Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ hai, 23/07/2018, 23:00(GMT+7)
 
Tổ chức bộ máy nhà nước

Góp ý dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ: Những đòi hỏi của việc sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Chính phủ
Pháp luật nước ta trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế phải phản ánh tính cách mạng trong đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong quá trình hội nhập này, hạt nhân của sự đổi mới thuộc về nhận thức trong xây dựng pháp luật. Nhận thức về vị trí, vai trò của Chính phủ trong giai đoạn mới là cơ sở của việc xây dựng một Chính phủ năng động, sáng tạo, thực quyền, đáp ứng các yêu cầu của quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

 

Luật Tổ chức Chính phủ (Luật TCCP) là một trong những đạo luật hết sức quan trọng trong quá trình định hướng lãnh đạo, quản lý của cơ quan thực hiện chức năng hành pháp đối với toàn bộ xã hội. Việc sửa đổi Luật TCCP lần này cần đạt được các mục đích:

- Góp phần tạo ra một trật tự pháp lý mang tính khoa học, sáng tạo, phù hợp với cương lĩnh và các nghị quyết của Đảng về vị trí, vai trò của cơ quan thực hiện chức năng hành pháp; nâng cao chất lượng điều hành vĩ mô (cả về quy mô điều hành và thể chế pháp lý) cho toàn bộ các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, an ninh quốc phòng và ngoại giao;

- Cơ cấu Chính phủ phải hợp lý, phù hợp với tiến trình cải cách hành chính và hội nhập kinh tế quốc tế;

- Góp phần xây dựng một nền hành chính trong sạch, vững mạnh, hiệu lực, hiệu quả cao nhằm đẩy lùi, ngăn chặn tệ tham nhũng, quan liêu; lập lại trật tự kỷ luật, kỷ cương trong bộ máy nhà nước và mở rộng dân chủ trong sinh hoạt của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương.

Để đạt được mục đích trên, cần xem xét các góc độ sau:

1. Nhận thức về cơ quan thực hiện quyền hành pháp

1.1. Xây dựng một Chính phủ thực hiện quyền hành pháp mạnh mẽ, xoá bỏ quan niệm Chính phủ chỉ là bộ máy hành chính đơn thuần.

Quán triệt đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt NamQ, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính, trong đó, đáng chú ý là luận điểm "đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng xây dựng hệ thống cơ quan hành pháp thống nhất, thông suốt, hiện đại như Đại hội Đảng lần thứ X đã đề ra; điều chỉnh chức năng của Chính phủ đúng với vai trò là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất…; tập trung vào việc hoạch định thể chế, chính sách, xây dựng giải pháp, cải cách thủ tục hành chính, tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi cho các hoạt động kinh tế, xã hội; xác định rõ phạm vi và nội dung quản lý nhà nước về kinh tế, xã hội của cơ quan công quyền các cấp"[1]. Nhận thức này là tiền đề cho việc xác định lại chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức Chính phủ trong thời gian tới; đồng thời cũng là định hướng xây dựng một nền công vụ khoa học phù hợp với yêu cầu của các chủ thể trong hoạt động quản lý nhà nước, khắc phục một phần nạn tiêu cực, nhũng nhiễu đang có chiều hướng gia tăng trong bộ máy hành chính từ trung ương đến địa phương hiện nay.

Trong cơ cấu quyền lực thống nhất ở nước ta, Chính phủ là cơ quan duy nhất thực hiện chức năng hành pháp. Chức năng này thể hiện ở vai trò thực hiện pháp luật, đưa các đạo luật của Quốc hội vào đời sống quản lý và bảo đảm tính khả thi của các đạo luật trong thực tiễn. Mặt khác, cũng chính thông qua việc bảo đảm tính khả thi này, mà vai trò của Chính phủ còn thể hiện ở chỗ là cơ quan phản ánh, tổng kết, đánh giá và đề xuất (sáng kiến) xây dựng, đệ trình các dự án luật, pháp lệnh đến Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Do đó, trong lý thuyết pháp quyền, đây là yếu tố quan trọng của nhánh quyền lực - quyền hành pháp.

Một yếu tố nữa về nhận thức cần bàn đến trong quyền hành pháp là, chủ thể thực hiện quyền hành pháp bao gồm các thành viên Chính phủ - quyền được quyết định những vấn đề quan trọng trong hoạt động hành chính - chính trị của tập thể Chính phủ (quyền này có tính độc lập trong mối quan hệ với lập pháp và tư pháp) và quyền chỉ đạo, điều hành tối cao (hành chính) trong lĩnh vực, ngành mà từng thành viên Chính phủ phụ trách (đứng đầu). Xác định rõ quyền hành pháp (excutive) và hành chính (administrative) không chỉ tạo ra cách nhìn mới cho một nền hành chính khoa học, tiến bộ mà còn có tác dụng phân biệt trách nhiệm của chính khách (người đứng đầu bộ, ngành) với công chức hành chính (công chức các cấp) hiện đang lẫn lộn trong bộ máy chính phủ chúng ta. Một học giả đã có lý khi viết "chỉ khi nào người xây dựng pháp luật tìm ra được ý tưởng xây dựng một nền hành chính tiến bộ, đó là phân biệt được quyền của chủ thể thực hiện quyền hành pháp với quyền của chủ thể triển khai hoạt động quản lý (hành chính), thì lúc đó, chúng ta mới nói đến một nền hành chính phát triển"[2]

Từ cách hiểu này, cần có sự phân biệt rõ mối quan hệ giữa "hành pháp tập thể" với "hành pháp cá nhân" của Chính phủ, các thành viên Chính phủ trong hoạt động của Chính phủ. Đồng thời, cấu tạo bộ máy Chính phủ sao cho các công chức hành chính (người làm quản lý hành chính) vừa thực thi công vụ, vừa là người kết nối quyền hành pháp giữa các thành viên Chính phủ với các chủ thể triển khai hoạt động hành chính ở các bộ, ngành và địa phương[3]. Thực hiện được điều này sẽ khắc phục được tình trạng Bộ trưởng vừa là chính khách, vừa là người điều hành cụ thể, tạo điều kiện cho các thành viên Chính phủ (Bộ trưởng) tập trung vào các công việc điều hành vĩ mô, hoạch định chính sách ở các ngành, lĩnh vực được phân công theo thẩm quyền.

Tuy nhiên, khi nhận thức về vấn đề quyền hành pháp, cũng cần chú ý là, ở nước ta, quyền lực nhà nước bắt nguồn từ nhân dân, thuộc về nhân dân. Việc phân công ba quyền chỉ là phương thức thực hiện quyền lực nhân dân, không nên và không cho phép được hiểu: quyền hành pháp độc lập tuyệt đối, tách rời quyền lực của nhân dân; cũng không nên hiểu rằng, quyền lực của Quốc hội (quyền lập pháp) là quyền lực "mẹ" chi phối các quyền hành pháp, tư pháp, mặc dù trên thực tế, Chính phủ, Toà án vẫn có thể do Quốc hội bầu ra hoặc quyết định các vấn đề chi phối đến quyền hành pháp và tư pháp, ngược lại, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao cũng tham gia lập pháp (xây dựng, trình các dự án luật, pháp lệnh…) Đó là tất yếu khách quan của đời sống quyền lực ở Việt Nam.

1.2. Một đất nước mạnh là một đất nước có Chính phủ mạnh

Sức mạnh của Chính phủ thể hiện ở phương pháp, cách thức quản lý tầm vĩ mô và sự chỉ đạo của nó đối với hệ thống các cơ quan hành chính.

Trong điều kiện chúng ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, điều quan trọng trong cách thức quản lý tầm vĩ mô là, Chính phủ phải định ra được chiến lược và sách lược quản lý xã hội theo lộ trình trước mắt và lâu dài. Giải quyết được các vấn đề xã hội đang là cơ hội và thách thức lớn khi chúng ta hội nhập kinh tế quốc tế (Chính phủ phải làm gì khi nền kinh tế đa thành phần; Chính phủ trong mối quan hệ với dân doanh; các dịch vụ công của Chính phủ; hiện đại hoá lề lối làm việc để tạo ra nền hành chính phục vụ nhân dân…). Toàn bộ các yêu cầu này xuất phát từ đòi hỏi của đất nước thông qua việc định hướng của Đảng và các đạo luật do Quốc hội ban hành, mà Chính phủ là cơ quan đề xuất và triển khai các đạo luật đó trong thực tiễn.

Cùng với nhiệm vụ quản lý vĩ mô, sự chỉ đạo, điều hành toàn bộ nền hành chính đòi hỏi Chính phủ phải đổi mới việc xây dựng thể chế hành chính; tiếp cận nền công vụ hiện đại; phân công, phân cấp giữa các cấp hành chính; ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền, nhằm tạo ra một nền hành chính điều hành thông suốt, có kỷ cương; đồng thời tăng cường các thiết chế kiểm tra, thanh tra trong quản lý nhằm phát huy các ưu điểm và đẩy lùi những thói hư, tật xấu trong bộ máy nhà nước.

Một Chính phủ “gần dân” là một Chính phủ phục vụ dân. Muốn vậy, Chính phủ phải tận tuỵ, công tâm, chu đáo với trách nhiệm cao trước nhân dân theo phương châm mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm tốt, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh. Chính phủ phải tạo môi trường pháp lý thông thoáng, ổn định và thuận lợi cho doanh nghiệp, doanh nhân làm ăn; chấm dứt tình trạng đẩy khó khăn cho người dân, doanh nghiệp, doanh nhân, dành thuận lợi cho các cơ quan hành chính trong xây dựng và thực hiện pháp luật.

Xác định đúng nhận thức trên, sẽ có cơ sở để Chính phủ có điều kiện chuyển từ "hành chính cai trị" sang "hành chính phục vụ" mà đối tượng phục vụ là nhân dân; đồng thời cũng là tiền đề để tinh giản bộ máy hành chính vốn đã mang nặng tính bảo thủ, bao cấp chuyển sang nền hành chính khoa học, gọn nhẹ, chuyên nghiệp, có hiệu lực, hiệu quả, hoạt động theo nguyên tắc của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng.

2.  Về các chế định cụ thể trong Luật TCCP

Việc sửa đổi, bổ sung Luật TCCP lần này phải thể hiện được cụ thể các nội dung sau:

2.1. Đề cao nguyên tắc chế độ tập thể trong hoạt động của Chính phủ với đề cao trách nhiệm cá nhân của các thành viên Chính phủ.

Đây là nguyên tắc xuyên suốt trong hoạt động của Chính phủ ở bất kỳ quốc gia nào. Cần quy phạm hoá ngay trong luật về thẩm quyền của Chính phủ (tập thể) với các loại công việc nào do cá nhân Thủ tướng Chính phủ quyết định.

Khác với các tổ chức Đảng, đoàn thể, nguyên tắc làm việc tập thể của Chính phủ có đặc thù riêng, xuất phát từ cơ sở trách nhiệm tập thể và cá nhân trong nền hành chính. Trong đó, cần quy định rõ hơn thẩm quyền của người đứng đầu Chính phủ (Thủ tướng Chính phủ) với tập thể Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ là thành viên Chính phủ, nhưng là người đứng đầu Chính phủ, quyết định các hoạt động hành chính của đất nước. Ngoài tư cách là người đứng đầu, Thủ tướng Chính phủ còn có quyền định hướng và quyết định những vấn đề quan trọng trong tập thể Chính phủ (quyền năng này đã được quy định rõ trong Hiến pháp năm 1992). Sửa đổi, bổ sung Luật TCCP lần này, cần làm rõ loại thẩm quyền này theo hướng đề cao vai trò cá nhân Thủ tướng trong việc bảo đảm tính thống nhất, ổn định và kỷ cương của nền hành chính bằng cách quy định bổ sung thẩm quyền như: bổ nhiệm Chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, quyền điều động hoặc tạm đình chỉ công tác của Bộ trưởng; thẩm quyền tài phán hành chính[4]… (tuyệt đối không cho phép quy định thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ trong các hình thức văn bản của Chính phủ). Các quy định này sẽ góp phần bảo đảm thực hiện một nền hành chính thống nhất, thông suốt, có hiệu quả.

Đối với các Bộ trưởng và thành viên Chính phủ, cũng cần làm rõ trách nhiệm trong quá trình thực hiện quyền hành pháp. Điều 117 của Hiến pháp năm 1992 quy định "Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ, trước Quốc hội về lĩnh vực, ngành mình phụ trách". Quy định này bao gồm 2 loại trách nhiệm:

Thứ nhất, trách nhiệm chính trị của các thành viên Chính phủ.

Cơ sở của trách nhiệm này xuất phát từ quyền lực chính trị do nhân dân gián tiếp bầu ra thông qua sự phê chuẩn của Quốc hội, theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ đối với các Bộ trưởng.

Tính chất chính trị của trách nhiệm này liên quan đến hệ quả của việc các thành viên Chính phủ phải làm gì để cử tri của cả nước mong đợi (sự hưng thịnh của nền hành pháp hay sự phê phán của cử tri khi các thành viên Chính phủ không đáp ứng đòi hỏi của quyền lực nơi dân). Bộ trưởng không phải là công chức (như nhiều người vẫn quan niệm) mà là chính khách, gánh vác sứ mệnh đại diện cho cơ quan thực hiện chức năng hành pháp ở từng ngành, lĩnh vực. Do đó, trách nhiệm cũng phải tương ứng với thẩm quyền (ngoài thẩm quyền được quy định, Bộ trưởng cũng có quyền đòi hỏi nhân dân đánh giá về công tác của mình trong từng thời điểm trong nhiệm kỳ Chính phủ (thông qua sự giám sát của Quốc hội hoặc thậm chí từ chức vì lý do khách quan hoặc chủ quan mà không đủ khả năng đảm nhiệm chức vụ…)

Thứ hai, về trách nhiệm pháp lý

Bộ trưởng và các thành viên Chính phủ chịu trách nhiệm trước Thủ tướng. Điều đó có nghĩa là, ngoài quy định của Luật TCCP về thẩm quyền của Bộ trưởng, Bộ trưởng còn chịu sự phân công công tác của Thủ tướng Chính phủ, chịu tác động của quy chế hoạt động công vụ bao gồm các hình thức khen thưởng và kỷ luật nhất định (hiện nay các quy định này chưa có hoặc nếu có thì chưa đầy đủ hoặc chặt chẽ). Do đó, việc Bộ trưởng và các thành viên Chính phủ "chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ" cần được luật hoá theo hướng: trên cơ sở sự phê chuẩn của Quốc hội đối với các bộ trưởng và các thành viên khác theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ, Thủ tướng có thể ra quyết định bổ nhiệm, cách chức chức danh này. Đây cũng là cơ sở để sau này, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định đình chỉ có thời hạn với các Bộ trưởng và cấp tương đương, cũng như áp dụng các hình thức kỷ luật và khen thưởng khác với các chức danh này.

2.2. Đổi mới phương thức, lề lối làm việc của Chính phủ

Hiện nay, về cơ bản, chúng ta vẫn bị ảnh hưởng của cơ chế bao cấp trong hoạt động hành chính. Hay nói cách khác, chúng ta chưa có đủ điều kiện để chuyển đổi từ nền hành chính truyền thống sang nền hành chính phát triển. Đòi hỏi của nền hành chính phát triển thể hiện trong hoạt động của Chính phủ là các sinh hoạt của Chính phủ cần phải khoa học, hợp lý và phát huy được khả năng sáng tạo của các thành viên Chính phủ. Luật sửa đổi, bổ sung lần này cần quy định rõ nguyên tắc làm việc theo hướng dân chủ, minh bạch, khách quan, trong sáng quyền lập pháp, thực thi pháp luật và tổ chức cung ứng dịch vụ công; đồng thời, quy phạm hoá mối quan hệ công tác giữa Chính phủ với các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, đặc biệt là với các tổ chức chính trị - xã hội, trong đó chú trọng tạo điều kiện cho các tổ chức xã hội tham gia ý kiến vào các kế hoạch, chương trình, mục tiêu kinh tế - xã hội của Chính phủ (dưới hình thức phản biện, tư vấn) nhằm tạo tiếng nói chung và hành động thống nhất. Hiện nay, một số quy định của Chính phủ về công khai, minh bạch hoá chủ trương, định hướng chính sách và pháp luật đã được qui định tại nhiều nghị định của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng. Tuy nhiên, các quy định này chưa phản ánh đầy đủ mối quan hệ giữa hành pháp với các  định chế trong hệ thống chính trị như quy chế phối hợp công tác, quy chế thông tin báo chí… Để bổ sung và nâng cao giá trị pháp lý của các quy định hiện hành, cần luật hoá chúng nhằm thu hút hơn nữa các cơ quan, tổ chức xã hội, doanh nghiệp cũng như cơ quan báo chí tham gia các hoạt động thông tin của Chính phủ[5]. Đồng thời, quy định rõ hơn trong luật mối quan hệ công tác của Chính phủ với Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Các quy định về lề lối làm việc của Chính phủ trong luật cũng cần phải quán triệt tinh thần: giảm tối đa sự can thiệp mang tính chất hành chính vào hoạt động của thị trường và doanh nghiệp; đơn giản hoá thủ tục hành chính, quan tâm đến hiệu quả của nền công vụ; giảm bớt hội họp; áp dụng sâu rộng, có hiệu quả công nghệ thông tin vào hoạt động của Chính phủ... Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ giải quyết những vấn đề vượt thẩm quyền của Bộ trưởng hoặc những vấn đề cần thống nhất cao trong hoạt động hành pháp để trình Quốc hội (như các chương trình hành động; các dự án luật và các chính sách vĩ mô khác…); cần có chế tài kỷ luật nghiêm khắc đối với các hành động đùn đẩy trách nhiệm, “co cụm” hoặc đặc quyền, đặc lợi của các công chức, viên chức nhà nước trong các bộ, ngành của Chính phủ.

2.3. Tái cấu trúc Chính phủ theo hướng xây dựng bộ máy quản lý đa ngành, đa lĩnh vực

Mặc dù còn có sự hiểu khác nhau về khái niệm “ngành”, “lĩnh vực”, nhưng yêu cầu đặt ra là để tinh giản bộ máy, một chủ thể có thể quản lý nhiều lĩnh vực khác nhau. Đây cũng là vấn đề lớn nhất của cải cách Chính phủ và cũng là bài toán của sự tinh giản đầu mối các cơ quan hành chính. Để góp phần giải bài toán này, theo chúng tôi, cần tiến hành:

- Xác định lại chức năng, nhiệm vụ và tính chất quản lý nhà nước của từng bộ, tránh chồng chéo, “lấn sân” nhau, giảm tối đa sự can thiệp hành chính của bộ vào hoạt động của thị trường và doanh nghiệp; tách hệ thống cơ quan hành chính công khỏi hệ thống cơ quan sự nghiệp; phát triển các dịch vụ công nhằm thoả mãn nhu cầu thiết yếu của dân mà các cơ quan công quyền là chủ thể cung ứng;

- Thu hẹp và tiến tới quy định các bộ không còn chức năng làm đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước (nếu còn, cần tách quyền đại diện chủ sở hữu với quyền sản xuất kinh doanh giữa các bộ với các doanh nghiệp; xoá bỏ cơ chế bộ chủ quản);

- Phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ, các bộ với Uỷ ban nhân dân địa phương theo hướng làm rõ việc gì trung ương làm, việc gì địa phương làm hoặc được uỷ quyền. Cần làm rõ trách nhiệm pháp lý khi phân công hoặc uỷ quyền;

- Cơ cấu lại tổ chức bên trong của bộ theo nguyên tắc trách nhiệm của người đứng đầu hoạt động hành chính (tổng thư ký bộ); giảm cấp trung gian, bớt cấp phó; phân định rõ nhiệm vụ của các đơn vị trong bộ; hạn chế thành lập các cơ quan theo mô hình tổng cục;

- Giảm bớt và tiến tới xoá bỏ "cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước". Đối với cơ quan thuộc Chính phủ là đơn vị sự nghiệp, cần tập trung đầu mối quản lý nhà nước vào một cơ quan, tránh quá nhiều đầu mối quản lý mà hiệu quả không cao.

2.4. Cần có các quy định kiểm tra, thanh tra chặt chẽ đối với hoạt động hành chính

Kiểm tra, thanh tra là một chức năng, phương diện hoạt động của quản lý, "ở đâu có quản lý, ở đó có thanh tra, kiểm tra"

Sự thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động hành chính nhằm lập lại trật tự, kỷ cương hành chính, tăng cường năng lực cho hoạt động hành pháp. Một thiết chế hành pháp không thể coi là có hiệu quả, đủ sức đẩy lùi những khiếm khuyết nếu thiếu thanh tra, kiểm tra - như một giới hạn, một tác nhân điều chỉnh, kiểm soát tất yếu hoạt động quản lý. Rất tiếc, các quy định về thanh tra, kiểm tra trong Luật TCCP hiện hành còn mờ nhạt, hoặc nếu có cũng chưa tạo ra hiệu quả tích cực cho sự điều hành thống nhất của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Do đó, việc sửa đổi, bổ sung Luật TCCP lần này cần bổ sung các quy định về thanh tra, kiểm tra theo hướng thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật; kiểm tra hoạt động chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đối với hệ thống cơ quan hành chính từ trung ương đến cơ sở.

3. Các hoạt động nhằm tạo sự đồng bộ trong quá trình sửa đổi, bổ sung Luật TCCP 

3.1. Cần tổng kết, đánh giá hoạt động tổ chức thực hiện các quy định của Luật TCCP  hiện hành.

Trong đó, tìm ra những mặt tích cực của các quy định, chỉ ra các quy định đang cản trở hoặc không đáp ứng được yêu cầu cải cách, đổi mới nhằm sửa đổi, bổ sung một cách khoa học. Chú ý đến việc phân tích các quan hệ quản lý mà các quy phạm của Luật TCCP sẽ điều chỉnh nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội khi ban hành và thực hiện luật.

Kinh nghiệm cho thấy, hiệu quả của một đạo luật mới ra đời (kể cả sửa đổi, bổ sung) phải có đánh giá tác động hiệu quả kinh tế - xã hội và các dự báo của việc thực hiện các quy định đó. Ban soạn thảo dự án luật cần thu hút các chuyên gia, các nhà khoa học để có những luận cứ khoa học trước khi bắt tay vào soạn thảo. Mặt khác, cần khảo sát thực tiễn toàn diện các hoạt động quản lý nhà nước trong bộ máy nhà nước nói chung và của hệ thống cơ quan hành chính nói riêng để thống nhất cách hiểu về chức năng hành pháp của Chính phủ, nhiệm vụ quản lý hành chính của Chính phủ từ trung ương đến địa phương; đồng thời, trong điều kiện hội nhập, cần nghiên cứu kinh nghiệm các nước trong khu vực và trên thế giới về khoa học quản lý hiện đại để áp dụng phù hợp với điều kiện chuyển đổi cơ cấu của nền hành chính nước ta.

3.2. Cần quan tâm đồng bộ đến các quy định của các đạo luật khác trong quá trình soạn thảo

Để Luật TCCP trở thành đạo luật "xương sống" cho tổ chức và hoạt động của Chính phủ§, cần đặt luật này trong mối quan hệ với các chế định của dự án Luật Công vụ, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi) và các luật chuyên ngành khác. Việc làm này góp phần làm cho hoạt động của Chính phủ, các công chức của Chính phủ không những phải tuân theo khuôn khổ của chế độ công vụ mà còn xác định được tính thống nhất của "hệ thẩm quyền" trong các cơ quan hành chính (từ việc nhân danh quyền lực công của cơ quan, cá nhân người có thẩm quyền trong việc ban hành chính sách, đến trách nhiệm của các chủ thể này trong quá trình triển khai thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn ở các lĩnh vực quản lý nhà nước; khắc phục tình trạng luật nào cũng quy định thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ (một hiện tượng đang tồn tại trong các luật, pháp lệnh hiện hành). Để làm được điều này, Luật sửa đổi, bổ sung lần này cần quy định rõ, cụ thể hơn quyền hạn, nhiệm vụ của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất việc quy định quyền hạn, nhiệm vụ của các chủ thể này trong các luật chuyên ngành.

 3.3. Trên cơ sở các phân tích trên, cần có đề xuất, phương hướng sửa đổi một số điều của Hiến pháp 1992 về chức năng của cơ quan thực hiện chức năng hành pháp, cơ cấu của hệ thống cơ quan hành chính phù hợp với tinh thần các nghị quyết của các đại hội Đảng. Nếu nói Hiến pháp, pháp luật ở nước ta là sự thể chế hoá đường lối lãnh đạo của Đảng, thì một số quy định của Hiến pháp hiện hành về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước hiện nay chưa phù hợp và quán triệt tinh thần của Cương lĩnh và các nghị quyết các đại hội Đảng, đặc biệt là Đại hội Đảng lần thứ IX và X. Do đó, cần có quyết tâm cao trong việc định hướng sửa đổi Hiến pháp trong thời gian tới, nhằm cụ thể hoá đường lối của Đảng về xây dựng và hoàn thiện một Chính phủ hiện đại, thống nhất, ổn định và hoạt động thông suốt có hiệu lực, hiệu quả.

[1]Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb Chính trị Quốc gia, H, 2006; tr 127, tr 253; 

[2]Hermann Fichter-Chính phủ trong mối quan hệ với quyền lập pháp và tư pháp. Nxb Pháp lý - hành chính, Bonn. 1996; tr 212; 

[3] Hiện nay có tình trạng người ra quyết định quản lý phải mất nhiều thời gian để điều hành cụ thể việc thực hiện quyết định; người làm công việc hành chính thì can thiệp quá sâu vào việc ban hành quyết định (có trường hợp, người trình ký quan trọng hơn người ký);

[4] Hiện nay Thanh tra Chính phủ đang xây dựng Đề án thành lập cơ quan tài phán hành chính ở Việt Nam theo sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 6327/VPCP-CV ngày 19/11/2004. Trong quá trình sửa đổi Luật Tổ chức Chính phủ, cần nghiên cứu thiết chế này sao cho tương thích với thẩm quyền của Chính phủ; Thủ tướng Chính phủ; 

[5] Từ năm 2001 đến nay, hàng năm, Thủ tướng Chính phủ đã có cuộc gặp gỡ với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế để phổ biến chủ trương và tiếp nhận các ý kiến phản hồi chính sách kinh tế của Chính phủ từ các doanh nghiệp. 

(Bài viết đăng trên TCNCLP số 97, tháng 5/2007)

TS. Pham Tuấn Khải
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Bổ sung địa vị pháp lý của Kiểm toán Nhà nước và Tổng Kiểm toán Nhà nước trong Hiến pháp (15/01/2013)
Cơ chế kiểm soát hoạt động tư pháp - những vấn đề đang đặt ra và phương hướng đổi mới (15/01/2013)
Bàn thêm về vấn đề sửa đổi Hiến pháp 1992 nhìn từ nguyên tắc chủ quyền nhân dân (11/10/2012)
Những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện về điều kiện hoạt động của đại biểu Quốc hội (20/02/2012)
Góp bàn về Sửa đổi Hiến pháp ở Việt Nam (23/09/2011)
Lại bàn về bài học từ Hiến pháp 1946 (22/09/2011)
Quy trình sửa đổi, bổ sung hiến pháp và sự lựa chọn cho Việt Nam trong bối cảnh hiện nay (19/09/2011)
Lại bàn về bài học từ Hiến pháp 1946 (22/09/2011)
3.jpg
Đồng chí Nguyễn Đình Quyền, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc UBTVQH và ông Rhee, Ik Hyeon, Viện trưởng Viện Nghiên cứu pháp luật thuộc Chính phủ Hàn Quốc ký thỏa thuận hợp tác giữa hai cơ quan nghiên cứu tại Hà Nội, ngày 7/6/2018
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em qua công tác xét xử ở khu vực miền Trung - Tây nguyên

Tổng quan và đánh giá các quy định của pháp luật về đại biểu Quốc hội ở Việt Nam

Đặc điểm, yêu cầu và thực trạng phân cấp quản lý đất đai hiện nay

Tổ chức thi hành pháp luật theo Hiến pháp năm 2013 - nhân tố đảm bảo thực hiện nguyên tắc pháp quyền trong đời sống nhà nước và xã hội

Đồng bộ hóa luật tư hiện nay trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường: sự cần thiết và định hướng

kinh nghiệm xây dựng thể chế tự quyết cho các thành phố văn minh

Một số góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật An ninh mạng

Khai mạc Phiên họp thứ 25 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách kiến quốc trên nền tảng dân chủ

Vai trò của Toà Hành chính trong bảo đảm quyền công dân theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân