Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ ba, 22/05/2018, 07:58(GMT+7)
 
Tổ chức bộ máy nhà nước

Những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện về điều kiện hoạt động của đại biểu Quốc hội

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, là người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội. Để thực hiện được trọng trách đó, ĐBQH cần phải có những điều kiện nhất định trong quá trình hoạt động. Tựu trung, có thể phân thành ba nhóm điều kiện: nhóm điều kiện do luật định; nhóm điều kiện của bản thân đại biểu  và nhóm điều kiện về các phương tiện hoạt động (làm việc) hàng ngày.

1. Nhóm điều kiện do luật định

1.1. Các quy định hiện hành

Nhóm điều kiện này được điều chỉnh bởi ba văn bản chính: một là, Hiến pháp năm 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001, quy định tại 4 điều 97, 98, 99 và 100; hai là, Luật tổ chức Quốc hội năm 2001, sửa đổi, bổ sung năm 2007 (Luật TCQH), quy định tại 17 điều, từ Điều 43 đến Điều 59; ba là, Quy chế hoạt động của ĐBQH và Đoàn ĐBQH, được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ hai thông qua ngày 16/12/2002 (Quy chế), gồm các Điều 1, 2, 3, từ Điều 6 đến Điều 22, từ Điều 32 đến Điều 35 và từ Điều 36 đến Điều 44. Trong ba văn bản này, Quy chế là văn bản cụ thể hóa Hiến pháp và Luật TCQH, đồng thời có thêm một số quy định khác. Ngoài ra, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003; Nội quy kỳ họp Quốc hội năm 2002 cũng có một số chương, điều, khoản, điểm quy định về quyền hạn, nhiệm vụ và các vấn đề khác của ĐBQH tương tự như ba văn bản chính nói trên. Xin được dẫn ra đây một số nội dung quan trọng nhất quy định trong các văn bản luật này:

- ĐBQH chịu trách nhiệm trước cử tri, đồng thời chịu trách nhiệm trước Quốc hội về việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu của mình; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

- ĐBQH có nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến pháp luật, động viên nhân dân chấp hành pháp luật và tham gia quản lý nhà nước.

- ĐBQH có nhiệm vụ tham gia các phiên họp toàn thể của Quốc hội, các cuộc họp của Tổ ĐBQH, của Đoàn ĐBQH; thảo luận và biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội. Đại biểu là thành viên của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có trách nhiệm tham gia các phiên họp, thảo luận, biểu quyết các vấn đề và tham gia các hoạt động khác thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội mà mình là thành viên. ĐBQH hoạt động không chuyên trách được dành ít nhất một phần ba thời gian làm việc để làm nhiệm vụ đại biểu.

- ĐBQH có quyền trình dự án luật, kiến nghị về luật ra trước Quốc hội, dự án pháp lệnh ra trước Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) theo trình tự và thủ tục do pháp luật quy định.

- ĐBQH có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

- ĐBQH có quyền kiến nghị với UBTVQH xem xét trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.

- ĐBQH có trách nhiệm tiếp công dân. Khi nhận được kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân, ĐBQH có trách nhiệm nghiên cứu, kịp thời chuyển đến người có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người kiến nghị, khiếu nại, tố cáo biết; đôn đốc việc giải quyết.

- ĐBQH phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thường xuyên tiếp xúc với cử tri, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, kiến nghị của cử tri với Quốc hội và cơ quan nhà nước hữu quan. Mỗi năm ít nhất một lần ĐBQH phải báo cáo trước cử tri về việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu của mình.

- Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc công dân, ĐBQH có quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi trái pháp luật đó.

- Khi thực hiện nhiệm vụ đại biểu, ĐBQH có quyền liên hệ với các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị đó trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm tiếp và đáp ứng những yêu cầu của ĐBQH…  

Những quy định pháp luật tại các văn bản nói trên đã chỉ rõ trách nhiệm của ĐBQH đối với nhân dân, với Quốc hội, với Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, với Tổ và Đoàn ĐBQH nơi mình tham gia hoạt động. Đó là những căn cứ pháp lý cho các hoạt động của ĐBQH. Các quy định đó có mối quan hệ hữu cơ, gắn bó chặt chẽ với nhau, mỗi chế định thường đi kèm với trình tự, thủ tục và điều kiện thực hiện tương đối cụ thể. 

1.2. Việc thực hiện và những vấn đề cần hoàn thiện, đổi mới

Quy định về ĐBQH có thể phân loại theo các nhóm vấn đề như: nhóm các quy định về vị thế của đại biểu; nhóm các quy định về quyền và trách nhiệm; nhóm các quy định về điều kiện thực hiện nhiệm vụ; nhóm các quy định về việc bảo vệ đại biểu; nhóm các vấn đề nhiệm kỳ và lý do thôi làm đại biểu… Ở đây, chúng tôi chỉ nói chủ yếu đến các nhóm vấn đề về quyền, trách nhiệm và điều kiện thực hiện quyền, trách nhiệm của đại biểu (với tinh thần bàn bạc để đổi mới, hoàn thiện hơn nữa các quy định đó). Qua thực tiễn hoạt động và quan sát1, chúng tôi thấy, trong những khóa trước đây, có đại biểu tuy trình độ học vấn không cao nhưng đã tham gia tất cả các hoạt động của Quốc hội, của Ủy ban, của Đoàn ĐBQH với tinh thần trách nhiệm và nhiệt huyết cao. Có đại biểu suy nghĩ, cặm cụi suốt đêm chuẩn bị cho một ý kiến phát biểu tại phiên họp toàn thể của Quốc hội sao cho “có trọng lượng” nhất… Tuy nhiên, còn không ít các quy định, ĐBQH chưa thực hiện được. Xin được nêu ba ví dụ cũng là ba loại việc:

- Loại việc do tình trạng xã hội, do vị thế đại biểu mà không thực hiện được. Ví dụ, pháp luật đã quy định, khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc công dân, ĐBQH có quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi trái pháp luật đó. Nhưng hầu như trên thực tế, quy định này không mấy khi thực hiện được, vì luật pháp “không thiêng” và vì “người ta” coi thường pháp luật. Thậm chí có rất nhiều vụ việc, ĐBQH có ý kiến, Thanh tra đã kết luận, Tòa án đã tuyên án và đã có hiệu lực thi hành, nhưng vẫn bị kéo dài năm này qua năm khác. Thường là, ý kiến của một ĐBQH (nhất là đại biểu bình thường, không giữ chức vụ gì hay chỉ có chức vụ nhỏ) thì ít có trọng lượng, thậm chí người ta còn “không thèm để ý tới”. Các  ý kiến được thực hiện thì thường là ý kiến của lãnh đạo Quốc hội hay ý kiến của đại biểu là Bộ trưởng, là Bí thư Tỉnh ủy, là Chủ tịch tỉnh “yêu cầu cấp dưới phải thi hành” thì mới có hiệu lực (tuy nhiên, nếu ý kiến đó không phù hợp với lợi ích của họ thì họ vẫn viện ra muôn vàn lý do để chống chế, nhằm “kéo rê” sang nhiệm kỳ mới…).

- Loại việc được quy định nhưng không đồng bộ, không có cơ chế phối hợp nên không thực hiện được. Ví dụ, trong quy định về vấn đề bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh được Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn, thì từ khi có Luật TCQH năm 1997 và Hiến pháp năm 1992 đến nay, chưa khi nào vấn đề này được thực hiện, mặc dù đã có đại biểu kiến nghị bỏ phiếu tín nhiệm một chức danh sau một lần chất vấn, trả lời chất vấn, và cũng có đại biểu đề nghị bỏ phiếu tín nhiệm một tập thể các chức danh sau một thời gian dài hoạt động. 

- Loại việc thứ ba, nếu các cơ quan có trách nhiệm không tổ chức, thì đại biểu cũng không tự ý làm được. Ví dụ, đối với quy định mỗi năm ít nhất một lần ĐBQH phải báo cáo trước cử tri về việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu của mình. Cử tri có thể trực tiếp hoặc thông qua Mặt trận Tổ quốc yêu cầu đại biểu báo cáo công tác và có thể nhận xét đối với việc thực hiện nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội. Nhưng để tiến hành việc này thì Mặt trận Tổ quốc (cấp huyện, cấp xã) ở các đơn vị hành chính thuộc đơn vị bầu cử mà đại biểu ứng cử phải nắm được quy định, phải đứng ra tổ chức, hoặc Đoàn ĐBQH căn cứ vào quy định của luật, yêu cầu Mặt trận tổ chức các cuộc tiếp xúc để đại biểu báo cáo trước cử tri. Nhưng theo quan sát của chúng tôi trong nhiều khóa đã qua, hầu như chưa thấy ĐBQH nào làm việc này hàng năm cũng như trong toàn khóa. Cử tri cũng chưa có yêu cầu ĐBQH phải kiểm điểm công tác trước họ và nhận xét về hoạt động của đại biểu. Một trong những lý do là nhiều cử tri còn không biết có quy định này.

1.3. Phương án khắc phục, đổi mới và hoàn thiện

- Trước hết, pháp luật cần phải bám sát thực tiễn để quy định cho hợp lý hơn. Ví dụ, khi ĐBQH phát hiện một hành vi vi phạm pháp luật làm thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tập thể hay công dân thì tùy theo mức độ mà tổ chức các cuộc làm việc hay các cuộc giám sát của Đoàn ĐBQH, của Ủy ban (chuyên môn) với đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật. Đơn cử như khi một ĐBQH phát hiện một công ty xả nước chưa qua xử lý ra sông, ngòi, một mình đại biểu đó có ý kiến với công ty này thì chắc chắn không thể giải quyết được, mà chí ít phải là Đoàn ĐBQH hay Ủy ban khoa học, Công nghệ và Môi trường vào cuộc thì mới có hy vọng xử lý được. Quy định ĐBQH khi tiếp xúc với một cơ quan, tổ chức, đơn vị về một nội dung thuộc phạm vi nhiệm vụ của ĐBQH cũng cần theo hướng này... 

- Về việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh được Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn, có thể có hai phương án sửa đổi luật. Một là, luật quy định trực tiếp việc bỏ phiếu tín nhiệm định kỳ (có thể là hai năm một lần). Ưu điểm của phương án này là “đến hẹn lại lên”, không phải bàn tính nhiều và cũng không gây dư luận ai đó có chuyện nên phải xem xét tín nhiệm. Hơn nữa, nếu quy định như vậy thì lần bỏ phiếu tín nhiệm gần cuối nhiệm kỳ sẽ là hồ sơ tham khảo tốt cho việc chuẩn bị nhân sự nhiệm kỳ sau. Phương án hai là, giữa Đảng đoàn Quốc hội và Ban Tổ chức Trung ương phải có quy chế phối hợp, trong đó nói rõ trường hợp, điều kiện, chức danh nào, tập thể nào, khi nào thì cần bỏ phiếu tín nhiệm. Ở đây có vấn đề về tâm lý, đó là một số người giữ các chức vụ cao thường ngại việc bỏ phiếu tín nhiệm, chỉ muốn làm hết nhiệm kỳ là được. Thực ra đây là biểu hiện của sự yếu kém, thiếu năng lực nên không muốn Quốc hội sử dụng các “phép thử” để phơi bày sự yếu kém. 

Chúng tôi cho rằng, cải tiến và thực hiện cho bằng được việc bỏ phiếu tín nhiệm sẽ giúp cho điều luật không “nằm chết trên giấy” mà sẽ có sức sống trong thực tiễn. Quan trọng hơn, trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan nhà nước sẽ được nâng lên, kết quả thực hiện nhiệm vụ sẽ tốt lên. 

 

2. Nhóm các điều kiện của bản thân đại biểu

ĐBQH phải là người hội đủ các tiêu chuẩn được quy định trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội. Tuy nhiên, sự cách biệt về trình độ giữa các đại biểu là không nhỏ; bản lĩnh của mỗi đại biểu lại càng khác xa nhau. Mặt khác, như người xưa đã tổng kết “nhân vô thập toàn”, một người dù giỏi giang, thông minh thế nào đi chăng nữa cũng chỉ có thể biết được vài ba lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ, không thể mọi việc trên đời đều tường tận tất cả. Trong khi đó, công việc của Quốc hội phải bao quát toàn bộ hoạt động của xã hội và các ĐBQH đều phải tham gia.

Trước hết, nói về trình độ học vấn. Nếu chỉ xét về con số thống kê thì trong các khóa Quốc hội gần đây, trình độ học vấn của các ĐBQH đã tiến bộ vượt bậc. Khóa XI có 93,37% số đại biểu có trình độ đại học trở lên, khóa XII là 95,96%, khóa XIII lên tới 98,20% (chỉ còn 09 đại biểu, bằng 1,80%, là có trình độ cao đẳng, trung học), trong số 98,20% thì số ĐBQH có trình độ học vấn trên đại học chiếm tới 45,8%. Trình độ học vấn cao của đại biểu là một thuận lợi quan trọng cho Quốc hội trong hoạt động. Tuy nhiên, là cơ quan lập pháp nên Quốc hội cũng cần lưu ý đến một số loại tri thức thiết yếu trong vốn trình độ học vấn của ĐBQH. Có ba loại kiến thức chủ yếu, nhất thiết ĐBQH phải có. Đó là kiến thức pháp luật (gồm cả nội dung các ngành luật và kỹ thuật lập pháp); các loại kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành, chuyên lĩnh vực; và kiến thức ngữ văn. Đương nhiên không thể đòi hỏi mỗi đại biểu phải có tất cả các thứ đó, thực tế trong nhiều khóa không có ai toàn năng như thế. Nhưng “ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Do vậy, trong cơ cấu đại biểu, nên có tỷ lệ hợp lý cho các mảng tri thức này từ những người tham gia Quốc hội. Nghiên cứu danh sách ĐBQH khóa XIII chúng tôi thấy, trong cơ cấu đã khá đầy đủ các ĐBQH đại diện cho từng lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ. Hầu như tất cả đại biểu đều có ít nhất một chuyên môn, nghiệp vụ. Đại biểu có chuyên môn ngữ văn cũng không thiếu. Riêng đại biểu có chuyên môn luật pháp đều tăng lên rõ rệt qua các khóa (khóa IX chỉ có 5,31% số đại biểu có chuyên môn luật; khóa X là 14,44%; khóa XI lên 19,68%; khóa XII tăng nhanh, lên tới 30,12% và khóa XIII là 30,60%). Đó là mảng trí tuệ rất đáng trân trọng của Quốc hội. Vấn đề đặt ra ở đây là, trong quá trình làm nhiệm vụ, các ĐBQH phải biết phối hợp, trao đổi, đồng thời phải tiếp tục học tập, làm sâu sắc thêm chuyên môn đã có, mở rộng tầm hiểu biết sang các chuyên môn khác, nâng cao kỹ năng sử dụng kiến thức để có thể đóng góp ngày càng nhiều cho Quốc hội.  

Điều đáng bàn hiện nay là về bản lĩnh của ĐBQH. ĐBQH có tri thức, trí tuệ, giỏi chuyên môn, nghiệp vụ... nhưng nếu thiếu bản lĩnh thì cũng khó phát huy được khả năng của mình cho công việc chung. Có khá nhiều việc liên quan đến bản lĩnh đại biểu, nhưng chúng tôi chỉ xin nêu lên một vài hiện trạng cần khắc phục sớm. Một là, trong xây dựng luật vẫn có tình trạng bộ, ngành trình dự án luật thì ĐBQH công tác trong bộ, ngành đó luôn cố biện hộ, bảo vệ lợi ích riêng cho bộ, ngành mình; rộng hơn nữa là giữ phần thuận lợi cho quản lý, điều hành, đẩy khó khăn về cho người thực hiện, cho đối tượng do luật điều chỉnh. Hai là, trong thảo luận ngân sách, kinh tế - xã hội (một hình thức giám sát tại kỳ họp), rất hiếm ĐBQH là Bộ trưởng, Thứ trưởng, hay Trưởng đoàn ĐBQH các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nói lên những yếu kém của Chính phủ, trong khi các đại biểu đó hiểu đến “chân tơ kẽ tóc”, đến “ngóc ngách” của các khuyết điểm. Lý do là vì ngại va chạm đến lợi ích (cả công và tư). Thậm chí có đại biểu (không giữ các chức danh quản lý) khi phát biểu cũng bị Trưởng đoàn nhắc nhở, dè chừng khi nói những vấn đề “nhạy cảm”! Thực tế cũng đã xảy ra tình trạng, sau khi một ĐBQH phát biểu, có Bộ đã gọi điện về cho lãnh đạo địa phương của ĐBQH đó than phiền, rồi khi hết nhiệm kỳ, đại biểu đó đã phải chuyển công tác.

Hai việc này sẽ không tái diễn, nếu ĐBQH có bản lĩnh, dám nói lên tiếng nói chính đáng của cử tri gửi gắm. Đồng thời, các cơ quan hành pháp phải thực sự công minh, chính trực, không vì đại biểu phát biểu thẳng thắn, xây dựng mà trù úm, làm khó dễ cho các ĐBQH, các địa phương, cho Bộ, ngành khác.

Vấn đề rèn luyện bản lĩnh, mỗi ĐBQH phải tự xác định, đó cũng là “thước đo” sự chân thành, tính trung thực và mức độ tiến bộ của mỗi ĐBQH. Đây là việc không dễ, nhưng đã là đại biểu của dân thì phải thực hiện cho được.

Nhân đây cũng xin được nói thêm, tiêu chuẩn để lựa chọn ĐBQH cũng cần được sửa đổi, bổ sung cho đầy đủ hơn. Theo chúng tôi, rất cần phải xem xét động cơ tham gia Quốc hội của các ứng cử viên (xem có trong sáng, có vì nước vì dân không, hay chỉ vì mục đích cá nhân) nhằm góp phần bảo đảm cho chất lượng đại biểu ngày một cao hơn.

 

3. Nhóm các điều kiện vật chất bảo đảm cho hoạt động của đại biểu

Quốc hội đã có 65 năm hoạt động và phát triển, nhưng các điều kiện vật chất bảo đảm cho Quốc hội, ĐBQH hoạt động thì hầu như chưa được quy định một cách hoàn chỉnh, đầy đủ. Có tình trạng đó là vì từ khóa VIII trở về trước, gần như tất cả ĐBQH đều hoạt động kiêm nhiệm (kể cả UBTVQH). Cứ đến kỳ họp thì ĐBQH đến hội trường họp, sau kỳ họp lại về cơ quan, đơn vị, địa phương mình công tác. Mỗi kỳ họp cũng chỉ trên dưới một tuần lễ. Đến khóa IX, bắt đầu có 20 đại biểu hoạt động chuyên trách và Quốc hội hoạt động ngày càng thực chất hơn. Đến khóa XIII, số đại biểu hoạt động chuyên trách, kể cả đại biểu chuyên trách ở địa phương hoạt động cho Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban đã lên đến gần 150 người. Cũng từ khóa IX đến nay cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động của Quốc hội, chế độ, chính sách cho ĐBQH mới từng bước được xây dựng và hoàn thiện.

3.1. Quy định của pháp luật về nhóm việc này

Có hai văn bản chủ yếu quy định tương đối cụ thể. Trước hết là Luật TCQH hiện hành. Luật này có Điều 59 quy định có tính chất tập trung các điều kiện bảo đảm cho đại biểu hoạt động chuyên trách, là: “ĐBQH hoạt động chuyên trách được bố trí nơi làm việc và các điều kiện cần thiết khác cho hoạt động đại biểu của mình. Khi đại biểu hoạt động chuyên trách thôi làm nhiệm vụ đại biểu thì cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có trách nhiệm bố trí công tác cho ĐBQH. Thời gian ĐBQH hoạt động chuyên trách được tính vào thời gian công tác liên tục. Lương, các chế độ khác của ĐBQH hoạt động chuyên trách và các khoản phụ cấp của ĐBQH do UBTVQH quy định”. Đoạn “… các khoản phụ cấp của ĐBQH do UBTVQH quy định” được hiểu là quy định cho tất cả các đại biểu Quốc hội.

Thứ hai là Quy chế hoạt động của ĐBQH và Đoàn ĐBQH, có thể coi là văn bản cụ thể hóa một bước các quy định của Điều 59 nói trên và quy định rộng ra cho tất cả các đại biểu Quốc hội. Tại Quy chế, các Điều 37, 39, 40, 41, 42, 43, 442 đã cụ thể hóa các điều kiện bảo đảm cho đại biểu.

3.2. Việc thực hiện các quy định trên

Có thể nói, từ cuối khóa IX đầu khóa X đến nay, các chế độ, chính sách về điều kiện vật chất bảo đảm cho hoạt động của ĐBQH đã từng bước được hoàn thiện. Nếu so sánh điều kiện hiện nay với 20 năm trước thì đã có sự tiến bộ vượt bậc. Thông tin, tài liệu, phương tiện làm việc, đi lại, tiền lương, thu nhập, nơi ăn ở… được cải thiện đáng kể, nhất là từ năm 2002 đến nay.

Về chế độ tiền lương và các khoản phụ cấp có tính chất lương đối với ĐBQH chuyên trách, trước đây không có “tên tuổi” trong hệ thống thang lương, bảng lương của Nhà nước, phải vận dung theo thang, bảng lương các cơ quan của Chính phủ, thì đến năm 1993 và nhất là từ năm 2004, đã chính thức có tên trong Bảng lương chức vụ và Bảng phụ cấp chức vụ đối với cán bộ lãnh đạo của Nhà nước và ĐBQH hoạt động chuyên trách. Riêng phụ cấp chức vụ có ưu đãi đáng kể và tiếp tục được điều chỉnh từ nửa cuối nhiệm kỳ khóa XII.

Về phương tiện làm việc, ngoài việc bố trí nơi ăn ở, nơi làm việc, sổ sách, tài liệu, tủ, bàn… mỗi ĐBQH đã được trang bị một máy tính cá nhân, do đó, có thể cập nhật thông tin, làm việc được ở nhiều nơi. Đây là một cố gắng lớn trong việc thực hiện Chương trình công nghệ thông tin của Quốc hội từ khóa XI đến nay. Với tinh thần tạo mọi điều kiện tốt nhất cho ĐBQH làm việc, Quốc hội khóa XI đã quyết định xây dựng tòa nhà Quốc hội theo tiêu chuẩn quốc tế, khi hoàn thành thì chắc chắn sự cải thiện điều kiện làm việc cho ĐBQH còn khá hơn nhiều.

3.3. Vấn đề cần nghiên cứu đổi mới và hoàn thiện

- Đối với bất kỳ một cán bộ, công chức nào thì công việc và chế độ tiền lương cũng là vấn đề cần được quan tâm đầu tiên. Đối với ĐBQH cũng vậy, tuy tiền lương, thu nhập đã có những bước tiến đáng kể nhưng chưa hoàn chỉnh, cần được hoàn thiện theo hướng sau: Một là, hệ thống hóa lại các chính sách, chế độ tiền lương hiện hành đối với ĐBQH chuyên trách để dễ theo dõi. Hai là, điều chỉnh những bất hợp lý về mức lương, mức phụ cấp của các chức danh. Ví dụ, trước đây hệ số tiền lương nhà nước tối đa chỉ là 10, thì Ủy viên UBTVQH có hệ số cao hơn Chủ nhiệm các Ủy ban là 0,2; nay hệ số tiền lương nhà nước tối đa lên tới 13 thì Ủy viên UBTVQH lại chỉ cao hơn Chủ nhiệm Ủy ban chỉ có 0,1 (lẽ ra là phải từ 0,3 trở lên). Ba là, phải xây dựng chế độ tiền lương chính thức cho các đại biểu không có chế độ tiền lương (như đại biểu là xã viên hợp tác xã, những đại biểu đại diện cho dân cư nông thôn… mặc dù số đại biểu này ngày càng ít) và chế độ phụ cấp hay chênh lệch lương của các đại biểu hoạt động kiêm nhiệm khi làm nhiệm vụ đại biểu mà tiền lương ở cơ quan, tổ chức, đơn vị của đại biểu đó thấp hơn so với mức lương ở Quốc hội. Bốn là, nghiên cứu tăng hoạt động phí của ĐBQH lên mức mới phù hợp hơn với tình hình hiện nay (mức một lần lương tối thiểu là quá thấp).

- Có một vấn đề có lẽ không chỉ chúng tôi mà nhiều đại biểu quan tâm (cả hiện tại và mai sau), đó là vấn đề chất lượng hoạt động của đại biểu có liên quan đến bộ máy giúp việc (cả ở trung ương và địa phương), vì ngoài sự nỗ lực của đại biểu thì nỗ lực của bộ máy giúp việc cho đại biểu cũng rất quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hoạt động của đại biểu. Trước tiên, cần sớm nghiên cứu, tổ chức cho hợp lý việc trợ giúp đại biểu trong những hoạt động chủ yếu. Tham khảo phương pháp và kỹ thuật làm việc của Văn phòng giúp việc của Nghị viện các nước trên thế giới cho thấy, ở nhiều nước, Nghị viện cấp hẳn cho nghị sĩ (hàng năm hoặc cả nhiệm kỳ) một khoản kinh phí để tổ chức văn phòng riêng và thuê thư ký. Ở nhiều nước, nghị sĩ thường có hai văn phòng, một ở đơn vị bầu cử và một ở Thủ đô. Tùy theo mỗi nước và tùy theo yêu cầu sử dụng, mỗi nghị sĩ có thể thuê từ 2 cho đến 20 thư ký, trợ lý. Riêng ở Hoa Kỳ, mỗi hạ nghị sĩ có tới 16 và thượng nghị sĩ có tới 36 trợ lý. Đến năm 2002, số người làm việc tại các văn phòng của nghị sĩ Hoa Kỳ vào khoảng 10.000 người3.

Các hoạt động chủ yếu của các văn phòng nghị sĩ của các nước là chuẩn bị các loại thông tin, tư liệu liên quan đến hoạt động của nghị sĩ, chuẩn bị các bài phát biểu cho nghị sĩ; giúp nghị sĩ giữ mối liên hệ với địa phương, đơn vị bầu ra nghị sĩ và các cơ quan hữu quan…

Đối với nước ta, mỗi khóa Quốc hội thường có đến 70% đại biểu mới, nên giúp cho đại biểu thực hiện được nhiệm vụ theo luật định là vô cùng cần thiết và cấp bách. Đó cũng là vấn đề nâng cao chất lượng hoạt động và tính thực chất của đại biểu. Với tinh thần đó, cần nghiên cứu, có giải pháp thích hợp. Trước mắt, có thể chưa tổ chức văn phòng riêng cho ĐBQH, nhưng mỗi ĐBQH cũng cần được cấp một khoản kinh phí để có thể hợp đồng được ít nhất với một người giúp việc (do đại biểu lựa chọn theo yêu cầu công việc). Kinh phí này do cơ quan tài chính - kế toán của Văn phòng Quốc hội và Văn phòng Đoàn ĐBQH quản lý và chi theo lệnh của ĐBQH.

Văn phòng Quốc hội và Văn phòng Đoàn ĐBQH phục vụ chung cho Quốc hội và Đoàn ĐBQH cũng cần được xem xét cải tiến, hoàn thiện, cho phù hợp với chức năng và nhiệm vụ của mình.

 

 

 

(1) Tác giả nguyên là Đại biểu Quốc hội khóa IX, X, XI (BT).

(2) Xem cụ thể các Điều 37, 39, 40, 41, 42, 43, 44 trong Quy chế hoạt động của ĐBQH và Đoàn ĐBQH.

(3) Xem Tổ chức và hoạt động của Quốc hội một số nước, Văn phòng Quốc hội, H., 2002, tr. 291-292.

 

TS. Bùi Ngọc Thanh - Nguyên Ủy viên UBTVQH, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
6.jpg
Đồng chí Lê Bộ Lĩnh, Phó Chủ nhiệm VPQH phát biểu khai mạc Hội thảo "Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan nhà nước và xã hội trong thúc đẩy thực thi các quy định pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã"
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em qua công tác xét xử ở khu vực miền Trung - Tây nguyên

Tổng quan và đánh giá các quy định của pháp luật về đại biểu Quốc hội ở Việt Nam

các điều kiện bảo đảm thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước

kinh nghiệm xây dựng thể chế tự quyết cho các thành phố văn minh

Vai trò của Toà Hành chính trong bảo đảm quyền công dân theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015

về tính độc lập và quyền miễn trừ của thẩm phán

Những nội dung về bảo vệ môi trường trong xây dựng và phát triển các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt

Mô hình hợp tác nghề cá ở các vùng biển chồng lấn, đang tranh chấp của một số quốc gia

Đối tượng của quyền hưởng dụng trong pháp luật Việt Nam

Quản lý phát triển xã hội vùng dân tộc và dân tộc thiểu số ở nước ta

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân