Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ sáu, 25/05/2018, 16:05(GMT+7)
 
Tổ chức bộ máy nhà nước

Mấy vấn đề về công tác xây dựng pháp luật của đại biểu Quốc hội
Quốc hội là cơ quan lập pháp nên có thể nói nhiệm vụ xây dựng pháp luật là nhiệm vụ hàng đầu của Quốc hội và đại biểu Quốc hội. Từ khóa I năm 1946 đến hết khóa XI năm 2007, Quốc hội các khóa đã thông qua 4 Hiến pháp, 220 luật, Bộ luật và Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã thông qua 199 pháp lệnh. Trong đó, Hiến pháp năm 1992, 129 Luật, Bộ luật và 119 pháp lệnh đang có hiệu lực thi hành.

 

Quốc hội là cơ quan lập pháp nên có thể nói nhiệm vụ xây dựng pháp luật là nhiệm vụ hàng đầu của Quốc hội và đại biểu Quốc hội. Từ khóa I năm 1946 đến hết khóa XI năm 2007, Quốc hội các khóa đã thông qua 4 Hiến pháp, 220 luật, Bộ luật và Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã thông qua 199 pháp lệnh. Trong đó, Hiến pháp năm 1992, 129 Luật, Bộ luật và 119 pháp lệnh đang có hiệu lực thi hành. Công tác xây dựng pháp luật của các khóa Quốc hội đã thể chế hóa được chủ trương, đường lối của Đảng, ý chí nguyện vọng của nhân dân, phục vụ đắc lực có hiệu quả cho nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn. Cùng với sự trưởng thành và phát triển của Quốc hội, công tác xây dựng pháp luật của Quốc hội ngày càng được đổi mới, đẩy mạnh về tiến độ và nâng cao về chất lượng. Đóng góp vào thành tựu này, có trí tuệ và công sức to lớn của các đại biểu Quốc hội. Các văn bản Luật, pháp lệnh nói trên chủ yếu được Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội từ khóa VIII (1987-1992) đến khóa XI (2002-2007) xây dựng và thông qua (tức là chủ yếu được xây dựng và ban hành trong hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới). Vì vậy hệ thống văn bản pháp luật hiện hành đang phục vụ cho việc chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, đổi mới hệ thống chính trị, bảo vệ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Mặt khác, do được xây dựng và ban hành trong thời kỳ chuyển đổi cơ chế quản lý (từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; từ nền kinh tế kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa), nên không thể ngay một lúc mọi văn bản pháp luật đều bảo đảm được chất lượng cao nhất và có giá trị thực tiễn lâu dài. Đây cũng chính là vấn đề mà chúng ta phải bàn, phải xử lý. Nói cách khác, là phải trả lời câu hỏi làm gì để nâng cao được chất lượng công tác xây dựng pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Giải đáp cho được vấn đề này có trách nhiệm của nhiều bên trong quá trình xây dựng luật, nhưng trong đó, trách nhiệm của đại biểu Quốc hội, người đóng góp, thảo luận để đi đến bấm nút “khai sinh” cho một đạo luật là cực kỳ quan trọng.

Để tham gia xây dựng (thảo luận, đóng góp ý kiến) và đi đến quyết định đúng đắn, đại biểu Quốc hội cần thực hiện đầy đủ, nghiêm túc một số công việc như sau:

I- Nghiên cứu, nắm vững những kiến thức cơ bản cần thiết về pháp luật

Những kiến thức cơ bản về pháp luật là hết sức phong phú và có nhiều vấn đề chi tiết, cụ thể; ở đây chỉ xin giới thiệu một vài nét sơ đẳng nhất nhưng lại thường không được chú ý đầy đủ nên dễ phát sinh những sai sót khi xây dựng một đạo luật.

1, Về các thuộc tính của pháp luật:

Cho đến nay các nhà khoa học pháp lý đã khái quát được 3 thuộc tính cơ bản, đó là:

- Tính quy phạm phổ biến;

- Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức;

- Tính được bảo đảm bằng Nhà nước.

Trong ba thuộc tính trên, thì hai thuộc tính đầu rất dễ bị nhầm lẫn nếu không lưu ý đầy đủ. Chúng ta đều biết, tính quy phạm không chỉ ở luật pháp mới có mà các quan hệ xã hội khác cũng có tính quy phạm, như điều lệ của một tổ chức chính trị, điều lệ của một đoàn thể, của một hội, hương ước của một làng bản, hoặc về đạo đức tập quán của địa phương này, địa phương khác… cũng có những quy phạm của nó. Sự khác nhau là ở chỗ pháp luật mang tính quy phạm phổ biến và thống nhất (đã là luật thì ai cũng phải thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc và mọi người đều bình đẳng trước pháp luật); còn quy phạm của các quan hệ xã hội khác thì chỉ trong phạm vi hẹp, thậm chí rất hẹp. Có những quy phạm, đạo đức hay tập quán có thể có ở những nơi này nhưng lại không có ở nơi khác; hương ước của làng này có thể khác với hương ước của làng kia… Nếu không nắm vững thuộc tính tính quy phạm phổ biến của pháp luật thì rất có thể, chúng ta sẽ tranh luận mất nhiều thời giờ và đưa vào luật cả những quy phạm không phổ biến, không bao quát. Khi Quốc hội xây dựng Luật Hôn nhân và gia đình sửa đổi, có ý kiến đề nghị đổi mới sự bình đẳng thì nên quy định “Từ nay tất cả nam giới khi lấy vợ đều phải ở rể”; nhưng nhiều ý kiến đã chỉ ra rằng, nếu quy định như vậy thì ở nhiều vùng sẽ không thể nào thực hiện được, nhất là các chàng rể là cán bộ các cơ quan nhà nước, các chiến sĩ đang làm nhiệm vụ ở hải đảo, biên cương)…

Còn tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức có thể coi là một yêu cầu cao trong việc xây dựng pháp luật. Nội dung của luật phải được xác định rõ ràng, chặt chẽ để trong cùng một điều kiện bất cứ ai cũng không thể làm khác được. Ngược lại, nếu các quy phạm pháp luật quy định không rõ, không chính xác, không đủ, không bao quát thì việc thực hiện sẽ rất khó khăn (khó khăn cho cả việc tuân theo, tuân thủ, vận dụng và áp dụng luật). Tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa X thảo luận để thông qua hai đạo luật là Luật Khiếu nại, tố cáo và Bộ luật Hình sự sửa đổi,  có hàng chục vấn đề được tranh luận nằm trong thuộc tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức của luật. Chỉ riêng Bộ luật Hình sự có tới 8 loại vấn đề thuộc nội dung này, trong đó có vấn đề rất lớn và rất mới là có quy định trách nhiệm hình sự của các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, xã hội hay không. Vì đã có ý kiến cho rằng, trong trường hợp một hành vi phạm tội nhằm mưu lợi bất chính cho cả một cơ quan, cả một tổ chức mà chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một hai cá nhân cụ thể, còn tất cả cơ quan, tổ chức đã được hưởng lợi lại đứng ngoài một cách “vô can” là không thỏa đáng. Vô hình chung, pháp luật khuyến khích tổ chức, cơ quan chạy theo lợi ích bất chính, nguy hiểm cho xã hội. Đây là vấn đề mà dư luận xã hội băn khoăn, cần được quan tâm xử lý đúng mức. Nhưng quy định thế nào để bảo đảm tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức của luật thì đúng là phải bàn luận thật kỹ càng và chuẩn xác, vì rằng không thể bỏ tù tất cả mọi người trong một cơ quan, một tổ chức, nhưng cũng không thể không có trách nhiệm gì khi mắc tội và hưởng lợi bất chính. Bộ luật Hình sự đã quy định theo hướng “Cá thể hóa” mức độ phạm tội của từng người để xử lý.

2, Về quy phạm pháp luật:

Trước khi nói quy phạm pháp luật thì rất cần thiết phải biết thế nào là quy phạm. Khoa học pháp lý đã xác định, “quy phạm là mệnh lệnh thể hiện ý chí của con người mang tính điều chỉnh dựa trên cơ sở phản ảnh các quy luật của tự nhiên và xã hội, chứa đựng những thông tin về một trật tự hợp lý của hoạt động trong một điều kiện nhất định”. Mỗi quy phạm đều có 3 thuộc tính cơ bản:

- Quy phạm là khuôn mẫu, là thước đo của hành vi xử sự;

- Quy phạm được hình thành từ nhận thức các quy luật khách quan;

- Quy phạm có nội dung phản ánh chức năng điều chỉnh hành vi, vì thế nó có cấu trúc xác định.

Có hai loại quy phạm là quy phạm kỹ thuật và quy phạm xã hội.

Từ quy phạm nói chung, chúng ta có thể hiểu “quy phạm pháp luật của chúng ta là quy tắc bắt buộc chung của hành vi, thể hiện ý chí của nhân dân lao động do Nhà nước ta định ra hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội”.

Trong quy phạm pháp luật còn có hàng loạt các vấn đề như cấu trúc của quy phạm (giả định, quy định, chế tài); phương thức và đặc điểm thể hiện cấu trúc của quy phạm trong điều luật, các dạng cơ bản của quy phạm; văn bản quy phạm pháp luật và hiệu lực của các văn bản… nhưng ở đây, chúng ta không đi sâu về những lý luận đó mà chỉ xin lưu ý một vài sai sót, nhầm lẫn để cố tránh khi tham gia xây dựng luật.

- Nhầm lẫn thứ nhất là có người cho rằng quy phạm pháp luật nói riêng hay pháp luật nói chung đều do con người (do chúng ta) làm ra, vì vậy chỉ cần ý chí chủ quan áp đặt của chúng ta là đủ, không cần bàn đến điều kiện khách quan, không cần bàn đến quy luật hay tính quy luật. Có thể coi đây là một nhầm lẫn đáng tiếc, phải khắc phục càng sớm càng tốt, càng triệt để càng hay. Bởi vì khái niệm quy phạm đã chỉ rõ, ý chí mang tính điều chỉnh nhưng phải trên cơ sở phản ánh các quy luật tự nhiên và xã hội, không thể nghĩ như thế nào thì quy định vào luật như thế ấy, bất chấp thực tiễn khách quan. Trước đây, khi thảo luận để bổ sung sửa đổi ba nhóm tội phạm bức xúc nhất trong Bộ luật Hình sự (tham nhũng, mà túy và xâm phạm tình dục vị thành niên), một số đại biểu quá bực dọc đối với những kẻ phạm tội nên đã kiến nghị xây dựng những quy phạm hết sức khắt khe nhưng lại không tìm được một giới hạn hợp lý trong thực tế để đưa ra chế tài xử lý. Chẳng hạn, có đại biểu kiến nghị, biếu quà và nhận quà biếu cũng là một tội danh phải được quy định thành quy phạm và phải xử lý nghiêm ngặt. Các đại biểu khác đã trao đổi lại rất có tình có lý rằng: Mặc dù trong xã hội đang diễn ra việc tặng quà, cho quà, biếu quà, nhận quà… hết sức đa dạng và phức tạp, nhưng có thể sắp xếp lại trong ba dạng quan hệ chính. Một là quan hệ biếu nhận quà giữa những người dân với nhau, quan hệ này nhìn chung là quan hệ tình cảm tốt đẹp, thăm nom nhau khi ốm đau, khi có việc vui đáng mừng, khi có việc buồn đáng hỗ trợ. Vì vậy người dân tự xử lý “có đi, có lại mới toại lòng nhau”. Vì thế Bộ luật Hình sự không cần phải điều chỉnh việc tặng biếu quà trong nhân dân. Hai là quan hệ đưa, nhận quà giữa một bên là người dân và một bên là cán bộ cơ quan nhà nước để giải quyết một công việc nào đó. Ba là quan hệ đưa, nhận quà giữa một bên là cán bộ cơ quan này với một bên là cán bộ cơ quan khác. Chính hai mối quan hệ sau mới phải điều chỉnh trong luật, nhưng cũng không thể quy định thành tội danh “đưa, nhận quà biếu”. Để xử lý hai mối quan hệ này, trong luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 11 đã quy định một số điều, trong đó Điều 228a có tên gọi là “tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi”. Còn trong Luật Phòng, chống tham nhũng Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29 tháng 12 năm 2005, thì tại Điều 3 tên của các hành vi tham nhũng đó là “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ vì vụ lợi”; “Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi”…

Như vậy, chúng ta có thể hiểu chỉ có quà biếu mang tính hối lộ mới được quy định trong luật và được xử lý theo luật. Đưa ra ví dụ trên để chúng ta thống nhất với nhau rằng, khi xây dựng một quy phạm pháp luật là phải tính đến điều kiện thực tiễn, tính đến các quy luật khách quan. Có như vậy, ý chí của người làm luật và quy phạm pháp luật mới có giá trị pháp lý và giá trị điều chỉnh quan hệ xã hội.

- Nhầm lẫn thứ hai là, có người cho rằng luật chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội, vì vậy khi làm luật chỉ cần nghiên cứu các quy luật và tính quy luật của xã hội là đủ (không cần xem xét đến các quy luật tự nhiên và kinh tế). Theo chúng tôi, nếu hiểu như thế thì quả là một nhầm lẫn to lớn, tuy nhiên lại rất dễ nhìn nhận ra nhầm lẫn này khi chúng ta tiếp cận với những dự án luật thuộc các ngành luật: kinh tế, tài chính, đất đai, lao động…

Chúng ta đều biết, trong mối liên hệ giữa pháp luật và kinh tế thì các điều kiện kinh tế không chỉ là yếu tố trực tiếp quyết định sự ra đời của pháp luật mà còn quyết định toàn bộ nội dung và sự phát triển của nó (cơ cấu kinh tế, hệ thống kinh tế quyết định cơ cấu của hệ thống pháp luật; tính chất của các quan hệ kinh tế, của cơ chế kinh tế quyết định tính chất của các quan hệ pháp luật, mức độ và phương pháp điều chỉnh của pháp luật; các tổ chức, các cơ quan luật pháp, các thủ tục pháp lý chịu ảnh hưởng có tính quyết định từ chế độ kinh tế).

Rất rõ ràng là khi xây dựng các luật thuế, luật đầu tư, luật ngân sách, luật ngân hàng, luật các tổ chức tín dụng… mà không tính đến các quy luật kinh tế (gồm cả các quy luật chung cho nhiều phương thức sản xuất cũng như quy luật riêng cho phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa) thì chắc chắn, các luật đó sẽ không thể nào chứa đựng được những nội dụng cốt lõi, những quan hệ xã hội cần điều chỉnh của luật.

Còn khi xây dựng các luật tài nguyên nước, luật khoáng sản, luật dầu khí, luật môi trường, luật khoa học và công nghệ thì không thể không nghiên cứu một cách đầy đủ kỹ lưỡng những quy luật tự nhiên có liên quan.

Nhân đây cũng cần nói thêm rằng, thế mạnh trong công tác xây dựng luật của chúng ta là trong Quốc hội có tương đối đầy đủ các đại biểu hoạt động ở các lĩnh vực khoa học, kinh tế, xã hội vì thế nhầm lẫn thứ hai này đã và đang được khắc phục nhanh chóng.

- Nhầm lẫn (hay thiếu sót) thứ ba là, không ít đại biểu muốn phóng ra những quy phạm pháp luật mang tính cấm đoán nhưng lại thiếu chế tài thực hiện. Về mặt lý thuyết thì những quy phạm này chưa đúng nghĩa là một quy phạm (vì thế cũng có thể gọi là quy phạm “què”). Bởi vì đã gọi là một quy phạm pháp luật thì cấu trúc của nó phải có đủ ba yếu tố hợp thành, đó là giả định, quy định và chế tài (chỉ có khác là phương pháp quy định - quy định ngay trong một điều luật hoặc tất cả các chế tài quy định thành phần riêng). Nếu thiếu một yếu tố, một thành phần nào thì quy phạm đó không hoàn chỉnh. Mỗi thành phần đều có ý nghĩa quan trọng của nó; riêng chế tài, đó là những biện pháp tác động mà nhà nước dự kiến áp dụng đối với chủ thể khi không thực hiện đúng mệnh lệnh của nhà nước nói ở phần quy định của quy phạm pháp luật. Về thực tiễn, nếu một quy phạm pháp luật thiếu mất chế tài thì phần quy định sẽ bị thực hiện tùy tiện, dẫn đến việc áp dụng luật của các cơ quan nhà nước rất khó khăn, thậm chí là thiếu công bằng, bất bình đẳng. Hậu quả là luật không có hiệu quả pháp lý.

Theo nhìn nhận của chúng tôi, thì thiếu sót này hiện nay đang tồn tại trong một phạm vi rộng (có cả ở người soạn thảo và có cả ở người thông qua), cần phải tích cực khắc phục. đây đòi hỏi một sự nhạy bén với mức độ cao, khi hình thành những quy định thì phải nghĩ ngay đến điều kiện thực hiện và phải nghĩ ngay đến việc không thực hiện nghiêm túc các quy định đó thì phải xử lý theo những phương án nào và mức độ ra sao.

Chúng tôi cho rằng, việc nghiên cứu nắm vững một vài vấn đề cơ bản, cần thiết về lý thuyết pháp lý và việc khắc phục tối đa những nhầm lẫn, khiếm khuyết như đã trình bày ở trên sẽ có thể giúp cho đại biểu có được những ý kiến đóng góp xác đáng trong công tác xây dựng pháp luật.

II- Một vài nét về việc thẩm tra một dự án luật

Nhiệm vụ thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh của Hội đồng dân tộc và các y ban của Quốc hội đã được quy định từ Điều 26 đến Điều 33 Luật tổ chức Quốc hội. Một vấn đề có tính nguyên tắc khi tiến hành thẩm tra cũng đã được quy định tại Điều 35 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật “...Khi thẩm tra chính thức, cơ quan thẩm tra phải tiến hành phiên họp toàn thể... Trong trường hợp dự án luật... được giao cho nhiều cơ quan phối hợp thẩm tra, thì cơ quan được giao chủ trì thẩm tra có trách nhiệm tổ chức phiên họp liên tịch để tiến hành thẩm tra.

Báo cáo thẩm tra phải phản ảnh đầy đủ ý kiến của thành viên cơ quan thẩm tra”.

Nếu xây dựng pháp luật là công việc chung của Quốc hộiN, của mọi đại biểu Quốc hội thì việc thẩm tra các dự án luật chủ yếu là do các y ban và Hội đồng dân tộc thực hiện. Theo cơ cấu tổ chức Quốc hội khóa XII thì các y ban và Hội đồng dân tộc có 359 thành viên (chiếm 72,82% tổng số đại biểu Quốc hội) và 151 đại biểu chuyên trách (chiếm 30,62% tổng số đại biểu). Theo cách làm hiện nay thì một dự án luật có ít nhất hai lần thẩm tra. Lần thẩm tra thứ nhất là giúp cho y ban Thường vụ Quốc hội thảo luận cho ý kiến để ban soạn thảo hoàn chỉnh dự án với mức cao nhất trong khả năng cho phép trước khi dự án được trình ra Quốc hội. Lần thẩm tra thứ hai là ngay tại kỳ họp, nhằm định hướng cho các đại biểu Quốc hội cân nhắc, lựa chọn, quyết định từng điều, khoản, chương, mục và toàn bộ dự án luật. Với ý nghĩa đó thì chất lượng văn bản thẩm định, quan điểm, lý lẽ của cơ quan thẩm định là cực kỳ quan trọng. Do đó nhiệm vụ của từng thành viên các y ban và Hội đồng dân tộc, từng đại biểu chuyên trách là rất nặng nề và phải làm việc thật nghiêm túc thì mới đạt được yêu cầu thẩm tra nói trên. Lực lượng nòng cốt này mà thống nhất được những vấn đề then chốt, cốt lõi của một dự án luật thì chắc chắn, phiên họp toàn thể của Quốc hội sẽ đạt được sự thống nhất cao và tiết kiệm được thời gian.

đây, chúng tôi chỉ nêu lên những vấn đề thuộc phạm vi thẩm tra và một vài khiếm khuyết trong công tác thẩm tra cần được khắc phục và loại bỏ.

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã quy định rằng, cơ quan thẩm tra được tiến hành thẩm tra tất cả các mặt của dự án, nhưng phải tập trung vào 4 vấn đề chủ yếu là:

- Sự cần thiết ban hành luật; đối tượng, phạm vi điều chỉnh;

- Sự phù hợp của nội dung dự án với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, tính hợp hiến, hợp pháp của dự án và tính thống nhất của văn bản với hệ thống pháp luật;

- Việc tuân thủ thủ tục và trình tự soạn thảo;

- Tính khả thi của dự án.

vấn đề thứ nhất (sự cần thiết), dù sao dự án luật cũng đã được xác định một bước trong quá trình hình thành chương trình xây dựng luật, pháp lệnh cho một năm hoặc cho toàn khóa. Khi ấy Quốc hội thấy có cần thiết thì mới đưa vào chương trình. Vì vậy, khi cơ quan thẩm tra xem xét cũng chỉ thảo luận với chừng mực nhất định, vì nếu không cần thiết thì sẽ không đưa vào chương trình. Song đạt đến độ chuẩn xác cho được đối tượng, phạm vi điều chỉnh lại là vấn đề rất phức tạp. Trở lại lý thuyết pháp lý một chút, chúng ta phải phân biệt rõ hai loại phạm vi điều chỉnh. Một là phạm vi điều chỉnh của toàn bộ pháp luật, đó là phạm vi các quan hệ xã hội được pháp luật nói chung điều chỉnh. Còn phạm vi điều chỉnh của một văn bản luật là phạm vi các quan hệ xã hội chỉ được một văn bản luật nào đó điều chỉnh. Tức là các quan hệ xã hội được điều chỉnh trong một văn bản luật cụ thể sẽ hẹp hơn nhiều so với các quan hệ xã hội do toàn bộ các văn bản pháp luật điều chỉnh. Nếu không phân biệt được giới hạn thì sẽ dẫn đến việc xác định không rõ đối tượng phạm vi điều chỉnh của một dự án luật. Hậu quả tiếp theo là các điều luật của dự án sẽ rất khó được quy định chặt chẽ; các chương, mục, điều sẽ rất khó ăn khớp và thống nhất với nhau. Nếu thẩm tra mà xem nhẹ hoặc bỏ qua, hoặc không thể hiện rõ chính kiến về điều này thì thật là khó cho việc xây dựng các quy phạm trong các điều luật tiếp theo (khi thảo luận dự án Luật Khiếu nại, tố cáo tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa X, vấn đề tồn tại lớn nhất vẫn là phạm vi điều chỉnh của dự án luật này. Xây dựng một luật bao gồm cả khiếu nại, cả tố cáo hay là chia ra hai luật; điểm dừng của việc giải quyết khiếu nại, điểm dừng của việc giải quyết tố cáo có như nhau không...).

loại vấn đề thứ hai (sự phù hợp với đường lối chủ trương, tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất), theo chúng tôi đây là vấn đề cực khó. Cơ quan thẩm tra phải làm việc với tinh thần “lao tâm khổ tứ” mới mong có hiệu quả cao. Trước hết là từ chủ trương, đường lối của Đảng, phải quy định thành các quy phạm pháp luật với các thành tố giả định, quy định và chế tài. Cơ quan thẩm tra phải nắm chắc các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, đồng thời phải nắm vững kỹ thuật lập pháp thì mới phát hiện được những sơ hở hoặc sai sót của dự án. Có một thực tế là hiện nay tuyệt đại bộ phận các dự án luật đều do các cơ quan hành pháp soạn thảo. Một số cơ quan, trong một số dự án luật thường quy định những điều luật sao cho thuận lợi cho mình khi thực hiện, hơn thế nữa còn khéo léo quy định để bảo đảm được quyền lợi riêng mang tính cục bộ. Chính vì vậy, khi thẩm tra, chẳng những phải hết sức lưu ý đến quan điểm, đường lối của Đảng, mà còn phải xem xét kỹ càng xem luật đó có đạt được yêu cầu phục vụ đông đảo quần chúng nhân dân không. Muốn đạt được yêu cầu đó, đại biểu Quốc hội phải thực sự nâng cao trình độ của mình, phải nắm vững Hiến pháp, nắm được những vấn đề cơ bản của hệ thống pháp luật mới phát hiện được những quy định chồng chéo, những mâu thuẫn giữa các điều luật và mâu thuẫn giữa luật này với luật khác, mới “lấp đầy được những khoảng hở” trong các quy định. đây còn đòi hỏi phải phát huy cao độ tính khách quan, tính trung thực, tính thẳng thắn của đại biểu. Dù mình có hoạt động trong ngành đó, lĩnh vực đó, cũng phải đặt lợi ích toàn cục lên trên. Nếu làm ngược lại thì có nghĩa là chính đại biểu đã làm giảm tính khả thi của dự án luật.

Về việc tuân thủ thủ tục và trình tự soạn thảo thì nhìn chung, không có những việc thật sự gay cấn hay nổi cộm, chỉ có việc tổ chức soạn thảo phải bao gồm đủ thành phần quy định, soạn thảo sao cho khoa học, tập trung được trí tuệ, tài năng, không nhất thiết phải nhiều lần dự thảo mà vấn đề là chất lượng văn bản. Việc này về cơ bản lại thuộc “tài năng” của ban soạn thảo.

Vấn đề thứ tư là thẩm tra tính khả thi của dự án luật. Đây là vấn đề có ý nghĩa đa chiều nhiều bên (ý nghĩa về xã hội, ý nghĩa về pháp lý, ý nghĩa về thực tiễn, ý nghĩa về trình độ soạn thảo, ý nghĩa về sự quyết định “khai sinh” một đạo luật…). Nhưng quan trọng nhất là một đạo luật ra đời được cuộc sống thực tiễn chấp nhận như thế nào, có giải đáp, có thúc đẩy được các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh tiến bộ hơn, tốt đẹp hơn không. Thẩm tra cho được những vấn đề đó quả là không đơn giản. Để thực hiện có chất lượng công việc này, có lẽ ngoài kiến thức pháp lý ra, đại biểu phải có độ dài thời gian công tác và bề dày kinh nghiệm hoặc có sự tích lũy hiểu biết chuyên sâu về lĩnh vực mà dự án luật điều chỉnh.

Thực tiễn cho thấy, khi thẩm tra một dự án luật nói chung và tính khả thi rói riêng phải có sự kết hợp khá chặt chẽ và nhuần nhuyễn giữa hai hay nhiều loại kiến thức, trước hết là sự kết hợp giữa kiến thức của các luật gia và kiến thức của các nhà chuyên môn về lĩnh vực mà dự án luật điều chỉnh. Có thể nói, “tính khả thi của dự án luật bằng kỹ thuật lập pháp cao cộng với tri thức chuyên môn sâu”. Kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khoá XII sắp tới sẽ có báo cáo thẩm định về dự án Luật Thuế thu nhập cá nhân (dự án luật này điều chỉnh không trừ một ai có thu nhập), chắc chắn là tất cả các đại biểu sẽ lựa chọn được những ý kiến xác đáng cho dự án luật để quy định được những điều luật hợp lý nhất, vừa bảo đảm được lợi ích toàn cục của quốc gia, vừa bảo đảm được lợi ích và nghĩa vụ của mỗi công dân có thu nhập.

*

*          *

Nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật đòi hỏi phải thực hiện có hiệu quả, ăn khớp, đồng bộ hàng loạt các vấn đề. Trong đó, đại biểu Quốc hội có trách nhiệm chủ yếu ở hai loại vấn đề mà Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã quy định. Đó là đóng góp ý kiến của mình khi được lấy ý kiến và suy nghĩ cân nhắc từng điều, khoản, chương, mục để quyết định khi thông qua dự án luật tại kỳ họp của Quốc hội. Đây là hai loại việc có tính quyết định cho sự ra đời một đạo luật, vì vậy đại biểu Quốc hội phải không ngừng nâng cao kiến thức pháp lý và kỹ năng lập pháp; phải ngày càng tinh thông nghiệp vụ và sâu sát cuộc sống thực tế. Có như vậy mới hy vọng nhiệm vụ lập pháp, một nhiệm vụ trọng đại nhất của đại biểu Quốc hội, ngày càng hoạt động tốt hơn.

(Bài viết đăng trên TCNCLP số 103, tháng 8/2007)

TS. Bùi Ngọc Thanh
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Bổ sung địa vị pháp lý của Kiểm toán Nhà nước và Tổng Kiểm toán Nhà nước trong Hiến pháp (15/01/2013)
Cơ chế kiểm soát hoạt động tư pháp - những vấn đề đang đặt ra và phương hướng đổi mới (15/01/2013)
Bàn thêm về vấn đề sửa đổi Hiến pháp 1992 nhìn từ nguyên tắc chủ quyền nhân dân (11/10/2012)
Những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện về điều kiện hoạt động của đại biểu Quốc hội (20/02/2012)
Góp bàn về Sửa đổi Hiến pháp ở Việt Nam (23/09/2011)
Lại bàn về bài học từ Hiến pháp 1946 (22/09/2011)
Quy trình sửa đổi, bổ sung hiến pháp và sự lựa chọn cho Việt Nam trong bối cảnh hiện nay (19/09/2011)
Lại bàn về bài học từ Hiến pháp 1946 (22/09/2011)
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em qua công tác xét xử ở khu vực miền Trung - Tây nguyên

Tổng quan và đánh giá các quy định của pháp luật về đại biểu Quốc hội ở Việt Nam

các điều kiện bảo đảm thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước

kinh nghiệm xây dựng thể chế tự quyết cho các thành phố văn minh

Vai trò của Toà Hành chính trong bảo đảm quyền công dân theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015

về tính độc lập và quyền miễn trừ của thẩm phán

Những nội dung về bảo vệ môi trường trong xây dựng và phát triển các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt

Đặc điểm, yêu cầu và thực trạng phân cấp quản lý đất đai hiện nay

Mô hình hợp tác nghề cá ở các vùng biển chồng lấn, đang tranh chấp của một số quốc gia

Đối tượng của quyền hưởng dụng trong pháp luật Việt Nam

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân