp dài hạn, nên các Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh thường bị thay đổi và chắp vá, cũng như thiếu sự định hướng trong ưu tiên xây dựng dự án nào trước, dự án nào sau (9). Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng Quốc hội thường phải xem xét để sửa đổi, bổ sung Chương trình để ban hành các văn bản phát sinh theo nhu cầu của quá trình quản lý đất nước ở từng thời kỳ. Hiện tượng này diễn ra khá phổ biến và có tính thường xuyên ở các kỳ họp của Quốc hội trong những năm vừa qua.
2.2. Việc lập đề xuất Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh còn thiếu cơ sở khoa học
Thực tế hoạt động lập Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trong thời gian vừa qua cho thấy, các chủ thể có quyền đề xuất các dự án vào Chương trình xây dựng luật pháp lệnh thường cố gắng đưa tên của dự án vào Chương trình để cho kịp với kỳ hạn thông qua chương trình mặc dù chưa có đủ các tài liệu định hướng, lập luận kèm theo cho dự án của mình. Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ Quốc hội khóa X đã nhận xét: “Một số cơ quan trình dự án chỉ mới chú ý đến yêu cầu lập pháp của ngành mình [mà] chưa tổng kết đầy đủ thực tiễn để thông tin tới đại biểu Quốc hội, chưa tính hết khả năng chuẩn bị dự án và việc triển khai thực hiện trong thực tế” (10). Chính vì vậy, trong thời gian vừa qua đã có tình trạng có những dự án luật đã được đưa vào chương trình nhưng vẫn chưa có dự thảo hoàn chỉnh để thực hiện các công đoạn tiếp theo. Chẳng hạn, trong Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2004, một số dự án luật như Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, Luật Thuế sử dụng đất, Luật Công an nhân dân (11) được cơ quan trình xin đưa ra khỏi Chương trình vì không chuẩn bị kịp hoặc chưa xác định rõ nội dung chủ yếu, phạm vi, đối tượng điều chỉnh... (12).
Lý do này cũng đã tạo ra tâm lý mong muốn có những Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh đồ sộ nhưng không tính đến tính khả thi của Chương trình. Các bộ, ngành đều mong muốn có luật, pháp lệnh để quản lý bằng pháp luật các lĩnh vực thuộc phạm vi trách nhiệm của mình. Điều này đã làm cho Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trở nên quá tải (13). Trong phiên thảo luận về công tác lập pháp trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa X, đại biểu Vũ Mạnh Kha cũng đã nhận xét: “Chương trình [xây dựng luật, pháp lệnh] được xây dựng theo ý muốn mà không căn cứ vào khả năng xây dựng luật của các đơn vị được giao” (14).
Hơn thế nữa, do thiếu căn cứ khoa học nên việc sắp xếp thứ tự ưu tiên trong các Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh còn chưa rõ và chưa có tính thuyết phục cao. Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ Quốc hội khóa X đã kết luận: “việc xem xét, lựa chọn, sắp xếp thứ tự ưu tiên một số dự án để đưa vào Chương trình chưa hợp lý, sát thực; có dự án luật, pháp lệnh rất cần thiết cho cuộc sống lại không được đưa vào Chương trình” (15). Thậm chí, có những văn bản được đưa vào Chương trình, được xem xét, thông qua nhưng không thật sự cần thiết, không có ý nghĩa trong đời sống xã hội, gây ra tình trạng lãng phí về mặt tài chính, thời gian, nhân lực (16). Tình trạng này đã dẫn đến việc chậm ban hành những văn bản luật cần thiết. Điển hình như dự án Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa X. Mặc dù đây là một dự án luật có ý nghĩa lớn đối với hoạt động của Quốc hội và được nhân dân mong mỏi nhưng do Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh không xác định rõ vị trí ưu tiên nên dự án luật này chưa được thông qua trong nhiệm kỳ khóa X. Nhận xét về vấn đề này, vào thời điểm đó, có đại biểu Quốc hội đã nói: “Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội thì vẫn chưa thông qua được nhưng có những luật chưa thật cấp thiết lại được đưa ra thông qua, như vậy, việc thông qua luật phụ thuộc vào việc chuẩn bị chứ không phải phụ thuộc vào nhu cầu, sự cần thiết của các luật đó với Quốc hội cũng như đối với cả nước” (17).
2.3. Việc xem xét, thảo luận Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiều khi còn chưa hiệu quả
Thực tế hoạt động xem xét, thông qua Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh cho thấy, Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội vẫn còn dễ dãi trong việc chấp nhận đưa tên các dự án luật, pháp lệnh vào Chương trình. Phân tích về vấn đề này, Chủ nhiệm ủy ban Pháp luật của Quốc hội khóa XI đã phân tích: “Chúng ta cứ phải tập hợp tất cả các đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; sau đó hiệp thương, không có sự phân tích lý lẽ, đánh giá cơ sở, luận chứng khoa học, kỹ thuật và thời gian tiến hành. Ví dụ như Pháp lệnh Công an xã, có ý kiến đề nghị đưa vào chương trình mà ý kiến đó là của các đồng chí có trọng trách. Sau đó, tổ chức soạn thảo một thời gian dài nhưng cuối cùng lại quyết định không ban hành dự án đó, làm chúng ta tốn rất nhiều công sức vào việc xây dựng pháp lệnh đó” (18).
Điều này thể hiện rõ trong quá trình Quốc hội xem xét, thảo luận thông qua Nghị quyết Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh. Khác với việc xem xét, thông qua các dự án luật, thời gian Quốc hội dành để thảo luận các Nghị quyết về Chương trình thường chỉ là một buổi và trong thời gian đó cũng có rất ít ý kiến của các đại biểu Quốc hội tham gia. Chẳng hạn, trong việc xem xét, thông qua Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của năm 2005, Quốc hội chỉ dành một buổi thảo luận ở tổ và một buổi thảo luận ở Hội trường và tại phiên thảo luận ở Hội trường không có đại biểu Quốc hội nào có ý kiến về dự kiến chương trình do ủy ban thường vụ Quốc hội trình ra (19). Tình trạng tương tự cũng lặp lại khi xem xét, thông qua Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2006. Chính vì vậy, đại biểu Quốc hội Trần Văn Khánh đã từng nhận xét trong việc xem xét, thông qua Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, dường như “cứ ngành nào đề nghị chúng ta cũng đưa vào [chương trình] nhưng cuối cùng thì kết quả đạt được thường chỉ là 50% - 60%”(20).
2.4. Các đại biểu Quốc hội còn thiếu thông tin, công cụ trong việc xem xét, đánh giá Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh
Có thể nói đây là một trong những nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến tình trạng xây dựng các Chương trình lập pháp của Quốc hội thiếu thực tế, thiếu tính khả thi bởi vì khi không có đầy đủ thông tin, công cụ để xem xét, các đại biểu Quốc hội thường không có đủ cơ sở để thảo luận, quyết định và nhiều khi dẫn đến tâm lý dễ dàng thông qua các Chương trình.
Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (Khoản 2, Điều 22) thì các chủ thể có sáng kiến đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh phải cung cấp các tài liệu nêu rõ: 1) Sự cần thiết ban hành văn bản; 2) Đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản; 3) Những quan điểm, nội dung chính của văn bản; 4) Dự báo tác động kinh tế, xã hội; 5) Dự kiến nguồn lực bảo đảm thi hành và điều kiện bảo đảm cho việc soạn thảo văn bản.
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 có bổ sung thêm yêu cầu về thời gian dự kiến đề nghị Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua và thay thế nội dung Dự báo tác động kinh tế, xã hội (điểm 4 nói trên) bằng Báo cáo đánh giá tác động sơ bộ của văn bản.
Tuy nhiên, trên thực tế hầu như không có cơ quan nào thực hiện đầy đủ các yêu cầu này, nhất là các thông tin về dự báo tác động kinh tế, xã hội, dự kiến nguồn lực bảo đảm thi hành văn bản (21). Chẳng hạn, trong việc xem xét, thông qua Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XI, các đại biểu Quốc hội chỉ được tiếp cận với Tờ trình Quốc hội về dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khoá XI (2002-2007) và năm 2003; Phụ lục 1 về Danh sách luật, pháp lệnh, nghị quyết có trong Dự kiến Chương trình, Phụ lục 2 về Thông tin tóm tắt về các dự án có trong dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; Phụ lục 3 về Danh sách các dự án đã được Quốc hội thông qua trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa X; và Phụ lục 4 về Danh sách các dự án chưa được Quốc hội thông qua trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa X. Đáng chú ý, những thông tin tóm tắt về các dự án chỉ dừng lại ở mức độ rất chung, chỉ nêu mục đích chung của dự án và một số thông tin cơ bản về nội dung dự kiến của Dự án. Điều này đã đặt các đại biểu Quốc hội vào thế khó vì đại biểu không thể biết thực trạng của các quan hệ xã hội mà dự án luật, pháp lệnh sẽ điều chỉnh, việc ra đời của luật, pháp lệnh sẽ có ảnh hưởng đến thực trạng đó như thế nào và bằng các phương pháp, chính sách ra sao để quyết định liệu có nên đưa dự án đó vào Chương trình hay không. Chính vì thế, đã và đang có tình trạng là khi dự án được đưa vào Chương trình thì chỉ là dự án luật sửa đổi, bổ sung và đại biểu Quốc hội chấp nhận điều này vì không có đủ thông tin, nhưng khi triển khai thực hiện Chương trình thì lại đề nghị nên xây dựng văn bản luật, pháp lệnh mới thay thế cho văn bản cũ hoặc sửa đổi một cách cơ bản. Ví dụ điển hình cho trường hợp này là dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục trong năm 2004 và gần đây hơn là các tranh luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội, dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ.
(Xem tiếp kỳ sau)
(1) Văn phòng Quốc hội và Hội đồng nhà nước, “Một số ý kiến về việc điều chỉnh Chương trình xây dựng pháp luật từ nay đến hết năm 1988”, tr.2.
(2) Phát biểu của Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà nước về dự kiến công tác xây dựng pháp luật năm 1991, tr.3.
(3) Phát biểu của Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà nước về Chương trình xây dựng pháp luật từ nay đến hết nhiệm kỳ Quốc hội khóa VIII, tr.1.
(4) Kỷ yếu Tổng kết nhiệm kỳ Quốc hội khoá X, tr.5.
(5) Xem thêm: Đặng Văn Chiến, “Quyền sáng kiến pháp luật và việc chuẩn bị Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội” trong Ban công tác lập pháp, Dự án cải cách pháp luật, Kỷ yếu Hội thảo: Sáng kiến pháp luật và việc chuẩn bị Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, Hải Phòng, 30/9-1/10/2004 (Hà Nội, 2004).
(6) Xem Bích Ngọc, Lan Anh, “Quốc hội làm luật để đón đầu WTO” (2003), Vietnamnet 08:31’ 08/11/2003 (GMT+7) tại http://www.vnn.vn/thoisuquochoi/2003/11/35868/ truy cập ngày 21/07/2006.
(7) Nguồn dẫn: như trên.
(8) Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ Quốc hội khóa X khi nhận xét về một số hạn chế trong công tác lập pháp của Quốc hội nhiệm kỳ đó đã cho rằng: “Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội chưa hoàn toàn chủ động mà còn phụ thuộc nhiều vào cơ quan trình dự án, nên còn gặp khó khăn, lúng túng, bị động trong quá trình lập pháp”.
(9) Gần đây, mặc dù ngày 24/5/2005, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược phát triển và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 nhưng đây là một văn bản còn mới, chưa có điều kiện để kiểm chứng và đánh giá trên thực tế.
(10) Văn phòng Quốc hội, Kỷ yếu Tổng kết nhiệm kỳ Quốc hội khóa X, (tài liệu lưu hành nội bộ, 2002), tr. 5.
(11) Xem ủy ban thường vụ Quốc hội, “Phụ lục Báo cáo về tình hình thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2004” kèm theo Tờ trình Quốc hội số 278/UBTVQH11 ngày 26/10/2004 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2005.
(12) Để có các thông tin cụ thể về các dự án này, có thể tham khảo: TS. Vũ Đức Khiển, “Việc thẩm tra Dự kiến của Chính phủ về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; Đề nghị của các chủ thể khác về xây dựng luật, pháp lệnh” trong Ban công tác lập pháp, Dự án cải cách pháp luật, Kỷ yếu Hội thảo: Sáng kiến pháp luật và việc chuẩn bị Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, Hải Phòng, 30/9-1/10/2004 (Hà Nội, 2004), tr. 79-85.
(13) Xem Hoàng Văn Tú, “Yêu cầu và nội dung của Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh” trong Ban công tác lập pháp, Dự án cải cách pháp luật, Kỷ yếu Hội thảo: Sáng kiến pháp luật và việc chuẩn bị Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, Hải Phòng, 30/9-1/10/2004 (Hà Nội, 2004), tr. 68.
(14) Biên bản tập hợp các ý kiến thảo luận tại Hội trường ngày 20/3/2002.
(15) Văn phòng Quốc hội, Kỷ yếu Tổng kết nhiệm kỳ Quốc hội khóa X, (tài liệu lưu hành nội bộ, 2002), tr. 5..
(16) Bộ Tư pháp, Bình luận Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (NXB Tư pháp, Hà Nội, 2005), tr. 145.
(17) Biên bản tập hợp ý kiến thảo luận tại Hội trường, phiên họp ngày 20/3/2002.
(18) Vũ Đức Khiển, “Đổi mới công tác xây dựng pháp luật”, Nhân dân, số (16217) 1999.
(19) Xem Biên bản tóm tắt kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XI trong Kỷ yếu của Quốc hội khóa XI - Kỳ họp thứ 6, (Văn phòng Quốc hội, tài liệu lưu hành nội bộ, 2005), Bản tập hợp ý kiến thảo luận tại Hội trường phiên họp ngày 25/11/ 2004.
(20) Bản tập hợp ý kiến thảo luận tại Hội trường, phiên họp ngày 20/3/2002.
(21) Bộ Tư pháp, Bình luận Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Nxb Tư pháp, Hµ Néi, 2005), tr.148.
(Nghiên cứu lập pháp số 6 (143) tháng 3/2009)