|
Hiệp thương và tác động của hiệp thương đến phát huy tính tích cực của công dân trong thực hiện quyền bầu cử
|
||
|
Khi thực hiện quyền bầu cử, công dân thể hiện tinh thần làm chủ, tự giác, tích cực trong việc xây dựng nhà nước. Cùng với sự phát triển xã hội, quyền bầu cử tự do, công bằng của công dân phải ngày càng được hoàn thiện là chuyện tất yếu. Điều 54 của Hiến pháp nước ta khẳng định: “Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật”.
1. Đặt vấn đề Khi thực hiện quyền bầu cử, công dân thể hiện tinh thần làm chủ, tự giác, tích cực trong việc xây dựng nhà nước. Cùng với sự phát triển xã hội, quyền bầu cử tự do, công bằng của công dân phải ngày càng được hoàn thiện là chuyện tất yếu. Điều 54 của Hiến pháp nước ta khẳng định: “Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật”. Việc đáp ứng ở mức cao nhất quyền bầu cử của công dân không thuần tuý là bảo đảm quyền chính trị cơ bản của công dân, mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc chọn ra những người ưu tú nhất, có đủ tài năng và trách nhiệm thực hiện công việc cao cả của người đại biểu nhân dân, đảm bảo yêu cầu chất lượng hoạt động của cơ quan dân cử - một vấn đề hết sức được quan tâm trong công cuộc cải cách xã hội theo các tiêu chí dân chủ ở nước ta hiện nay. Quyền bầu cử của công dân được hiểu ở hai khía cạnh: thứ nhất là quyền công dân tham gia bầu cử với tư cách cử tri, bỏ phiếu lựa chọn người mà mình tín nhiệm vào cơ quan dân cử; thứ hai là quyền công dân tham gia bầu cử với tư cách ứng cử viên với mong muốn trở thành đại biểu của nhân dân. Là quyền công dân, quyền tự do bầu cử phải bao gồm tự do bầu và ứng cử. Bảo đảm quyền bầu cử của công dân là tạo ra những điều kiện, khả năng để công dân tham gia một cách rộng rãi nhất vào các hoạt động bầu và ứng cử. Mọi quy định của pháp luật về bầu cử đều ít nhiều ảnh hưởng tới quyền này của công dân, nhưng có lẽ một vấn đề được quan tâm (và cũng còn chứa đựng không ít băn khoăn hiện nay từ mọi giới trong xã hội) là việc hiệp thương giới thiệu người ứng cử. Hiệp thương giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được các luật bầu cử hiện hành quy định trong Mục 2 Chương V, bao gồm ba lần hiệp thương: - Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất: do Mặt trận tổ quốc (MTTQ) chủ trì với nhiệm vụ thoả thuận về cơ cấu, thành phần và số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giới thiệu ứng cử viên. Sau đó các cơ quan, tổ chức, đơn vị được giới thiệu người của mình ra ứng cử. - Hội nghị hiệp thương lần thứ hai: MTTQ lập danh sách sơ bộ những người ứng cử, gửi lấy ý kiến cử tri nơi cư trú (và cả nơi làm việc đối với người tự ứng cử). Sau đó, hội nghị cử tri nơi công tác và cư trú của ứng cử viên được tổ chức, cho ý kiến về ứng cử viên. - Hội nghị hiệp thương lần thứ ba, MTTQ lập danh sách chính thức những người ứng cử. Cơ sở để MTTQ đưa ra các quyết định thực hiện các mục đích nhất định trong các lần hiệp thương là dựa vào cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu được dự kiến (hay điều chỉnh) và dựa vào ý kiến về ứng cử viên của cử tri nơi công tác và cư trú. Có thể nói, mục đích của hiệp thương là qua hội nghị được chủ trì bởi MTTQ - tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của đông đảo các tổ chức, cá nhân người Việt Nam - đưa ra thương lượng, thoả thuận bước đầu lựa chọn sơ bộ ứng cử viên, bảo đảm những người ứng cử đủ tiêu chuẩn, bảo đảm cơ cấu đại biểu tham gia Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Quy định về hiệp thương là cần thiết vì nó phù hợp với thể chế chính trị nước ta, tương thích với những quy định khác của Luật Bầu cử hiện tại, góp phần nâng cao chất lượng đại biểu và bảo đảm kết quả bầu cử[1]. Tuy nhiên, công đoạn “xử lý thô” này thể hiện một số bất cập cả về phương diện lý luận và thực tiễn, ảnh hưởng đến quyền bầu, ứng cử của công dân, như: 1.1 Hiệp thương dễ làm hạn chế quyền tự do ứng cử của công dân Tự do ứng cử là tạo điều kiện cho công dân với tiêu chuẩn luật định có quyền bình đẳng tham gia vào bầu cử với tư cách ứng cử viên (tất nhiên là việc công dân thực sự trở thành đại biểu nhân dân tuỳ thuộc vào sự tín nhiệm của nhân dân). ứng cử sẽ là không tự do nếu như nó là đặc quyền đặc lợi của ai đó; hay nếu như quyền ứng cử của công dân không được thực hiện trọn vẹn, bị ngăn cản một cách vô cớ, thiếu thuyết phục. Trong các thể chế dân chủ, tiêu chuẩn ứng cử viên và cơ sở để một người bị từ chối đưa vào danh sách ứng cử viên tương đối rõ ràng. Thậm chí có những quốc gia, với những chức danh dân cử nhất định, pháp luật còn không quy định tiêu chuẩn cho ứng cử viên (có lẽ vì nếu có “chuẩn hoá” đại biểu thì cũng hết sức định tính), chỉ quy định công dân trong điều kiện nào thì không thể trở thành ứng cử viên[2], theo đúng nghĩa “công dân được làm những gì mà pháp luật không cấm”. Còn yêu cầu khác, ví như ứng cử viên phải thu thập được một số lượng chữ ký nhất định của những cử tri ủng hộ, hay phải đặt một lượng tiền nhất định lại là điều kiện, thủ tục thực hiện quyền ứng cử và mang ý nghĩa, mục đích khác. ở nước ta, tiêu chuẩn ứng cử viên được quy định ở Điều 3 của các luật bầu cử, còn trường hợp công dân không được ứng cử được quy định tại Điều 29 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Điều 31 Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003. Vì hệ thống bầu cử khác nhau nên sau đó, nếu như ở các nước phát triển luật pháp yêu cầu ứng cử viên tiến hành các thủ tục đăng ký (kể cả đăng ký đơn vị ứng cử) để vào danh sách ứng cử viên thì ở nước ta, người ứng cử chưa biết khả năng mình có thể trở thành ứng cử viên chính thức hay không. Điều này phụ thuộc vào kết quả hiệp thương trong các hội nghị hiệp thương do MTTQ Việt Nam chủ trì. Khi đó, hiệp thương sẽ: - Buộc các ứng cử viên (những người được các cơ quan, tổ chức giới thiệu và những người tự ứng cử đã đủ tiêu chuẩn luật định) phải trải qua “vòng sơ tuyển”, và họ có thể bị loại bỏ. Nếu cho rằng hiệp thương là để bảo đảm ứng cử viên đủ tiêu chuẩn thì chưa xác đáng vì tiêu chuẩn đại biểu, trường hợp hạn chế quyền ứng cử đều đã do luật định. Về nguyên tắc, một người chỉ không đủ tiêu chuẩn nếu như có thể chứng minh điều ngược lại. Chỉ cần các cơ quan phụ trách bầu cử[3] kiểm tra, thẩm định là biết một người có đủ tiêu chuẩn hay không. Kể cả ứng cử viên trong bầu cử là những người có “tham vọng chính trị” (khó có thể kết luận điều này cho những con người cụ thể) thì bản chất điều này cũng không xấu, chỉ cần kiểm soát sao cho cách thức thực hiện tham vọng của người đó không trái pháp luật. - Tạo tâm lý ngại ra tự ứng cử. Thực tế có những người bị loại ra khỏi danh sách mà không rõ lý do dễ khiến họ và người dân hiểu rằng không còn chỗ nên người tự ứng cử bị loại để danh sách chính thức tập trung hơn. Ngoài ra, khi trong thực tế còn thói quen rà soát kỹ lưỡng những người tự ứng cử, còn quan niệm là không để “cứ thích thì ra” ứng cử từ các tổ chức tổ chức bầu cử khiến cho công dân càng e ngại khi tham gia vào hoạt động này. Không nên ấn định một số lượng đại biểu đặc biệt là người tự ứng cử, cho dù số người được bầu phải là con số luật định. Nếu vẫn còn chủ trương có bao nhiêu ứng cử viên, thì bầu cử phần nào còn mang tính gò ép. 1.2 Hiệp thương làm giảm ý nghĩa của quyền bầu cử trực tiếp của công dân - một nguyên tắc bầu cử, từ đó khó có thể hình thành ý thức chính trị cao trong công chúng - Ngay tại bước đầu của hiệp thương, quyền giới thiệu người của cử tri đã bị hạn chế. Cơ quan, tổ chức, đơn vị có được giới thiệu người của mình ra ứng cử hay không phụ thuộc vào việc có được “phân bổ” chỉ tiêu hay không. Nếu còn “cấp phát” chỉ tiêu sẽ còn tâm lý so bì, tị nạnh trong quá trình hiệp thương thoả thuận cơ cấu giữa các khối nhà nước -không nhà nước, nam-nữ, người trong Đảng -ngoài Đảng… Phân bổ chỉ tiêu ứng cử ở thời điểm nào đó là cần thiết, khi ý thức trách nhiệm, quyền làm chủ của các chủ thể trong xã hội chưa cao, nhưng lại chưa thể hiện được tính tự do của cuộc bầu cử công bằng và văn minh khi quyền, trách nhiệm của người dân ngày càng nâng cao như hiện nay ở nước ta. Quyền giới thiệu người ứng cử từ các nhóm cử tri là chưa có. - Lý do quan trọng khiến ứng cử viên không “qua” được hiệp thương là do cử tri không tín nhiệm. Nghịch lý của hiện tượng này là cử tri tham gia vào hội nghị cử tri chỉ là những người “đại diện” theo thư mời và cho dù họ có là “đại cử tri” với đầy đủ tư cách (khi họ là những người được bầu ra) thì ý kiến của họ cũng chưa hẳn là ý chí của nhân dân, mà thực chất chỉ là ý kiến của một số người. Cách lấy ý kiến cử tri như vậy cùng với nhiều quy định khác về bầu cử tạo dư luận về sự tính toán, sắp xếp để người này trúng, người kia rớt, nghi ngờ “quân xanh, quân đỏ” hay người này “dọn đường” cho người kia… - Nếu như qua hiệp thương, những người đủ tiêu chuẩn, xứng đáng nhất được lựa chọn thì cuộc bầu cử của công dân lại chỉ còn mang tính hình thức. Cử tri cho rằng, ai trúng cũng tốt vì đã hiệp thương kỹ. Những quy định về tiêu chuẩn đại biểu trở thành vấn đề quan tâm chỉ của các tổ chức phụ trách bầu cử, MTTQ và ứng cử viên, từ đó làm giảm ý thức trách nhiệm chính trị của cử tri trong việc giám sát và lựa chọn đại biểu, không khuyến khích được tính tự giác tích cực đi bầu cử và cử tri không quan tâm việc ai trúng cử. Hiệp thương nghĩa là còn chưa tin tưởng vào sự lựa chọn của cử tri. - Hiệp thương làm cho sự lựa chọn của cử tri bị giảm ý nghĩa, dẫn đến việc có những người trúng cử không hoàn toàn do cử tri quyết định và điều này làm cho hoạt động của đại biểu sau khi trúng cử có thể không khách quan, không vì dân mà bị chi phối bởi cơ quan, tổ chức khác. Thậm chí, việc thiên về cơ cấu thực tế đã khiến có người “bị làm đại biểu”, lúng túng không hiểu và không có năng lực giải quyết các vấn đề của Quốc hội. Cử tri bị thiệt thòi vì chất lượng như vậy của cơ quan dân cử. Chuyên trách hoá hoạt động Quốc hội cần người tâm huyết, cống hiến thời gian, sức lực cho Quốc hội chứ không phải “chân trong chân ngoài”, bị chi phối bởi các hoạt động khác. 2. Kiến nghị Những cố gắng của các cơ quan, tổ chức trong thời gian qua nhằm phát huy tối đa những quy định dân chủ của bầu cử - trong điều kiện chưa sửa đổi các luật bầu cử - là rất đáng ca ngợi. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở việc dành một số lượng lớn hơn cho người tự ứng cử, xếp thứ tự ABC theo tên ứng cử viên và tạo “số dư” lớn trong mỗi đơn vị bầu cử, công khai hoá sự tín nhiệm của cử tri nơi công tác và cư trú của ứng cử viên… thì những giải pháp này, tuy cần thiết, nhưng cũng chỉ là tình thế, cuộc bầu cử vẫn còn tính chất sắp xếp. Vì vậy, chúng tôi kiến nghị những định hướng và giải pháp cơ bản cho tương lai như sau: Thứ nhất, cần sự thay đổi quan niệm về “cơ cấu” đại biểu Để có dân chủ, cơ quan dân cử cần có thành phần bao gồm đại diện của mọi tầng lớp nhân dân. Tuy nhiên, mọi tính toán về cơ cấu, thành phần nên thể hiện ở dạng dự đoán bằng kinh nghiệm thực tiễn, phân tích thông tin để khuyến khích, động viên hơn bất cứ việc làm nào có tính chất gò ép, áp đặt nhằm đạt kết quả theo mong muốn của con người. Giữa cơ cấu và tính đại diện của cơ quan dân cử, chúng ta không nên quan niệm cơ cấu để có tính đại diện, mà vì mang tính chất đại diện nên cơ quan dân cử hình thành một cơ cấu nào đó. Cơ cấu được hình thành một cách tự nhiên, phản ánh thực trạng xã hội khách quan như tương quan giữa các lực lượng, lợi ích xã hội, sự mạnh yếu của các tổ chức, trình độ dân trí, nhận thức, văn hoá của xã hội… Bảo đảm cách thức dân chủ trong thành lập cơ quan dân cử đủ để nói về tính đại diện của cơ quan dân cử đó. Khi nhân dân bầu một người cho một chức danh nhà nước (tổng thống, tỉnh trưởng, quận trưởng…) cũng đủ làm cho người đó là đại diện nhân dân. Điều quan trọng là khi giữ trọng trách, người đó sẽ biết vì lợi ích chung của nhân dân mà thôi. Thứ hai, từng bước xoá bỏ tư duy bao cấp trong bầu cử, tránh việc nhà nước và xã hội làm thay cử tri và ứng cử viên khi không thực sự cần thiết Quan trọng nhất trong việc xác định ranh giới công việc giữa nhà nước - xã hội và công dân là việc thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử trong mỗi cuộc bầu cử để bầu cử được tiến hành một cách khách quan, tránh tính hình thức; kết quả bầu cử không phải là sự sắp đặt sẵn của nhà nước. Quyền của các tổ chức bầu cử nên quy định theo hướng tạo ra tự do cho người ứng cử và cử tri, chỉ tập trung vào công tác rà soát, tổng hợp, báo cáo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo… Muốn vậy, công dân, đặc biệt là người ứng cử phải phát huy được tính năng động của mình trong khuôn khổ pháp luật quy định. Ví dụ, nên để ứng cử viên đăng ký đơn vị bầu cử trong mỗi uỷ ban bầu cử ở tỉnh, thành phố thuộc trung ương[4]; hay tạo khuôn khổ rộng và rõ ràng cho quyền vận động tranh cử của ứng cử viên[5]. Khi công dân tích cực, họ sẽ ý thức rằng không phải nhà nước là tự nhiên có để lo cho dân, mà dân phải biết thành lập và tham gia vào hoạt động của nhà nước để lo cho mình[6]. Thứ ba, cải tiến và tiến tới bỏ hiệp thương theo kiểu như hiện nay trong bầu cử Trước bất cập của hiệp thương như hiện nay, có ý kiến cho rằng, nên cải cách lại quy trình hiệp thương để “hiệp thương phải thực sự là “bệ phóng” của mọi công dân tâm huyết với công việc chung”[7]. Tuy nhiên, theo chúng tôi, giải pháp lâu dài là bỏ hiệp thương nhằm bảo đảm ý chí nhân dân để bầu cử có thể tự do và công bằng nhất, vì bản thân hiệp thương chỉ thể hiện những lợi ích về mặt tình thế, hạn chế của hiệp thương lại là cơ bản và lâu dài. Bỏ hiệp thương là bỏ quyền thu xếp của MTTQ, các tổ chức phụ trách bầu cử nhưng lại tăng quyền chủ động cho ứng cử viên và cử tri, sẽ kéo theo những hệ quả nhất định như phải thay đổi quy định về cơ cấu đại biểu, sắp xếp đơn vị bầu cử, tính kết quả bầu cử, vận động tranh cử… nhưng lại là những vấn đề có thể khắc phục được[8]. Hơn nữa, trong lịch sử bầu cử Việt Nam, cuộc bầu cử ngày 6/1/1946 (với sự chênh lệch đáng kể giữa số đại biểu được bầu và số người được bầu) không có hiệp thương như pháp luật bầu cử hiện nay của ta, trong trình độ người dân có hạn mà cuộc bầu cử vẫn thành công. Cho đến ngày nay, cuộc bầu cử 6/1/1946 vẫn được nhắc đến như “mốc son lịch sử của thể chế dân chủ Việt Nam”. Xét ra, trong thể chế chính trị đặc biệt của chúng ta, thì sự khác biệt lớn trong hệ thống bầu cử Việt Nam so với các nước khác trên thế giới là đương nhiên, từ việc thành lập đơn vị bầu cử, thành lập các tổ chức bầu cử và quy định về thành phần của nó, đến những vấn đề như đăng ký bầu và ứng cử, chi phí bầu cử, vận động tranh cử, cách tính kết quả… Bầu cử là hoạt động chính trị - pháp lý quan trọng của mỗi quốc gia, ảnh hưởng trước hết tới hệ thống chính trị nước đó, sau đó tác động đến hầu như tất cả các lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội. ở nước ta, tuy Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 (sửa đổi năm 2001) đã là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc thành lập cơ quan dân cử cao nhất theo tinh thần dân chủ, góp phần ổn định chính trị và phát triển đất nước trong thập niên qua, nhưng yêu cầu cải cách, hoàn thiện bản chất dân chủ của nhà nước, hoàn thiện hệ thống chính trị rõ ràng đang đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ nghiên cứu một cách nghiêm túc và thay đổi một cách bài bản, theo lộ trình phù hợp, các quy định về bầu cử trước hết trong đạo luật này, chứ không chỉ trong các văn bản hướng dẫn mang tính tình thế trước mỗi đợt bầu cử của một số cơ quan, tổ chức. [1] Xem Trần Thanh Hương, Ý chí nhân dân trong bầu cử và một vài ý kiến góp phần bảo đảm ý chí nhân dân trong bầu cử ở nước ta, Tạp chí Khoa học pháp lý, 3/2006. [2] Đó là trường hợp bầu Hạ nghị sĩ Anh, xem Hilaire Barnett, Contitutional and Administrative Law- Third Edition, Cavendish Publishing Limited, 2000, tr. 536. [3] Thường là tổ chức phụ trách bầu cử độc lập, với thành phần “vô tư”, khách quan, không bị ảnh hưởng về lợi ích đối với kết quả bầu cử nhất. ở nhiều nước, cơ quan này có thành phần là thẩm phán, công tố viên hay một số công chức độc lập khác. [4] Việc ứng cử viên tính toán về đơn vị bầu cử có lợi hơn cho mình (nơi cư trú, làm việc hay nơi mình được biết đến với những đóng góp hay việc làm cụ thể…) sẽ làm họ trở thành những người năng động hơn. Băn khoăn việc nhiều người về chỗ này, ít người về chỗ khác là tư tưởng bao cấp, khi nhà nước muốn điều chỉnh, sắp xếp mọi thứ cho ứng cử viên, sẽ mất dân chủ. Mỗi ứng cử viên sẽ “mạnh”, ưu thế ở một vùng miền, địa phương… nên việc lựa chọn đơn vị ứng cử sẽ càng làm tăng tính đại diện và bảo đảm cơ cấu, mà điều cốt lõi là nâng cao chất lượng cơ quan dân cử, hội tụ những người có tâm huyết, ý thức được sứ mệnh chính trị của mình đối với cả nước và trong từng địa phương. [5] Tự do ứng cử đồng nghĩa với việc phải cạnh tranh giữa các ứng cử viên trong cùng đơn vị bầu cử. Cạnh tranh trong bầu cử thể hiện qua cơ chế vận động tranh cử. Quá trình vận động tranh cử giải quyết được một vấn đề hiện đang rất được quan tâm đối với cả ứng cử viên và cử tri trong điều kiện nước ta, đó là cử tri phải biết về ứng cử viên. Hiện nay các ứng cử viên không được tự vận động bầu cử bằng bất cứ hình thức nào, nếu điều đó không được tiến hành thông qua tổ chức. Các thông tin về ứng cử viên do các tổ chức bầu cử phát hành hiện tại được cho là để tạo ra sự công bằng cho ứng cử viên, song bản thân các tổ chức bầu cử lại do nhà nước thành lập… Khung pháp lý như vậy còn quá chật hẹp để có thông tin cần thiết về ứng cử viên đến với cử tri. Một vài buổi họp tổ dân phố, giới thiệu lý lịch, tiếp xúc sơ sài với “đại cử tri” không tạo cơ hội cho sự cọ sát, tìm hiểu lẫn nhau giữa ứng cử viên và cử tri đích thực: ứng cử viên được cơ cấu thì thấy nhẹ nhàng, người tự ứng cử và cử tri thì chưa thoả mãn. Cần tạo điều kiện để ứng cử viên được phát hành tài liệu, biểu ngữ liên quan mình trong giám sát của các tổ chức phụ trách bầu cử, tự định đoạt giới thiệu thông tin có lợi cho mình để thu hút phiếu bầu, bảo đảm cạnh tranh theo pháp luật. Quan trọng là mọi ứng cử viên có cơ hội như nhau trong vận động, không dùng tiền mua chuộc cử tri, không bôi xấu đối thủ… Chỉ khi dân biết thực sự về ứng cử viên, việc “bỏ phiếu” của dân mới là “bầu” vì lúc đó mới có “lựa chọn”, không phải “gạch đại”, giảm đi tính may rủi cho các ứng cử viên, mất đi tính cạnh tranh. Chúng ta cần những người đi bỏ phiếu là những người đi bầu với đầy đủ ý thức trách nhiệm công dân và văn hóa chính trị -pháp lý nên không cần thành tích trong bầu cử. Hẳn là có lý do khi pháp luật một số quốc gia không ràng buộc việc công nhận kết quả bầu cử với tỉ lệ cử tri đi bỏ phiếu, cũng không coi bầu cử là nghĩa vụ công dân. [6] Ví dụ, tránh tình trạng MTTQ lo “tìm người” ứng cử, người được tìm không có hứng thú tham gia, thụ động…
|









