Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Chủ nhật, 22/07/2018, 08:03(GMT+7)
 
Tổ chức bộ máy nhà nước

Quy định của pháp luật về chức năng giám sát của Quốc hội
Trong bộ máy nhà nước nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quốc hội được xác định là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, đồng thời là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Bên cạnh thẩm quyền lập hiến, lập pháp và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước thì Quốc hội nước ta còn có thẩm quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Có thể nói, đây là một chức năng cơ bản và quan trọng của Quốc hội đã được ghi nhận ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên và ngày càng được hoàn thiện một cách cụ thể, đầy đủ hơn.

Trong bộ máy nhà nước nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quốc hội được xác định là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, đồng thời là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Bên cạnh thẩm quyền lập hiến, lập pháp và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước thì Quốc hội nước ta còn có thẩm quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Có thể nói, đây là một chức năng cơ bản và quan trọng của Quốc hội đã được ghi nhận ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên và ngày càng được hoàn thiện một cách cụ thể, đầy đủ hơn.

1. Quan niệm về chức năng giám sát tối cao của Quốc hội

Hiến pháp 1946 là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên quy định thẩm quyền này của Quốc hội. Mặc dù không dùng thuật ngữ “giám sát”, nhưng các quy định về việc Nghị viện và Ban thường vụ Nghị viện biểu quyết thông qua các sắc luật của Chính phủ đã thể hiện Nghị viện không chỉ giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong việc ban hành văn bản pháp luật của Chính phủ, mà còn kiểm tra hoạt động của Chính phủ (1).

Kế thừa và phát triển quy định trên của Hiến pháp 1946, các bản Hiến pháp năm 1959 (2), 1980(3) và 1992 đều đã ghi nhận chức năng này theo hướng chi tiết và đầy đủ hơn. Điều 83 Hiến pháp 1992 quy định: “…Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước”. Trên cơ sở quy định này của Hiến pháp, nhằm cụ thể hoá hơn nữa về cơ sở pháp lý và nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả của chức năng này, ngày 17/6/2003, Quốc hội nước ta đã chính thức thông qua Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội.

Như vậy, có thể nói, giám sát tối cao là một trong những chức năng cơ bản và chủ yếu của Quốc hội; cùng với lịch sử phát triển của Quốc hội Việt Nam, chức năng này đã, đang và sẽ tiếp tục được hoàn thiện cả về lý luận và thực tiễn để ngày càng phát huy hiệu quả của nó trong việc bảo đảm cho Hiến pháp, luật được thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất trong cả nước, trước hết là từ các cơ quan nhà nước; bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; làm cho bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; bảo đảm tôn trọng, phát huy quyền dân chủ của công dân, đồng thời duy trì trật tự nhà nước, trật tự xã hội và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.

Tuy nhiên, cho đến nay, để hiểu một cách đầy đủ về bản chất chức năng giám sát tối cao của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước thì thực tiễn nghiên cứu khoa học, cũng như thực tiễn hoạt động của Quốc hội hiện vẫn còn tồn tại các quan niệm khác nhau:

- Quan niệm thứ nhất cho rằng, thẩm quyền giám sát tối cao phải được hiểu theo nghĩa rộng, tức là Quốc hội có quyền giám sát đối với tất cả các hoạt động của mọi cơ quan nhà nước (toàn bộ hệ thống cơ quan hành pháp và tư pháp được tổ chức từ trung ương đến địa phương) và hoạt động giám sát này là cao nhất về cả thẩm quyền và giá trị pháp lý.

Quan điểm này được xây dựng trên 3 cơ sở sau: i) về bản chất nhà nước, Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; ii) về vị trí, vai trò, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, đồng thời là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất; iii) về nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, Nhà nước ta được tổ chức theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan nhà nước đối với việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Theo 3 cơ sở trên thì do cử tri cả nước đã trao cho Quốc hội vị trí là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất nên quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước phải do Quốc hội thực hiện như là một bộ phận không thể tách rời của quyền lực nhà nước thống nhất; còn do thực hiện nguyên tắc phân công, phân nhiệm giữa các cơ quan nhà nước, nên Quốc hội chỉ giữ lại cho mình quyền giám sát tối cao và thông qua hoạt động lập pháp thì Quốc hội đã uỷ quyền cho các cơ quan khác thực hiện một phần quyền giám sát của mình. Cụ thể, Chính phủ thực hiện việc quản lý nhà nước thông qua hệ thống cơ quan Thanh tra; Viện Kiểm sát nhân dân tối cao kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng; Toà án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của các Toà án nhân dân địa phương và các Toà án quân sự, hay nói một cách khác là giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong hoạt động xét xử của các Toà án cấp dưới.

- Quan niệm thứ hai cho rằng, Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước được hiểu là Quốc hội chỉ giám sát các cơ quan nhà nước ở trung ương như Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Quan niệm này xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội là bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm, phê chuẩn các chức danh cao cấp trong bộ máy nhà nước và quyết định thành lập, bãi bỏ các cơ quan trên. Do đó, nó là thẩm quyền riêng của Quốc hội được gắn với quyền lực lập pháp, có tính chất, đặc điểm cũng như phạm vi, đối tượng giám sát hoàn toàn khác so với các cơ quan khác của nhà nước.

Tuy còn ý kiến khác nhau về bản chất của quyền giám sát tối cao của Quốc hội, nhưng về cơ bản, các ý kiến đều thống nhất về nội hàm của khái niệm này sẽ bao gồm:

- Giám sát tức là theo dõi, xem xét, kiểm tra và nhận định về một việc làm nào đó đúng hay sai với những điều đã quy định.

- Giám sát luôn gắn với một chủ thể nhất định. Giám sát luôn gắn với đối tượng cụ thể (giám sát ai và giám sát cái gì).

- Giám sát được tiến hành trên cơ sở những quy định cụ thể.

- Giám sát là hoạt động có mục đích của một chủ thể nhất định.

Trên cơ sở đó, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan cũng đã quy định về thẩm quyền này với các nội dung cụ thể, đó là:

2. Các quy định của pháp luật hiện hành về chức năng giám sát tối cao của Quốc hội

Tìm hiểu cơ sở pháp lý của hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội qua nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật như: Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội cho thấy, hoạt động giám sát tối cao được thể hiện qua một số nội dung sau đây:

2.1. Về nội dung, đối tượng giám sát

Khác với thẩm quyền giám sát của Nghị viện nhiều nước trên thế giới (thường chỉ tập trung giám sát đối với hoạt động của nhánh quyền lực hành pháp nhằm kiểm soát và tạo sự đối trọng quyền lực nhà nước), thẩm quyền giám sát tối cao của Quốc hội nước ta có phạm vi rộng hơn về cả nội dung và đối tượng. Theo đó, nội dung và đối tượng quyền giám sát tối cao của Quốc hội đối với hoạt động của toàn bộ hoạt động của cơ quan nhà nước bao hàm hoạt động theo dõi tính hợp hiến và hợp pháp đối với nội dung các văn bản do các cơ quan nhà nước chịu sự giám sát trực tiếp của Quốc hội ban hành, cũng như tính hợp hiến, hợp pháp trong hoạt động thực tiễn của các cơ quan nhà nước đó.

2.2. Về thẩm quyền giám sát - chủ thể thực hiện quyền giám sát

Theo quy định tại Điều 1 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội, “Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao của mình… trên cơ sở hoạt động giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội. Thẩm quyền giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội”. Để cụ thể hoá hơn nữa quy định này, Điều 3 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội đã quy định về thẩm quyền giám sát đối với từng chủ thể, cụ thể như sau:

- Quốc hội: i) giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội đối với hoạt động của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; ii) giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

- Uỷ ban thường vụ Quốc hội: i) giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội đối với hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; ii) giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; giúp Quốc hội thực hiện quyền giám sát theo sự phân công của Quốc hội;

- Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội: i) giám sát việc thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội đối với hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; ii) giám sát văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực Hội đồng dân tộc, Uỷ ban phụ trách; iii) giúp Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thực hiện quyền giám sát theo sự phân công của các cơ quan này;

- Đoàn đại biểu Quốc hội: i) tổ chức hoạt động giám sát của Đoàn và tổ chức để đại biểu Quốc hội trong Đoàn giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương; ii) giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; iii) giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; iv) tham gia Đoàn giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội tại địa phương khi có yêu cầu;

- Đại biểu Quốc hội: i) chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; ii) giám sát văn bản quy phạm pháp luật, giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương, giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân.

- Ngoài ra, khi xét thấy cần thiết, Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội tiến hành giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác.

2.3. Về phương thức (công cụ) giám sát; trình tự, thủ tục thực hiện giám sát

Để thực hiện quyền giám sát, Quốc hội Việt Nam cũng như Nghị viện các nước trên thế giới đều có các cách thức tiến hành nhất định để đạt được những mục tiêu giám sát khác nhau. Có thể kể đến như: chất vấn, điều tra, xem xét báo cáo, tổ chức đoàn giám sát, thanh tra nghị viện, ban kiểm toán v.v.. Trên cơ sở pháp luật hiện hành và thực tế thực hiện hoạt động giám sát của Quốc hội nước ta trong những năm qua, có thể thấy quyền giám sát của Quốc hội nước ta được thực hiện dưới một số phương thức sau đây:

* Xem xét báo cáo: Quốc hội giám sát thông qua hoạt động xem xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao (4). Việc nghe và xem xét báo cáo công tác giúp Quốc hội nắm được tình hình hoạt động của các cơ quan này, qua đó tiếp nhận thông tin một cách đầy đủ, kịp thời về tình hình thi hành Hiến pháp và pháp luật trong hoạt động thực tiễn, đồng thời tăng cường trách nhiệm của các cơ quan này trước Quốc hội, trước nhân dân. Đây là hoạt động giám sát quan trọng được Quốc hội thực hiện tại kỳ họp Quốc hội, thể hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Cụ thể:

- Tại kỳ họp cuối năm, Quốc hội xem xét, thảo luận báo cáo công tác hằng năm của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

- Tại kỳ họp cuối nhiệm kỳ, Quốc hội xem xét, thảo luận báo cáo công tác cả nhiệm kỳ của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

- Tại kỳ họp thứ nhất của mỗi khoá Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao báo cáo công tác từ kỳ họp cuối cùng của Quốc hội khoá trước đến kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới.

Để Quốc hội có cơ sở xem xét các báo cáo công tác nói trên, trước khi trình Quốc hội, báo cáo công tác của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải được Hội đồng dân tộc hoặc Uỷ ban của Quốc hội thẩm tra theo sự phân công của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét báo cáo công tác của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và có thể yêu cầu báo cáo về những vấn đề khác khi xét thấy cần thiết, trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội (5) Ngoài ra, Uỷ ban thường vụ Quốc hội còn thực hiện xem xét báo cáo của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; xem xét báo cáo của Đoàn giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và xem xét các báo cáo khác của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và của đại biểu Quốc hội, cơ quan, tổ chức hữu quan.

Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội có nhiệm vụ thẩm tra báo cáo công tác của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thuộc lĩnh vực hoạt động của mình hoặc theo sự phân công của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Trong trường hợp cần thiết, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội có quyền yêu cầu Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao báo cáo về hoạt động thuộc lĩnh vực Hội đồng, Uỷ ban phụ trách (6).

Bên cạnh đó, Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội còn trực tiếp xem xét báo cáo của Đoàn giám sát của Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội để tiến hành nghiên cứu, xem xét sâu, cụ thể hơn về các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng, Uỷ ban. Đây là một trong các hình thức giám sát được Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội thường xuyên thực hiện.

Trình tự, thủ tục thực hiện việc xem xét báo cáo được thực hiện tùy theo từng chủ thể, từng đối tượng giám sát và đã được quy định tương đối cụ thể tại các văn bản quy phạm pháp luật. Nhìn chung, việc xem xét các báo cáo được thực hiện với các bước cơ bản sau đây:

- Người đứng đầu cơ quan có báo cáo trình bày báo cáo;

- Đại diện cơ quan thẩm tra trình bày báo cáo;

- Đại diện cơ quan, tổ chức được mời tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;

- Tiến hành thảo luận, trao đổi;

- Chủ tọa phiên họp kết luận;

- Ra văn bản về công tác của cơ quan đã báo cáo khi xét thấy cần thiết.

* Giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật: Với thẩm quyền huỷ bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành các văn bản trái với quy định của Hiến pháp, luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, có thể nói rằng, Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có chức năng rất quan trọng trong việc giám sát ban hành các văn bản pháp luật. Bằng việc thực hiện chức năng này, Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội bảo đảm cho việc thực hiện pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất trong cả nước, bảo đảm thực hiện chức năng là cơ quan lập pháp cao nhất.

Căn cứ vào chủ thể ban hành, hình thức và thứ bậc pháp lý của văn bản quy phạm pháp luật, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội đã quy định thẩm quyền giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật như sau:

+ Quốc hội xem xét văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội. Theo đó, khi phát hiện văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội thì Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, đình chỉ việc thi hành và trình Quốc hội xem xét, quyết định việc bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản đó tại kỳ họp gần nhất; còn đối với văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước thì đại biểu Quốc hội đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước sửa đổi hoặc huỷ bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản đó.

+ Uỷ ban thường vụ Quốc hội tự mình hoặc theo đề nghị của Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội hoặc của đại biểu Quốc hội quyết định xem xét văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội (7).

+ Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo hình thức: i) thường xuyên theo dõi, đôn đốc Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội đúng thời hạn theo quy định của pháp luật. Khi nhận được văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan hữu quan gửi đến, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội có trách nhiệm nghiên cứu, xem xét nội dung văn bản đó. ii) Nếu phát hiện văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung, đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản đó. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu, cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thông báo cho Hội đồng, Uỷ ban biết việc giải quyết; quá thời hạn nói trên mà không trả lời hoặc giải quyết không đáp ứng với yêu cầu thì Hội đồng, Uỷ ban có quyền đề nghị tới cấp có thẩm quyền (Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ v.v..) xem xét, quyết định bãi bỏ hoặc đình chỉ (8).

+ Đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội giám sát văn bản quy phạm pháp luật thông qua việc nghiên cứu, xem xét nội dung văn bản, nếu phát hiện văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới.

Về trình tự, thủ tục trong hoạt động giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật thường được thực hiện theo các bước cơ bản sau đây:

- Chủ thể có thẩm quyền trình bày ý kiến về văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu vi phạm;

- Thảo luận (trong quá trình thảo luận, người đứng đầu cơ quan đã ban hành văn bản quy phạm pháp luật có thể trình bày bổ sung những vấn đề có liên quan);

- Ra quyết định cuối cùng và báo cáo cấp có thẩm quyền (nếu có).

* Chất vấn và trả lời chất vấn: Chất vấn của đại biểu Quốc hội là yêu cầu của đại biểu (với tư cách là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, là người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội) đối với Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (9), buộc người bị chất vấn phải giải thích về những vấn đề mà đại biểu Quốc hội quan tâm, thuộc lĩnh vực hoạt động của cơ quan do người bị chất vấn phụ trách. Những vấn đề đó có thể là những khuyết điểm, tồn tại trong hoạt động của các cơ quan này. Như vậy, chất vấn tuy là quyền của cá nhân từng đại biểu Quốc hội, nhưng khi đại biểu thực hiện quyền này thì có tính chất là một hoạt động giám sát của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Hình thức chất vấn có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện tính công khai, dân chủ trong hoạt động của Quốc hội. Ngoài Hiến pháp năm 1992, thì Luật tổ chức Quốc hội, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội, Nội quy kỳ họp Quốc hội, Quy chế hoạt động của Uỷ ban thường vụ Quốc hội cũng đã quy định về việc chất vấn của đại biểu Quốc hội.

Theo quy định của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội thì việc chất vấn của đại biểu Quốc hội và trả lời chất vấn được thể hiện bằng văn bản hoặc hỏi trực tiếp; được thực hiện tại kỳ họp Quốc hội, phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và chất vấn của đại biểu Quốc hội giữa 2 kỳ họp Quốc hội.

Tại kỳ họp Quốc hội, đại biểu Quốc hội ghi rõ nội dung chất vấn, người bị chất vấn vào phiếu ghi chất vấn và gửi đến Chủ tịch Quốc hội để chuyển đến người bị chất vấn. Đoàn thư ký kỳ họp giúp Chủ tịch Quốc hội tổng hợp các chất vấn của đại biểu Quốc hội để báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự kiến danh sách những người có trách nhiệm trả lời chất vấn tại kỳ họp và báo cáo Quốc hội quyết định. Tại phiên họp Uỷ ban thường vụ Quốc hội, chỉ thực hiện việc trả lời chất vấn đối với những chất vấn đã được Quốc hội quyết định cho trả lời tại phiên họp Uỷ ban thường vụ Quốc hội và những chất vấn khác được gửi tới Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội.

Trình tự, thủ tục của việc chất vấn và trả lời chất vấn được thực hiện theo các bước cơ bản sau đây:

- Chủ toạ nêu vấn đề chất vấn;

- Người bị chất vấn trả lời trực tiếp, đầy đủ nội dung các vấn đề mà đại biểu Quốc hội đã chất vấn và xác định rõ trách nhiệm, biện pháp khắc phục;

- Đại biểu Quốc hội có thể nêu câu hỏi liên quan đến nội dung đã chất vấn để người bị chất vấn trả lời (Đối với trả lời chất vấn tại phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì đại biểu chất vấn có thể được mời tham dự và phát biểu ý kiến; nếu không tham dự thì nội dung trả lời chất vấn, kết quả phiên họp phải được gửi tới đại biểu; nếu đại biểu Quốc hội có chất vấn không đồng ý với nội dung trả lời thì có quyền đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội đưa ra thảo luận tại kỳ họp Quốc hội);

- Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn khi xét thấy cần thiết.

* Tổ chức các Đoàn đi giám sát: Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội thành lập các đoàn giám sát để đi giám sát hoạt động của các cơ quan của Chính phủ, hoạt động của các cơ quan chính quyền địa phương (10). Việc thành lập các đoàn đi giám sát được tiến hành trên cơ sở căn cứ vào chương trình giám sát của các chủ thể có quyền giám sát (giám sát theo định kỳ) hoặc theo yêu cầu của Quốc hội hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan (giám sát đột xuất). Tuỳ theo tính chất, cấp độ của mỗi đoàn giám sát mà thành phần của đoàn giám sát có thể bao gồm: Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, các Uỷ viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, đại diện Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội. Ngoài ra, theo tính chất của lĩnh vực cần giám sát mà trong thành phần đoàn giám sát có thể mời thêm đại diện các cơ quan, tổ chức hữu quan tham gia (ví dụ như đối với các Đoàn đi giám sát hoạt động tư pháp ở địa phương thì có thể mời đại diện Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an... tham gia). Khi tiến hành hoạt động giám sát ở địa phương, thông thường các đoàn giám sát phối hợp với Đoàn đại biểu Quốc hội tại địa phương, Mặt trận Tổ quốc và các cơ quan, tổ chức hữu quan khác tại địa phương.

Để bảo đảm cho hoạt động giám sát có chất lượng, các đoàn giám sát thường chuẩn bị kế hoạch giám sát một cách chi tiết, cụ thể (chương trình giám sát, nội dung, yêu cầu của việc giám sát; thời gian giám sát; các đối tượng giám sát…) và gửi trước xuống địa phương để có sự phối hợp hoạt động. Khi tiến hành giám sát, đoàn giám sát có quyền yêu cầu cơ quan, đơn vị, tổ chức chịu sự giám sát cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến hoạt động giám sát của Đoàn; yêu cầu cơ quan, đơn vị, tổ chức hoặc cá nhân trả lời trực tiếp về vấn đề mà đoàn giám sát quan tâm; được quyền giám sát thực tiễn tại cơ quan, đơn vị, tổ chức nơi Đoàn đến giám sát. Qua việc giám sát, nếu phát hiện có vi phạm pháp luật thì Đoàn yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có hành vi vi phạm pháp luật phải chấm dứt ngay hành vi vi phạm pháp luật của mình và khôi phục lại quyền, lợi ích hợp pháp cho cơ quan, tổ chức, cá nhân, cá nhân bị thiệt hại.

Kết thúc đợt giám sát, đoàn giám sát làm báo cáo kết quả đợt giám sát, trong đó đưa ra các kết luận, kiến nghị, yêu cầu đối với các đối tượng chịu sự giám sát hoặc kiến nghị đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Kết luận giám sát được gửi Uỷ ban thường vụ Quốc hội, cơ quan nhà nước chịu sự giám sát, chính quyền địa phương và các cơ quan, tổ chức hữu quan khác. Trong trường hợp cần thiết, theo đề nghị của đoàn giám sát, Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ra nghị quyết về việc giải quyết. Cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện yêu cầu, trả lời kiến nghị của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

* Xem xét việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân: Khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp, được cụ thể hoá trong Luật Khiếu nại, tố cáo và một số văn bản pháp luật khác nhằm tạo cơ sở pháp lý để công dân, cơ quan, tổ chức thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Trong thời gian qua, việc mở rộng dân chủ và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân luôn được chú trọng. Công tác tiếp công dân, tiếp nhận, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân được tăng cường, việc thực hiện chức năng giám sát giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân ngày càng được Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội quan tâm. Theo quy định của Luật Hoạt động giám sát thì việc xem xét giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân được quy định cụ thể như sau:

Quốc hội xem xét việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân thông qua việc xem xét báo cáo của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về hoạt động giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội; xem xét báo cáo của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo tại kỳ họp cuối năm. Uỷ ban thường vụ Quốc hội tiếp nhận, xem xét việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Việc tiếp nhận khiếu nại, tố cáo của công dân của Uỷ ban thường vụ Quốc hội được Ban dân nguyện thực hiện và chuyển đến Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội theo lĩnh vực phụ trách; trường hợp đơn thư có nội dung liên quan đến nhiều lĩnh vực của Hội động dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội hoặc không thuộc lĩnh vực phụ trách của Hội đồng, Uỷ ban thì Ban dân nguyện giúp Uỷ ban thường vụ Quốc hội xử lý hoặc chuyển đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Việc xem xét giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thực hiện thông qua việc nghe báo cáo định kỳ 6 tháng một lần về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ban dân nguyện và cho ý kiến về những vấn đề cần xem xét, giải quyết. Khi cần thiết, Uỷ ban thường vụ Quốc hội tổ chức Đoàn giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân hoặc giao Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội giám sát và báo cáo kết quả với Uỷ ban thường vụ Quốc hội; chỉ đạo Ban dân nguyện giúp Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong việc giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và định kỳ báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan, tổ chức khác có trách nhiệm nghiên cứu, thực hiện kết luận hoặc yêu cầu của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và báo cáo với Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được kết luận hoặc yêu cầu.

Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tiếp công dân; tiếp nhận, nghiên cứu và xử lý khiếu nại, tố cáo của công dân; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân thuộc lĩnh vực Hội đồng, Uỷ ban phụ trách (11). Khi nhận được khiếu nại, tố cáo của công dân, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội có trách nhiệm tổ chức nghiên cứu, xử lý hoặc chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền để giải quyết. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải xem xét, giải quyết trong thời hạn do pháp luật quy định và phải thông báo về việc giải quyết đến Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày có quyết định giải quyết. Trong trường hợp Hội đồng dân tộc, Uỷ ban không đồng ý với kết quả giải quyết của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thì yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó xem xét, giải quyết. Trong trường hợp cần thiết, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan hoặc người khiếu nại, tố cáo đến trình bày và cung cấp thông tin, tài liệu mà Hội đồng hoặc Uỷ ban quan tâm; tổ chức Đoàn giám sát để xem xét, xác minh về những vấn đề mà Hội đồng, Uỷ ban quan tâm hoặc theo yêu cầu của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội.

Đoàn đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tiếp nhận, xử lý, đôn đốc, theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân (12). Đoàn đại biểu Quốc hội tiếp nhận đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân và chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền để giải quyết. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo có trách nhiệm xem xét, giải quyết; thông báo cho Đoàn đại biểu Quốc hội biết kết quả giải quyết trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày có quyết định giải quyết và trả lời cho công dân biết. Trong trường hợp xét thấy việc giải quyết không thoả đáng, Đoàn đại biểu Quốc hội có quyền gặp người đứng đầu cơ quan, tổ chức hữu quan để tìm hiểu, yêu cầu xem xét lại. Khi cần thiết, Đoàn đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên của cơ quan, tổ chức đó giải quyết. Trong trường hợp cần thiết, Đoàn đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan hoặc người khiếu nại, tố cáo đến trình bày và cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan; xem xét, xác minh những vấn đề mà Đoàn đại biểu Quốc hội quan tâm; tổ chức Đoàn giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội để giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân tại địa phương.

Đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tiếp nhận, xử lý, đôn đốc, theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân (13). Khi nhận được khiếu nại, tố cáo của công dân, đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tổ chức nghiên cứu, trực tiếp hoặc thông qua Đoàn đại biểu Quốc hội kịp thời chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét, giải quyết và thông báo cho người khiếu nại, tố cáo biết. Trường hợp đơn khiếu nại, tố cáo của công dân có ghi gửi đến tất cả đại biểu Quốc hội trong Đoàn thì Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội nơi công dân cư trú chuyển đơn đó đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết. Trường hợp đơn khiếu nại, tố cáo của công dân có ghi gửi đến nhiều đại biểu Quốc hội làm việc trong các cơ quan của Quốc hội thì khiếu nại, tố cáo thuộc lĩnh vực phụ trách của Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội hoặc Ban dân nguyện thì đại biểu Quốc hội là Thường trực Hội đồng, Thường trực Uỷ ban hoặc Trưởng Ban dân nguyện chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét, giải quyết. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khi nhận được khiếu nại, tố cáo của công dân do đại biểu Quốc hội chuyển đến có trách nhiệm xem xét, giải quyết; thông báo cho đại biểu Quốc hội đã chuyển đơn đến biết kết quả giải quyết trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày có quyết định giải quyết và trả lời cho công dân biết. Trong trường hợp xét thấy việc giải quyết khiếu nại, tố cáo không thoả đáng, đại biểu Quốc hội có quyền gặp người đứng đầu cơ quan, tổ chức hữu quan để tìm hiểu, yêu cầu xem xét lại. Khi cần thiết, đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó giải quyết. Trong trường hợp cần thiết, đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan hoặc người khiếu nại, tố cáo đến trình bày và cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan; xem xét, xác minh những vấn đề mà đại biểu Quốc hội quan tâm.

Để bảo đảm điều kiện cho đại biểu Quốc hội tiếp nhận, xem xét việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân thì theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Văn phòng Quốc hội, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, Thư ký Đoàn đại biểu Quốc hội có trách nhiệm cung cấp cho đại biểu Quốc hội thông tin, tư liệu, văn bản quy phạm pháp luật và phục vụ đại biểu Quốc hội tiếp công dân, tiếp nhận, chuyển đơn, đôn đốc, theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Cơ quan, tổ chức nơi đại biểu Quốc hội công tác có trách nhiệm sắp xếp công việc, tạo điều kiện cần thiết cho đại biểu Quốc hội làm nhiệm vụ tiếp công dân, tiếp nhận, chuyển đơn, đôn đốc, theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân.

Ngoài các phương thức trên thì trong khi thực hiện chức năng giám sát, Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội còn sử dụng các phương thức khác như: thành lập uỷ ban lâm thời của Quốc hội; bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn; xem xét việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và tổ chức đoàn công tác để khảo sát, nghiên cứu, nắm tình hình. Tuy nhiên, trên thực tế, các phương thức trên cũng không thật sự phổ biến nên trong phạm vi bài viết này không đi sâu nghiên cứu.

3. Một số kiến nghị

Trên cơ sở các quy định của pháp luật về chức năng giám sát của Quốc hội đã trình bày ở phần trên, trong những năm qua, cùng với đổi mới chung của đất nước và hệ thống chính trị, Quốc hội nước ta cũng có nhiều đổi mới về tổ chức và hoạt động, thực hiện ngày càng tốt hơn chức năng nhiệm vụ của mình. Hoạt động giám sát đã dần đi vào trọng tâm, có nhiều đổi mới về nội dung và hình thức, đạt được những kết quả tích cực. Tuy nhiên, qua 5 năm thực hiện, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội cũng đã thể hiện những bất cập nhất định, chưa thật sự phát huy và mang lại tính hiệu quả của chức năng quan trọng này của Quốc hội. Với xu hướng tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật về giám sát tối cao của Quốc hội thì trong thời gian tới, cần phải nghiên cứu một số nội dung cụ thể sau đây:

Thứ nhất, cần tổng kết thực tiễn 5 năm thực hiện Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội để thấy được đầy đủ về thực trạng của hoạt động này. Trên cơ sở đó, cần phải xác định được một cách cụ thể và quy định thành luật các vấn đề như: về bản chất, phạm vi, phương thức, hình thức, công cụ của chức năng này; xác định rõ trách nhiệm của các chủ thể và đặc biệt là cần phải tìm ra một cơ chế giải quyết hậu giám sát. Nói cách khác, phải xác định được giám sát tối cao của Quốc hội là giám sát ở mức độ, phạm vi nào, với đối tượng bị giám sát là chủ thể nào, với hình thức và phương thức gì...?

Thứ hai, cần rà soát lại toàn bộ nội dung của tất cả các văn bản quy phạm pháp luật quy định về chức năng giám sát của Quốc hội để đánh giá về tính thống nhất, đồng bộ, chồng chéo, mâu thuẫn giữa các văn bản, từ đó đưa ra kiến nghị ban hành mới, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật. Cụ thể, cần tổ chức rà soát từ Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội, Nội quy kỳ họp, Quy chế hoạt động của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Quy chế hoạt động của Hội đồng dân tộc, các uỷ ban của Quốc hội, Quy chế hoạt động của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Quy chế hoạt động của Văn phòng Quốc hội, Nghị quyết thành lập Ban Công tác đại biểu để từ đó kiến nghị sửa đổi Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội trên cơ sở thống nhất các quy định và bổ sung các quy định về trình tự, thủ tục trong khi thực hiện hoạt động giám sát; cụ thể hoá hơn nữa việc xây dựng chương trình giám sát của các chủ thể.

Thứ ba, cần tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện phương thức giám sát thông qua việc thành lập Uỷ ban lâm thời của Quốc hội. Điều 12 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội đã ghi nhận phương thức này theo hướng cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội. Tuy nhiên, quy định này mới chỉ mang tính chất chung chung, chưa xác định về điều kiện, thành phần, thẩm quyền... của Uỷ ban lâm thời để thực hiện chức năng giám sát này. Thực tế trong những năm qua đã cho thấy, Quốc hội chưa thành lập một Uỷ ban lâm thời nào phục vụ hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội. Trong khi đó, ở các nước trên thế giới phương thức này được coi trọng và được tổ chức thường xuyên.

Thứ tư, với xu hướng chung là tăng cường hoạt động của Hội đồng dân tộc và các uỷ ban của Quốc hội thì cần thiết phải đề cao vai trò của Hội đồng dân tộc, các ủy ban của Quốc hội theo hướng thành lập các tiểu ban để giám sát chuyên đề; tăng cường giám sát tại các phiên họp của các cơ quan này; nghiên cứu để hướng tới thực hiện việc chất vấn, trả lời chất vấn ở Hội đồng dân tộc, các ủy ban của Quốc hội. Bên cạnh đó, cũng cần tăng cường các điều kiện hỗ trợ cho hoạt động giám sát của các Đoàn đại biểu Quốc hội và cá nhân Đại biểu Quốc hội. Trong đó, đặc biệt chú trọng trao đổi thông tin hai chiều về hoạt động giám sát giữa Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội với Hội đồng nhân dân địa phương về kết quả giám sát tại địa phương và giữa Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân với các cơ quan của Quốc hội.

Thứ năm, để khắc phục tình trạng giám sát chồng chéo, giám sát theo quy mô nhỏ như hiện nay thì cần phải làm rõ đối tượng giám sát đối với từng chủ thể, đồng thời xây dựng cơ chế báo cáo, trao đổi, tổng kết giữa các chủ thể giám sát để bảo đảm phản ánh được đầy đủ, tổng thể công tác giám sát và mang lại sự hài hoà giữa giám sát địa phương và trung ương.

(1) Theo Điều 23, Điều 36 thì: Khi Nghị viện không họp, Ban thường vụ có quyền:

i) Biểu quyết những dự án sắc luật của Chính phủ. Những sắc luật đó phải đem trình Nghị viện vào phiên họp gần nhất để Nghị viện ưng chuẩn hoặc phế bỏ.

ii) Triệu tập Nghị viện nhân dân.

iii) Kiểm soát và phê bình Chính phủ.

(2) Xem các điều 52, 57, 58, 59, 104 và 108 Hiến pháp 1959 sẽ thấy sự mở rộng về phạm vi thẩm quyền giám sát với quy định hoạt động giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội - cơ quan hoạt động thường xuyên của Quốc hội; sự cụ thể hoá về hình thức và cách thức thực hiện.

(3) Xem Điều 83, Điều 100 Hiến pháp 1982.

(4) Xem Điều 7 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội.

(5) Xem Điều 15 và Điều 17 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội.

(6) Xem Điều 27 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội.

(7) Xem Điều 18 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội.

(8) Xem Điều 30 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội.

(9) Xem Điều 40 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội.

(10) Xem các điều 15, 27 và 38 của Luật hoạt động giám sát của Quốc hội.

(11) Xem Điều 33 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội.

(12) Xem Điều 43 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội.

(13) Xem Điều 43 của Luật hoạt động giám sát của Quốc hội.

 

TS Hoàng Văn Tú - Giám đốc trung tâm Nghiên cứu, Viện Nghiên cứu lập pháp.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Bổ sung địa vị pháp lý của Kiểm toán Nhà nước và Tổng Kiểm toán Nhà nước trong Hiến pháp (15/01/2013)
Cơ chế kiểm soát hoạt động tư pháp - những vấn đề đang đặt ra và phương hướng đổi mới (15/01/2013)
Bàn thêm về vấn đề sửa đổi Hiến pháp 1992 nhìn từ nguyên tắc chủ quyền nhân dân (11/10/2012)
Những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện về điều kiện hoạt động của đại biểu Quốc hội (20/02/2012)
Góp bàn về Sửa đổi Hiến pháp ở Việt Nam (23/09/2011)
Lại bàn về bài học từ Hiến pháp 1946 (22/09/2011)
Quy trình sửa đổi, bổ sung hiến pháp và sự lựa chọn cho Việt Nam trong bối cảnh hiện nay (19/09/2011)
Lại bàn về bài học từ Hiến pháp 1946 (22/09/2011)
3.jpg
Đồng chí Nguyễn Đình Quyền, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc UBTVQH và ông Rhee, Ik Hyeon, Viện trưởng Viện Nghiên cứu pháp luật thuộc Chính phủ Hàn Quốc ký thỏa thuận hợp tác giữa hai cơ quan nghiên cứu tại Hà Nội, ngày 7/6/2018
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em qua công tác xét xử ở khu vực miền Trung - Tây nguyên

Tổng quan và đánh giá các quy định của pháp luật về đại biểu Quốc hội ở Việt Nam

Đặc điểm, yêu cầu và thực trạng phân cấp quản lý đất đai hiện nay

Tổ chức thi hành pháp luật theo Hiến pháp năm 2013 - nhân tố đảm bảo thực hiện nguyên tắc pháp quyền trong đời sống nhà nước và xã hội

Đồng bộ hóa luật tư hiện nay trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường: sự cần thiết và định hướng

kinh nghiệm xây dựng thể chế tự quyết cho các thành phố văn minh

Một số góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật An ninh mạng

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách kiến quốc trên nền tảng dân chủ

Vai trò của Toà Hành chính trong bảo đảm quyền công dân theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015

Pháp luật của Trung Quốc và Nhật Bản về ô nhiễm không khí và một số nhận xét, so sánh với pháp luật Việt Nam

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân