Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ hai, 23/04/2018, 02:42(GMT+7)
 
Tổ chức bộ máy nhà nước

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước

 

Bí mật nhà nước (BMNN) được coi là “tài sản” đặc biệt thuộc sở hữu Nhà nước, do Nhà nước quản lý, nắm giữ, bảo vệ và khai thác hoặc chuyển giao để phục vụ cho hoạt động đối nội, đối ngoại của đất nước. BMNN có liên quan trực tiếp đến sự ổn định về chính trị, vững mạnh về quốc phòng - an ninh và phát triển bền vững về kinh tế - xã hội. Các thế lực thù địch, các loại đối tượng xấu luôn tìm cách thu thập, khai thác BMNN nhằm gây nguy hại cho Nhà nước. Chính vì vậy, phải có biện pháp bảo vệ, bảo đảm an toàn cho các BMNN, không để lộ, mất BMNN. Hiện nay, việc bảo vệ BMNN như thế nào để vừa bảo đảm an toàn BMNN, vừa không ảnh hưởng đến quyền tiếp cận thông tin của người dân là vấn đề được đặt ra. Vì vậy, cần phải nhận diện BMNN và xác định phương hướng hoàn thiện pháp luật về bảo vệ BMNN.

1. Bí mật nhà nước và công tác bảo vệ bí mật nhà nước

BMNN là những thông tin thuộc lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, khoa học, công nghệ, các lĩnh vực khác mà Nhà nước không công bố hoặc chưa công bố và nếu bị tiết lộ có thể gây nguy hại cho Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam. BMNN có thể tồn tại trong các vật, tài liệu, lời nói hoặc dưới các hình thức khác về vụ việc, thời gian, địa điểm... Căn cứ vào tính chất quan trọng của nội dung thông tin, mức độ nguy hại nếu bị tiết lộ, các thông tin thuộc phạm vi BMNN được chia làm ba mức độ Tuyệt mật, Tối mật và Mật. Danh mục BMNN độ Tuyệt mật và Tối mật do Thủ tướng Chính phủ quyết định, danh mục BMNN độ Mật do Bộ trưởng Bộ Công an quyết định sau khi thống nhất với người đứng đầu hoặc người được uỷ quyền của cơ quan, tổ chức có liên quan..

Bảo vệ BMNN là tổng hợp các hoạt động bảo đảm cho BMNN luôn nằm trong trật tự vốn có của nó, bao gồm các hoạt động phòng ngừa, ngăn chặn lộ, mất BMNN; các hoạt động phòng ngừa, ngăn chặn và vô hiệu hóa hoạt động thu thập BMNN của các loại đối tượng nhằm gây nguy hại cho Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Để bảo vệ BMNN, phía Nhà nước có trách nhiệm tiến hành các hoạt động như: ban hành và hướng dẫn thi hành các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ BMNN; quy định và công bố danh mục BMNN thuộc các độ mật (Tuyệt mật, Tối mật và Mật); quyết định và giải mật BMNN; thực hiện các quy trình bảo vệ đối với tài liệu, vật mang BMNN (như xác định và đóng dấu độ mật, in, sao, chụp, vận chuyển, giao nhận, truyền nhận qua các thiết bị vô tuyến, hữu tuyến, thống kê, lưu giữ, bảo quản, khai thác, sử dụng, chuyển loại, tiêu hủy); tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật; thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm; ngăn chặn và đấu tranh vô hiệu hoá các hoạt động thu thập BMNN…

Còn đối với công dân (kể cả cán bộ, công chức, chiến sĩ, sĩ quan), pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi thu thập, làm lộ, làm mất, chiếm đoạt, mua bán, tiêu huỷ trái phép BMNN và việc lạm dụng bảo vệ BMNN để che giấu hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân hoặc làm cản trở việc thực hiện các kế hoạch nhà nước. Việc tiếp xúc, bảo quản, cung cấp và xử lý BMNN phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

2. Bảo vệ bí mật nhà nước và bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân

Bảo vệ BMNN và bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân thường có sự xung đột, kể cả trong các quy định của pháp luật và trong thực tiễn áp dụng, không chỉ ở Việt Nam mà ở cả nhiều nước trên thế giới. Việc mở rộng phạm vi BMNN, không những làm yếu đi khả năng bảo vệ các thông tin đó, mà còn hạn chế quyền tiếp cận thông tin - quyền cơ bản của công dân - và ngược lại, nếu mở rộng theo hướng tự do tiếp cận thông tin sẽ dễ dẫn đến lộ, lọt, mất BMNN, cũng là điều kiện thuận lợi cho các hoạt động thu thập BMNN và có thể gây ra những thiệt hại cho lợi ích quốc gia. Vì vậy, việc xác định đúng phạm vi BMNN và phạm vi thông tin được công khai là rất hệ trọng. Nếu làm được điều đó, sẽ tạo lập được sự cân bằng đúng mức giữa bí mật và công khai.

Trong hệ thống pháp luật hiện hành, đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về quyền tiếp cận thông tin của công dân, trong đó có việc công bố, công khai thông tin, dữ liệu có liên quan đến hoạt động công quyền. Các văn bản này cũng đồng thời đưa ra các trường hợp ngoại lệ như không được công bố, công khai, cung cấp thông tin thuộc BMNN hoặc quy định thành các loại hành vi bị nghiêm cấm. Tuy vậy, các văn bản này lại không quy định loại thông tin nào thuộc BMNN. Việc xác định thông tin nào thuộc BMNN lại phải dựa vào quy định của các văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp điều chỉnh về bảo vệ BMNN, như Pháp lệnh Bảo vệ BMNN và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Trong khi đó, các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành trực tiếp điều chỉnh về bảo vệ BMNN đã xuất hiện nhiều bất cập như giá trị pháp lý chưa cao, phạm vi điều chỉnh chưa toàn diện, nội dung thiếu thống nhất, nhiều quy định còn chung chung, dẫn đến việc áp dụng còn tùy tiện, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu bảo vệ lợi ích quốc gia cũng như yêu cầu công khai thông tin trong tình hình hiện nay.

3. Nhu cầu hoàn thiện pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước

Pháp luật về bảo vệ BMNN có vai trò đặc biệt quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc XHCN, là công cụ pháp lý quan trọng để quản lý nhà nước về BMNN và phòng, chống các hoạt động vi phạm pháp luật về bảo vệ BMNN.

Xác định rõ được tầm quan trọng của pháp luật về bảo vệ BMNN, Nhà nước ta đã từng bước xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo vệ BMNN, tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và thực hiện công tác bảo vệ BMNN phù hợp với từng giai đoạn cách mạng, như Sắc lệnh số 154/SL ngày 17/11/1950 ấn định những hình phạt trừng trị việc để tiết lộ bí mật, Sắc lệnh số 69/SL ngày 05/12/1951 về giữ bí mật quốc gia, Nghị định số 69/CP ngày 14/06/1962 quy định những vấn đề thuộc phạm vi bí mật của Nhà nước và trách nhiệm trong việc giữ gìn bí mật của Nhà nước... Bên cạnh Pháp lệnh Bảo vệ BMNN (năm 2000) hiện hành là các văn bản hướng dẫn thi hành. Ngoài ra, còn có hơn 53 văn bản luật, pháp lệnh tuy không trực tiếp điều chỉnh về bảo vệ BMNN, nhưng có chứa đựng những quy phạm chung nhất về bảo vệ BMNN.

Nhìn chung, các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ BMNN được ban  hành đã điều chỉnh nhiều quan hệ xã hội cơ bản có liên quan đến bảo vệ BMNN, từng bước nâng cao chất lượng công tác bảo vệ BMNN, góp phần quan trọng vào sự nghiệp bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và an ninh quốc gia (ANQG), phục vụ có hiệu quả sự nghiệp đổi mới, công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, mở rộng quan hệ đối ngoại và phát triển kinh tế của đất nước.

Tuy đạt được những kết quả quan trọng bước đầu đạt trong xây dựng pháp luật về bảo vệ BMNN, nhưng pháp luật hiện hành về bảo vệ BMNN vẫn còn nhiều yếu kém và bất cập, chưa theo kịp, chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của công tác bảo vệ BMNN hiện nay. Việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ BMNN là cần thiết và cấp bách, xuất phát từ các lý do sau:

- Bảo vệ BMNN là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, bởi kết quả của nó liên quan trực tiếp đến sự ổn định về chính trị, vững mạnh về quốc phòng - an ninh và phát triển bền vững về kinh tế - xã hội. Để bảo đảm thực hiện nhiệm vụ quan trọng đó, phải có một hệ thống quy phạm pháp luật về bảo vệ BMNN đầy đủ, toàn diện, hiệu lực và hiệu quả.

- Bảo vệ BMNN là bảo vệ ANQG, có liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân cần được điều chỉnh bằng văn bản luật. Nhưng đến nay, văn bản có giá trị pháp lý cao nhất trực tiếp điều chỉnh mới chỉ là Pháp lệnh Bảo vệ BMNN. Bên cạnh đó, một số quan hệ xã hội phát sinh có liên quan đến bảo vệ BMNN lại được điều chỉnh bởi các văn bản luật khác như Bộ luật Hình sự, Luật Quốc phòng, Luật ANQG, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Báo chí và đang xây dựng Luật Cơ yếu, Luật Tiếp cận thông tin.

- Một số vấn đề liên quan đến bảo vệ BMNN chưa được điều chỉnh bằng pháp luật như: nguyên tắc bảo vệ BMNN; việc cung cấp thông tin và phạm vi tiếp cận BMNN; chế độ quản lý BMNN; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân quản lý BMNN; việc tiêu hủy BMNN; thủ tục giải mật; số lượng, tiêu chuẩn, điều kiện, chế độ, chính sách đối với người làm công tác quản lý và người trực tiếp bảo vệ BMNN; điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị bảo đảm cho công tác bảo vệ BMNN…

- Một số nội dung của bảo vệ BMNN tuy đã được điều chỉnh bằng pháp luật, nhưng chưa đầy đủ và thiếu cụ thể như: trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, công dân tham gia bảo vệ BMNN; việc lưu giữ, vận chuyển, truyền nhận BMNN; việc lập, quyết định, thay đổi độ mật và giải mật đối với từng BMNN; các nghiên cứu, phát minh có liên quan đến BMNN…

- Trong mỗi giai đoạn phát triển của đất nước, thông tin về các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng và an ninh có sự vận động, sẽ kéo theo sự thay đổi nhất định về phạm vi BMNN và yêu cầu công tác quản lý, công tác bảo vệ BMNN. Việc đổi mới, mở cửa tăng cường hợp tác quốc tế, bên cạnh việc tạo ra nhiều thời cơ, vận hội thì cũng làm xuất hiện nhiều nguy cơ, thách thức đối với công tác bảo vệ BMNN. Cơ chế tiếp cận thông tin ngày càng tự do, dân chủ hơn, nhu cầu trao đổi thông tin ngày càng nhiều hơn kết hợp với sự phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ của công nghệ thông tin, nhất là các loại phương tiện thông tin liên lạc, phương tiện thu tin, sao chụp tài liệu, ghi âm, ghi hình hiện đại nên BMNN dễ bị lộ, lọt.

- Thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ BMNN đã bộc lộ một số bất cập không những từ nhận thức của người dân, của cơ quan có BMNN, mà còn trong cả quá trình thực hiện nhiệm vụ cụ thể của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Một số cơ quan, tổ chức, cá nhân chưa xem trọng công tác bảo vệ BMNN, chưa đặt công tác này đúng vị trí của nó, nhiều lúc còn buông lỏng, lơ là, sơ hở để xảy ra lộ, lọt, mất BMNN. Ngoài ra, có không ít trường hợp lợi dụng danh nghĩa bảo vệ BMNN để che giấu thông tin, không giải mật những thông tin không còn mật, gián tiếp làm thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước và nhân dân.

- Các thế lực thù địch, các loại đối tượng xấu tích cực lợi dụng sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý, bảo vệ BMNN để thu thập, khai thác BMNN phục vụ âm mưu, ý đồ của chúng, gây thiệt hại nghiêm trọng cho lợi ích quốc gia, gây phương hại đến sự tồn tại, vững mạnh của chế độ XHCN Việt Nam.

- Ngày nay, chúng ta đang xây dựng một xã hội tôn trọng pháp luật, trong đó công dân được phép làm những gì mà pháp luật không cấm. Nhưng thực tế, công dân lại không biết để bảo vệ BMNN thì pháp luật cấm làm những việc gì. Một trong những nguyện vọng, yêu cầu của người dân là pháp luật phải quy định đầy đủ, rõ ràng, cụ thể những loại thông tin nào người dân được tiếp cận hoặc không được tiếp cận, trong đó có thông tin thuộc BMNN và công khai các quy định đó để người dân biết và thực hiện.

4. Những yêu cầu và phương hướng hoàn thiện pháp luật về bảo vệ BMNN

Để bảo đảm cơ sở pháp lý vững chắc, hiệu lực và hiệu quả cho việc tổ chức và thực hiện công tác bảo vệ BMNN, việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về bảo vệ BMNN trong thời gian tới cần phải đáp ứng các yêu cầu sau:

- Thể chế hoá đầy đủ các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với công tác bảo vệ BMNN;

- Khẳng định rõ công tác bảo vệ BMNN là một bộ phận của nhiệm vụ bảo vệ ANQG và đặt trong mối quan hệ tương hỗ với các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, công nghệ, quốc phòng, an ninh và đối ngoại;

- Xác định những nguyên tắc pháp lý, quyền và nghĩa vụ bảo vệ BMNN không chỉ đối với cơ quan chuyên trách bảo vệ BMNN mà còn đối với tất cả cơ quan, tổ chức và mọi công dân nhằm tạo khung pháp lý rõ ràng, cụ thể để các chủ thể liên quan xác định được quyền và nghĩa vụ của mình trong bảo vệ BMNN;

- Bảo đảm tính thống nhất trong nội tại hệ thống quy phạm pháp luật về bảo vệ BMNN và trong hệ thống pháp luật nói chung; đồng thời thể hiện được tính đặc thù về tổ chức và hoạt động bảo vệ BMNN;

- Kế thừa được những kinh nghiệm quý báu trong lịch sử xây dựng và thực hiện pháp luật bảo vệ BMNN; mặt khác tiếp thu được kinh nghiệm lập pháp của nước ngoài về lĩnh vực này.

Việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ BMNN cần tập trung vào những nhóm nội dung cơ bản sau:

- Hoàn thiện cơ sở pháp lý về quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức và mọi công dân tham gia bảo vệ BMNN.

- Hoàn thiện cơ sở pháp lý về tổ chức, hoạt động, chế độ, chính sách của cơ quan chuyên trách quản lý nhà nước, các lực lượng, cá nhân trực tiếp bảo vệ BMNN.

- Hoàn thiện các loại danh mục BMNN bảo đảm đầy đủ, toàn diện và thống nhất cho từng ngành, lĩnh vực; đồng thời có tính đến sự thay đổi về phạm vi BMNN trong tương lai.

- Hoàn thiện cơ sở pháp lý về thủ tục, quy trình quản lý nhà nước đối với BMNN như việc lập, quyết định, thay đổi độ mật, giải mật, mức độ, phạm vi tiếp cận, truyền nhận, lưu trữ, sao chép và tiêu hủy BMNN.

- Hoàn thiện cơ sở pháp lý về các loại hành vi được coi là tội phạm, các hành vi vi phạm hành chính, các hành vi bị nghiêm cấm có liên quan đến bảo vệ BMNN.

- Hoàn thiện cơ sở pháp lý về chế tài xử lý vi phạm pháp luật về BMNN như truy cứu trách nhiệm hình sự, các hình thức xử lý của tổ chức Đảng, chính quyền, xử lý vi phạm hành chính và các hình thức xử lý bổ sung khác.

5. Kiến nghị một số giải pháp cụ thể

Việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ BMNN phải được tiến hành khẩn trương, liên tục. Trong thời gian tới, nên tập trung vào những phần việc trọng tâm sau:

Một là, tiến hành rà soát, đánh giá đầy đủ, chính xác thực trạng pháp luật về bảo vệ BMNN nhằm phát hiện những bất cập về: tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, sự phù hợp giữa nội dung và hình thức của các văn bản quy phạm pháp luật; thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; tính khả thi của các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành.

Hai là, tiến hành tổng kết việc thực hiện pháp luật về bảo vệ BMNN, thời gian tính từ thời điểm Pháp lệnh Bảo vệ BMNN hiện hành có hiệu lực (năm 2001) đến nay. Qua tổng kết nhằm phát hiện các quy phạm pháp luật còn có vấn đề để bãi bỏ hoặc sửa đổi; phát hiện những nội dung cấp thiết cần điều chỉnh bằng pháp luật để xây dựng bổ sung các quy phạm pháp luật liên quan.

Ba là, tổ chức nghiên cứu pháp luật nước ngoài về bảo vệ BMNN để vận dụng có chọn lọc những kinh nghiệm của họ vào quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật của Việt Nam, nhất là các vấn đề tổ chức, hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước, nhiệm vụ, quyền hạn của các lực lượng, cá nhân trực tiếp bảo vệ BMNN, phạm vi của từng mức độ mật.

Bốn là, xây dựng Luật Bảo vệ BMNN. Nội dung của Luật này cần giải quyết tốt những vấn đề sau:

- Xác định rõ phạm vi điều chỉnh: Chính sách bảo vệ BMNN, nguyên tắc, nội dung cơ bản của hoạt động bảo vệ BMNN, công tác quản lý nhà nước về bảo vệ BMNN; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và chế độ, chính sách đối với các lực lượng chuyên trách bảo vệ BMNN; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, quyền và nghĩa vụ của công dân về bảo vệ BMNN.

- Xác định đối tượng áp dụng: mọi cơ quan, tổ chức, công dân Việt Nam và cá nhân, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế cư trú, hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Nhà nước ta ký kết hoặc gia nhập quy định khác thì áp dụng theo điều ước quốc tế đó.

- Xác định chính sách bảo vệ BMNN: Nhà nước có chính sách phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, công nghệ, an ninh, quốc phòng, đối ngoại trên cơ sở bảo đảm BMNN. Nhà nước động viên toàn thể nhân dân, mọi cơ quan, tổ chức tham gia bảo vệ BMNN.

- Quy định rõ những nội dung cơ bản của hoạt động bảo vệ BMNN; những nội dung cơ bản của công tác quản lý nhà nước về bảo vệ BMNN; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và chế độ, chính sách đối với các lực lượng chuyên trách bảo vệ BMNN; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, quyền và nghĩa vụ của công dân về bảo vệ BMNN.

Năm là, ban hành kịp thời các loại danh mục BMNN, vừa bảo đảm đúng phạm vi, vừa toàn diện, đồng bộ cho tất cả các ngành, lĩnh vực, nhất là sau khi Luật Bảo vệ BMNN được ban hành.

Sáu là, sửa đổi, bổ sung vào các văn bản quy phạm pháp luật khác, nhất là các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến hoạt động cung cấp, tiếp cận thông tin, các quy phạm pháp luật về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân và các hành vi bị nghiêm cấm có liên quan đến bảo vệ BMNN.

Bảy là, sửa đổi, bổ sung vào pháp luật hình sự các loại hành vi xâm phạm khách thể bảo vệ BMNN được coi là tội phạm, có tính đến sự thay đổi về phạm vi BMNN và phù hợp với xu thế phát triển về kinh tế, xã hội, khoa học, công nghệ và cơ chế ngày càng tự do tiếp cận thông tin.

Tám là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và xử lý đối với các văn bản không đảm bảo yêu cầu về bảo vệ BMNN của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.

Đồng thời với việc hoàn thiện pháp luật là tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, bồi dưỡng nâng cao nhận thức pháp luật và ý thức bảo vệ BMNN cho mọi người dân, trong đó có những người làm công tác xây dựng pháp luật, cán bộ làm công tác pháp chế ở các bộ, ngành trung ương và những người làm công tác bảo vệ BMNN hoặc liên quan trực tiếp đến BMNN. Thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về bảo vệ BMNN và chủ động đấu tranh phòng, chống các tội phạm, vi phạm pháp luật về bảo vệ BMNN, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh những vi phạm này.

(*) ThS. Vụ Quốc phòng và an ninh, Văn phòng Quốc hội.

ThS. Phan Quang Vinh - Vụ Quốc phòng và an ninh, Văn phòng Quốc hội.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Bổ sung địa vị pháp lý của Kiểm toán Nhà nước và Tổng Kiểm toán Nhà nước trong Hiến pháp (15/01/2013)
Cơ chế kiểm soát hoạt động tư pháp - những vấn đề đang đặt ra và phương hướng đổi mới (15/01/2013)
Bàn thêm về vấn đề sửa đổi Hiến pháp 1992 nhìn từ nguyên tắc chủ quyền nhân dân (11/10/2012)
Những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện về điều kiện hoạt động của đại biểu Quốc hội (20/02/2012)
Góp bàn về Sửa đổi Hiến pháp ở Việt Nam (23/09/2011)
Lại bàn về bài học từ Hiến pháp 1946 (22/09/2011)
Quy trình sửa đổi, bổ sung hiến pháp và sự lựa chọn cho Việt Nam trong bối cảnh hiện nay (19/09/2011)
Lại bàn về bài học từ Hiến pháp 1946 (22/09/2011)
6.jpg
Đồng chí Lê Bộ Lĩnh, Phó Chủ nhiệm VPQH phát biểu khai mạc Hội thảo "Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan nhà nước và xã hội trong thúc đẩy thực thi các quy định pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã"
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em qua công tác xét xử ở khu vực miền Trung - Tây nguyên

Tổng quan và đánh giá các quy định của pháp luật về đại biểu Quốc hội ở Việt Nam

các điều kiện bảo đảm thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước

kinh nghiệm xây dựng thể chế tự quyết cho các thành phố văn minh

Vai trò của Toà Hành chính trong bảo đảm quyền công dân theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015

Những nội dung về bảo vệ môi trường trong xây dựng và phát triển các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt

về tính độc lập và quyền miễn trừ của thẩm phán

Mô hình hợp tác nghề cá ở các vùng biển chồng lấn, đang tranh chấp của một số quốc gia

Đối tượng của quyền hưởng dụng trong pháp luật Việt Nam

Những hạn chế và kiến nghị hoàn thiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân