Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ sáu, 25/05/2018, 16:06(GMT+7)
 
Tổ chức bộ máy nhà nước

Một số ý kiến trao đổi về giám sát văn bản quy phạm pháp luật
Hiện nay, thẩm quyền giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội được quy định trong nhiều văn bản pháp luật, như Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật về họat động giám sát của Quốc hội … Xét về mức độ, tầm quan trọng, có thể nói đây chính là một nội dung cơ bản, hàng đầu của quyền giám sát tối cao của Quốc hội[1]. Tuy nhiên, cho đến nay, vì nhiều nguyên nhân khách quan, công tác giám sát văn bản quy phạm pháp luật cũng là mảng công việc mà kết quả đạt được còn khiêm tốn xét trong mối tương quan với kết quả đạt được trong họat động xây dựng pháp luật. Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về giám sát văn bản quy phạm pháp luật trong thời gian qua đã và đang đặt ra những vấn đề đòi hỏi cần có giải pháp khắc phục để bộ máy tham mưu, giúp việc các cơ quan của Quốc hội có thể thực hiện phục vụ tốt hơn nhiệm vụ này trong thời gian tới.

Thứ nhất, về  thủ tục, trình tự giám sát văn bản quy phạm pháp luật

Theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 30 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội, thì khi nhận được văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan hữu quan gửi đến, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội có trách nhiệm nghiên cứu, xem xét nội dung văn bản đó. Trong trường hợp phát hiện văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung, đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản đó. Tuy nhiên, trong Luật lại không chỉ rõ Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban phải thực hiện theo trình tự, thủ tục cụ thể nào. Về vấn đề này, có ý kiến cho rằng để bảo đảm nguyên tắc làm việc tập thể và quyết định theo đa số, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội có thể thực hiện theo 2 cách thức:

- Tổ chức phiên họp toàn thể Hội đồng dân tộc, Uỷ ban để xem xét, biểu quyết để xác định dấu hiệu văn bản quy phạm pháp luật có trái Hiến pháp, luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

- Chuẩn bị và gửi dự thảo văn bản về nội dung giám sát văn bản đến từng thành viên của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban để xin ý kiến, sau đó tập hợp, tổng hợp lại trong một văn bản phản ánh ý kiến của thành viên Uỷ ban.

Trong 2 cách làm này, có thể thấy việc thực hiện theo cách thứ nhất sẽ phát huy hiệu quả hơn trí tuệ tập thể của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban; bởi vì, có thể nói thông qua phiên họp toàn thể, việc lắng nghe, phát biểu, tranh luận qua lại giữa các thành viên của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban, mà các vấn đề được đưa ra xem xét, thảo luận sẽ được “cọ xát”, sẽ có “độ chín” nhiều hơn nếu so sánh với việc đơn thuần chỉ gửi dự thảo văn bản cho từng thành viên của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội. Tuy nhiên, nếu việc hiểu và thực hiện theo những cách thức nêu trên được chấp thuận lại có thể dẫn đến cách thức triển khai tiến hành giám sát văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, không thống nhất giữa Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội. Trên một bình diện nhất định, cũng có hạt nhân hợp lý nếu nhận xét rằng chất lượng của hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban sẽ phần nào phụ thuộc vào cách làm việc cụ thể nào mà Thường trực Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban sẽ chọn như đã đề cập ở trên.

Một vấn đề khác có liên quan đến cách thức, trình tự thủ tục tiến hành giám sát văn bản của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, đó là trong trường hợp Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội tổ chức phiên họp toàn thể để xem xét văn bản quy phạm pháp luật dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì có nên mời đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung, đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật đó đến dự phiên họp và phát biểu ý kiến không? Về vấn đề này, có ý kiến không tán thành với nội dung này, vì cho rằng Luật về họat động giám sát của Quốc hội không quy định, nên không có căn cứ để thực hiện. Mặt khác, do hệ quả pháp lý trong trường hợp Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội xác định là văn bản có dấu hiệu trái Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội cũng chỉ dừng ở việc thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung, đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật đó; và trong trường hợp này, khoản 3 Điều 30 Luật về hoạt động giám sát của Quốc hội cũng đã quy định các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền nêu trên trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu phải thông báo cho Hội đồng, Uỷ ban biết kết quả giải quyết. Có thể nói, quy định về việc thông báo về kết quả giải quyết cũng chính là dịp để các chủ thể là đối tượng chịu sự giám sát nêu ý kiến phản hồi của mình; do đó, không nhất thiết phải đặt ra việc thực hiện thêm thủ tục này.

Tuy nhiên, chúng tôi tán thành với ý kiến cho rằng, việc thực hiện theo hướng để các chủ thể nêu trên tham gia sớm vào quá trình giám sát văn bản sẽ có tác dụng tích cực, một mặt, vừa tạo ra sự phản biện cần thiết, mặt khác, ở một khía cạnh nhất định, điều này còn có tác dụng ngăn ngừa yếu tố “một chiều” có thể nảy sinh trong họat động giám sát; đồng thời, cũng sẽ tạo ra khả năng rút ngắn về thời gian, trình tự, thủ tục trong trường hợp các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thực hiện việc giải quyết yêu cầu, kiến nghị của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, do các chủ thể này đã tham gia sớm và nhận biết vấn đề ngay từ đầu. Bên cạnh đó, một vấn đề quan trọng là thông qua họat động này, nếu các chủ thể là đối tượng chịu sự giám sát chấp thuận những vấn đề được Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban nêu ra thì hoàn toàn có thể chủ động thực hiện ngay việc tự mình xử lý văn bản trái pháp luật (tự thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản), không phải chờ yêu cầu chính thức từ phía Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban theo quy định tại Điều 30 Luật về hoạt động giám sát của Quốc hội. Có thể nói, đây là cách làm có lợi nhất cho lợi ích của Nhà nước, của cá nhân trong trường hợp cá nhân “không may” trở thành đối tượng chịu sự điều chỉnh của văn bản có nội dung trái pháp luật đó. Từ góc độ suy nghĩ cá nhân, có lẽ điều này nên được nghiên cứu, xem xét để phục vụ quá trình giám sát văn bản trong thời gian tới, sao cho công tác giám sát văn bản một mặt vừa bảo đảm tốt nguyên tắc pháp chế, mặt khác, vừa có tác dụng hỗ trợ, thúc đẩy một cách tích cực đối với hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội của các cơ quan có thẩm quyền. Bên cạnh đó, xét ở góc độ hệ quả pháp lý, điều đáng lưu ý là việc thực hiện theo hướng này có thể còn góp phần hạn chế được những khó khăn ít nhiều mang tính “tự thân” có thể nảy sinh từ hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật, bởi nguyên do là việc giám sát văn bản quy phạm pháp luật có thể gắn với vấn đề xác định trách nhiệm trong những trường hợp nhất định.[2]

Như vậy, nếu nhìn về khía cạnh hiệu quả của công tác giám sát văn bản của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, thì đây là một phương án tối ưu nếu đặt trong khuôn khổ pháp lý hiện nay. Đương nhiên, điều này cũng còn phụ thuộc vào những yếu tố mang tính phụ trợ khác, chẳng hạn  như thời gian có cho phép hay không v.vTuy nhiên, ngay cả trong trường hợp thực hiện theo phương án này, thì việc tham dự phiên họp bàn về giám sát văn bản của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của đối tượng chịu sự giám sát nếu được mời tham dự cũng không phải là bắt buộc; các chủ thể này có thể tham dự hoặc không tham dự. Vì thực chất, Luật về họat động giám sát của Quốc hội cũng không quy định vấn đề này. Có thể nói, đây cũng chính là một “khoảng trống” cần được lấp đầy của Luật và ở khía cạnh này, yêu cầu quy định cụ thể, rõ ràng hơn về trình tự, thủ tục thực hiện giám sát văn bản của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội cũng là vấn đề cần sớm được quan tâm.

 

Thứ hai, sự phù hợp  của văn bản quy phạm pháp luật

Lâu nay, mặc dù khái niệm văn bản có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội (gọi chung là có dấu hiệu trái pháp luật) hay được nhắc đến, cả trong các văn bản quy phạm pháp luật (Điều 30 Luật về Hoạt động giám sát của Quốc hội, Điều 82a Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật v.v) cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúngSong việc hiểu và tiêu chí xác định như thế nào là văn bản có dấu hiệu trái pháp luật cũng là vấn đề đáng quan tâm. mức độ khái quát nhất, căn cứ vào Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có thể quy chiếu tiêu chí xác định văn bản có dấu hiệu trái pháp luật hay không thông qua việc xem xét các nội dung sau:

- Sự phù hợp của văn bản với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên;

- Sự phù hợp của hình thức văn bản với nội dung văn bản đó;

- Sự phù hợp của nội dung văn bản với thẩm quyền của cơ quan ban hành văn bản.[3]

Trong ba nội dung nêu trên, thì việc giám sát xác định sự phù hợp của văn bản với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; sự phù hợp của nội dung văn bản với thẩm quyền của cơ quan ban hành văn bản có thể nói là những nội dung khá phức tạp, không dễ dàng và đi vào các trường hợp cụ thể lại dễ phát sinh tranh luận, khó đi đến một nhận thức thống nhất. Bởi nhìn chung, tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật đều đã được xem xét, thẩm định, thẩm tra kỹ trong quá trình soạn thảo, xem xét thông qua các dự án luật, pháp lệnhtheo quy định của pháp luật hiện hành. Từ khía cạnh này, nội dung giám sát văn bản nên được triển khai như thế nào và thực tế ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thời gian qua đã và đang đặt ra những vấn đề cần được nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện.

Ví dụ, hiện nay, theo quy định tại Điều 26 Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý, thì Trợ giúp viên pháp lý ngoài chế độ tiền lương chung hàng tháng, còn được hưởng phụ cấp trách nhiệm theo nghề bằng 25% mức lương hiện hưởng cộng với phụ cấp vượt khung (nếu có) và còn được hưởng phụ cấp vụ việc khi trực tiếp thực hiện các dịch vụ pháp lý. Về vấn đề này, có ý kiến cho rằng do Luật Trợ giúp pháp lý không quy định về chế độ ưu tiên hoặc đãi ngộ đặc biệt nào đối với Trợ giúp viên pháp lý, nên việc đặt ra một chế độ phụ cấp ưu đãi đối với Trợ giúp viên pháp lý như trong Nghị định số 07 là thiếu căn cứ và từ đó, dẫn đến việc khẳng định rằng quy định tại Điều 26 Nghị định số 07 về nội dung này có dấu hiệu trái với Luật Trợ giúp pháp lý. Những minh chứng khác để củng cố cho lập luận này cũng được đưa ra là vấn đề phụ cấp, chế độ ưu tiên của cán bộ công chức ngành Toà án, ngành Kiểm sát cũng đều được quy định rõ trong Luật tổ chức Toà án nhân dân (Điều 44), trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (Điều 48). Trên cơ sở đó, các văn bản hướng dẫn thi hành mới có căn cứ để hướng dẫn, quy định cụ thể.

Tuy nhiên, ở một bình diện khác, lại có ý kiến cho rằng nội dung quy định của Nghị định số 07 nêu trên về chế độ phụ cấp của Trợ giúp viên pháp lý là không trái Luật Trợ giúp pháp lý, bởi vì, theo quy định tại khoản 2 Điều 46 Luật Trợ giúp pháp lý, thì “ban hành và tổ chức thực hiện các quy định về chuyên môn, nghiệp vụ, tiêu chuẩn, chế độ, chính sách, quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý” là một nội dung của quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý và thuộc thẩm quyền của Chính phủ. Căn cứ vào quy định này, Chính phủ ban hành Nghị định số 07 trong đó có nội dung quy định về chế độ phụ cấp của Trợ giúp viên pháp lý là phù hợp.

Trường hợp nêu trên là một ví dụ về sự tranh luận về tính phù hợp của văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết thi hành với một văn bản luật (Luật Trợ giúp pháp lý của Quốc hội). Tuy nhiên, thực tế vừa qua cho thấy, có một loại ý kiến khác được nêu ra và cũng rất đáng quan tâm là tính phù hợp của văn bản cần được nhìn nhận trong một ngữ cảnh rộng hơn, không chỉ xét trong sự phù hợp với một luật, một nghị quyết của Quốc hội, hay một pháp lệnh, một nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Theo đó, khi hướng dẫn thi hành một văn bản quy phạm pháp luật (ví dụ Luật Trợ giúp pháp lý), thì ngoài việc căn cứ vào các quy định cụ thể của Luật Trợ giúp pháp lý để hướng dẫn, có thể còn phải căn cứ vào những quy định trong các luật khác (chẳng hạn Luật tổ chức Chính phủ v.v) để hướng dẫn. Cũng theo lập luận này, nếu có những vấn đề Luật Trợ giúp pháp lý chưa quy định, song nếu căn cứ vào quy định của Luật tổ chức Chính phủ, có thể đưa vào nội dung của Nghị định để hướng dẫn. Do đó, việc xác định một văn bản hướng dẫn có phù hợp với văn bản được hướng dẫn (luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội) phải được nhìn nhận không chỉ là phù hợp với văn bản được hướng dẫn, mà còn xét cả trong mối quan hệ tổng thể với các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan. Cách hiểu và quan niệm như vậy sẽ tạo sự năng động, linh hoạt cho các chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản hướng dẫn; nhất là trong điều kiện chúng ta đang đứng trước một thực tế không thể phủ nhận là hiện nay, vẫn có trường hợp các luật, pháp lệnh, nghị quyết còn có không ít các quy định chung chung, mang tính nguyên tắc (hay còn gọi nôm na là “luật ống”, “luật khung”) đòi hỏi phải ban hành các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành thì mới có thể đi vào cuộc sống.

Để tiếp tục minh họa cho ý kiến này, có thể nêu ra ví dụ về trường hợp Nghị định số 50/2005/NĐ-CP ngày 11/4/2005 về cơ quan thi hành án dân sự và cán bộ, công chức làm công tác thi hành án dân sự (là Nghị định hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004). Mặc dù trong Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004, không có quy định về việc trang bị và cho phép Chấp hành viên sử dụng công cụ hỗ trợ, nhưng tại Điều 33 của Nghị định số 50 lại quy định việc trang bị và cho phép Chấp hành viên sử dụng công cụ hỗ trợ. Phản hồi ý kiến cho rằng quy định như vậy trong Nghị định số 50 là trái với Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004, có một loại ý kiến khác cho rằng Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 không phải là căn cứ pháp lý duy nhất để ban hành Nghị định hướng dẫn; mà nội dung cụ thể trong văn bản hướng dẫn mang tính chuyên ngành này có thể sẽ vượt ra khỏi phạm vi Pháp lệnh, nếu có căn cứ pháp lý khác (dù chỉ quy định mang tính chung chung, nguyên tắc) từ các văn bản quy phạm pháp luật khác. Chẳng hạn theo quy định tại khoản 3 Điều 14 Luật tổ chức Chính phủ, thì trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội, Chính phủ có nhiệm vụ và quyền hạn trong việc tổ chức và thực hiện các biện pháp phòng ngừa và đấu tranh chống các loại tội phạm, các vi phạm pháp luật. Do đó, khi ban hành Nghị định số 50 hướng dẫn Pháp lệnh Thi hành án dân sự, mặc dù Pháp lệnh không quy định nội dung trên (không cấm), nhưng căn cứ vào thẩm quyền chung theo quy định tại Điều 14 Luật tổ chức Chính phủ, thì việc quy định nội dung này trong Nghị định là phù hợp. Đây cũng là lý do có thể giải thích cho việc ngay trang đầu tiên của Nghị định số 50 có nêu các căn cứ: “Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001” và “Căn cứ Pháp lệnh Thi hành án dân sự ngày 14 tháng 01 năm 2004” v.v

Liên quan đến nội dung này, có thể nêu ra một hiện tượng với xu hướng tương tự dường như đang tồn tại trong công tác ban hành văn bản hướng dẫn hiện nay: một là, có những vấn đề đã được luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về nguyên tắc, trên cơ sở đó, các văn bản hướng dẫn mới cụ thể hoá. Xu hướng thứ hai là: mặc dù luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội chưa quy định, nhưng các văn bản hướng dẫn thi hành (căn cứ vào thẩm quyền chung, tương tự như ví dụ về Điều 14 Luật tổ chức Chính phủ nêu trên), để phúc đáp yêu cầu quản lý, điều hành v.vvẫn hướng dẫn quy định cụ thể. Đánh giá và nhận xét sau đây (mặc dù chỉ trong phạm vi hẹp là gắn với vấn đề về chế độ, chính sách) nhưng cũng đã phần nào minh họa cho vấn đề này:

Hiện nay, trong hệ thống pháp luật và một số lĩnh vực quản lý khi quy định về chế độ, chính sách có một số văn bản luật quy  định mang tính nguyên tắc về chế độ ưu đãi và giao Chính phủ quy định cụ thể (***)nhưng cũng có một số lĩnh vực luậtn, pháp lệnh không có những quy định mang tính nguyên tắc về chế độ ưu đãi nhưng căn cứ vào Luật tổ chức Chính phủ, Pháp lệnh Cán bộ, công chức, tính chất công việc và đặc thù nghề nghiệp, Chính phủ vẫn quy định chế độ phụ cấp ưu đãi.

Ví dụ: Luật Thanh tra, Pháp lệnh Thi hành án dân sự không quy định các chức danh Thanh tra, Chấp hành viên được hưởng chế độ phụ cấp ưu đãi nhưng căn cứ vào tính chất nghề nghiệp, Chính phủ vẫn quy định chế độ phụ cấp chế độ trách nhiệm theo nghề đối với Thanh tra viên tại Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ và Quyết định số 202/2005/QĐ-TTg ngày 09/8/2005 của Thủ tướng Chính phủ; chế độ phụ cấp đối với Chấp hành viên tại Nghị định số 50/2005/NĐ-CP ngày 11/4/2005 của Chính phủ (Điều 34) và Quyết định số 233/2005/QĐ-TTg ngày 26/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ (Điều 1)”[4]

Nhìn vào thực tế nêu trên, một câu hỏi cần được đặt ra là vậy thì công tác ban hành văn bản hướng dẫn nên đi theo hướng nào? Có ý kiến cho rằng việc thực hiện theo xu hướng thứ nhất như đã làm hiện nay là cách thức được cho là bảo đảm nguyên tắc pháp chế triệt để nhất và có lẽ, hầu như không có sự tranh luận về việc ban hành văn bản hướng dẫn theo hướng này. Cách thức thứ hai, năng động, linh họat hơn, phúc đáp kịp thời và gắn với yêu cầu quản lý, chỉ đạo, điều hànhvà cũng không hẳn là không bảo đảm căn cứ pháp lý của việc hướng dẫn, nếu hiểu sự phù hợp của văn bản hướng dẫn không chỉ là sự phù hợp đối với riêng một văn bản chuyên ngành được hướng dẫn, mà sự phù hợp này có tính đến và đặt trong mối quan hệ với tổng thể các văn bản quy phạm pháp luật khác như đã nêu ở trên. Có thực tế là việc ban hành văn bản hướng dẫn theo hướng này đôi khi thường gắn với sự tranh luận. Về vấn đề này, chúng tôi cho rằng, hướng đi thứ hai trong công tác ban hành văn bản hướng dẫn, tự thân nó, là một nhu cầu của cuộc sống. Tuy nhiên, đối với những văn bản quy phạm pháp luật mang tính chuyên ngành (chẳng hạn như Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Hải quan, Pháp lệnh Thi hành án dân sự v.v..), thì nhìn chung, văn bản hướng dẫn trong lĩnh vực này phải bám sát vào những nội dung của Luật, Pháp lệnh chuyên ngành đó mà hướng dẫn. Nếu ở đây, lập luận rằng các luật, pháp lệnh chuyên ngành này tuy không quy định, hoặc không giao cho cơ quan có thẩm quyền quy định chi tiết, nhưng căn cứ vào văn bản quy phạm pháp luật khác (chẳng hạn như Luật tổ chức Chính phủ), thì các văn bản hướng dẫn trong lĩnh vực chuyên ngành nêu trên vẫn có thể quy định những nội dung mới, thì vô hình trung, ý nghĩa, sự cần thiết của các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành này đã không còn nguyên vẹn. Thậm chí, ở một mức độ cường điệu, có ý kiến còn cho rằng trong trường hợp này, không nhất thiết phải ban hành các luật, pháp lệnhchuyên ngành, mà chỉ cần căn cứ vào Luật tổ chức Chính phủ để ban hành văn bản hướng dẫn quy định cụ thể. Tuy nhiên, cũng có một nội dung cần lưu tâm đến và nên được phân định một cách tách bạch với lập luận trên đây, đó là trường hợp ban hành Nghị định quy định những vấn đề hết sức cần thiết (có thể hiểu theo nghĩa bao hàm cả những vấn đề mới, chưa được pháp luật hiện hành quy định), nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Song đây cũng là trường hợp mà pháp luật quy định việc ban hành này phải được sự đồng ý của Uỷ ban thường vụ Quốc hội[5].

Có thể nói, giám sát văn bản quy phạm pháp luật là một công việc phức tạp cả về lý luận và thực tiễn. Do đó, những vấn đề nêu trên xin được coi là những ý kiến trao đổi mang tính bước đầu về những vấn đề đang còn rất gợi më nµy./.

 [1] GS, TS. Trần Ngọc Đường, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 3/2003, “Quyền giám sát tối cao của Quốc hội và quyền giám sát của các cơ quan của Quốc hội”.

 

[2] Xin xem thêm Lụât Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (đã được sửa đổi, bổ sung), Điều 80a. Mục đích giám sát, kiểm tra.

[3] Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (đã được sửa đổi, bổ sung), Điều 80b. Nội dung giám sát, kiểm tra.

[4] Công văn số 31/CP-XDPL ngày 27/4/2007 do Bộ trưởng Bộ Tư pháp thừa uỷ quyền Thủ tướng Chính phủ giải trình một số vấn đề về Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý, trang 3.

[5] Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (đã được sửa đổi, bổ sung), Điều 56 khoản 2, điểm b.

(Bài viết đăng trên TCNCLP số 99, tháng 6/2007)

Ths. Trần Văn Thuân
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Bổ sung địa vị pháp lý của Kiểm toán Nhà nước và Tổng Kiểm toán Nhà nước trong Hiến pháp (15/01/2013)
Cơ chế kiểm soát hoạt động tư pháp - những vấn đề đang đặt ra và phương hướng đổi mới (15/01/2013)
Bàn thêm về vấn đề sửa đổi Hiến pháp 1992 nhìn từ nguyên tắc chủ quyền nhân dân (11/10/2012)
Những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện về điều kiện hoạt động của đại biểu Quốc hội (20/02/2012)
Góp bàn về Sửa đổi Hiến pháp ở Việt Nam (23/09/2011)
Lại bàn về bài học từ Hiến pháp 1946 (22/09/2011)
Quy trình sửa đổi, bổ sung hiến pháp và sự lựa chọn cho Việt Nam trong bối cảnh hiện nay (19/09/2011)
Lại bàn về bài học từ Hiến pháp 1946 (22/09/2011)
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em qua công tác xét xử ở khu vực miền Trung - Tây nguyên

Tổng quan và đánh giá các quy định của pháp luật về đại biểu Quốc hội ở Việt Nam

các điều kiện bảo đảm thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước

kinh nghiệm xây dựng thể chế tự quyết cho các thành phố văn minh

Vai trò của Toà Hành chính trong bảo đảm quyền công dân theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015

về tính độc lập và quyền miễn trừ của thẩm phán

Những nội dung về bảo vệ môi trường trong xây dựng và phát triển các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt

Đặc điểm, yêu cầu và thực trạng phân cấp quản lý đất đai hiện nay

Mô hình hợp tác nghề cá ở các vùng biển chồng lấn, đang tranh chấp của một số quốc gia

Đối tượng của quyền hưởng dụng trong pháp luật Việt Nam

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân