|
Các tiêu chuẩn đánh giá mức độ đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững trong hoạt động xây dựng pháp luật ở nước ta hiện nay (tiếp theo kỳ trước)
|
||
|
4. Xây dựng, hoàn thiện pháp luật về an sinh xã hội Theo quan niệm phổ biến của các nước trên thế giới hiện nay, pháp luật về an sinh xã hội bao gồm những quy phạm pháp luật điều chỉnh các vấn đề sau đây: Hệ thống bảo hiểm xã hội dành cho những đối tượng xã hội có quá trình đóng góp. Tài chính phân phối được gọi là tiền bảo hiểm. Nhóm đối tượng này được chia thành: - Người già và người về hưu nhận tiền bảo hiểm xã hội từ hệ thống tài chính quốc gia. Hệ thống này tập trung tiền từ ba nguồn: thuế bảo hiểm xã hội thu trực tiếp của công nhân khi họ còn làm việc, thuế bảo hiểm xã hội thu của người sử dụng lao động, trợ cấp của chính quyền trung ương. - Người thất nghiệp được nhận bảo hiểm thất nghiệp, tài chính để phân phối bao gồm trích một phần từ thuế bảo hiểm xã hội của công nhân. Tài chính trợ cấp của nhà nước thông qua tín dụng từ quỹ tín dụng quốc gia. Hệ thống trợ cấp xã hội dành cho những người không hoặc chưa có quá trình đóng góp. Tài chính phân phối được gọi là tiền trợ cấp. Hệ thống này bao gồm: trợ cấp cho người già; trợ cấp cho trẻ em của những gia đình nghèo; trợ cấp cho người mù; phúc lợi cho bà mẹ, trẻ em; trợ cấp cho các cơ sở dạy nghề và hướng nghiệp để họ có thể miễn học phí cho người nghèo; trợ cấp cho chương trình sức khoẻ công cộng chủ yếu phục vụ khám, chữa bệnh miễn phí cho người nghèo; trợ cấp nhà ở cho người nghèo. Ngoài ra, các nước còn thực hiện chiến lược bảo hiểm y tế quốc gia và có chính sách tuyên chiến với đói nghèo. Đơn vị xác định chuẩn nghèo ở các nước có thể khác nhau. Ví dụ ở Mỹ năm 1989, gia đình có duy nhất một người sẽ được xem là nghèo nếu thu nhập 5980 USD/năm trở xuống, với gia đình có 4 thành viên chuẩn này là 12000 USD/năm, và gia đình có 8 thành viên không kể lớn nhỏ là 20260 USD/năm1. Việt Nam là một nước đi sau trong việc xây dựng pháp luật về phúc lợi xã hội, vì thế Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm nước ngoài trong lĩnh vực này, đặc biệt là kinh nghiệm nước Mỹ. Trước đây, nước Mỹ đã có quan điểm quá cứng nhắc theo học thuyết của Adam Smith về chủ trương tự do kinh doanh, tự do sinh tồn, Nhà nước này từ khi lập quốc cho đến những năm 30 của thế kỷ 20 không tán đồng sự can thiệp và tái phân phối thu nhập quốc dân cho người nghèo. Việc tăng rồi sử dụng tiền thuế của doanh nghiệp, của nhà giàu để cung ứng những dịch vụ xã hội miễn phí cho những người có thu nhập thấp đối với đa số người Mỹ trước năm 1929 là một hình thức dung túng tình trạng lười biếng làm phương hại đến việc mở rộng đầu tư và phát triển Quốc gia. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng những năm 1929-1933 đã làm đảo lộn nhiều nhận thức, trong đó có nhận thức về tự do sinh tồn và tự do cạnh tranh. Năm 1933, khoảng 1/4 lực lượng lao động bị thất nghiệp. Năm 1934, tám triệu đàn ông không có việc làm và sống kham khổ, sự phân biệt chủng tộc trong việc xin việc, trong mua bán, cư trú, đi lại ngày càng gay gắt, đẩy đất nước này đến bến bờ nổi loạn và sụp đổ. Cử tri và nhân dân khắp nơi chất vấn trách nhiệm của chính quyền, đây là lý do chính khiến Đảng Cộng hoà thất cử Tổng thống và mất quyền kiểm soát Quốc hội. Đảng Dân chủ đưa ra thoả thuận mới về trách nhiệm và chính quyền công dân. Lần đầu tiên ở xã hội tự do cạnh tranh này người ta bắt đầu biết đến một điều rằng, chính quyền phải có trách nhiệm đối với nhân dân trong những hoàn cảnh như thế2. Sau cuộc suy thoái nói trên, người Mỹ bắt đầu nghĩ rằng tái phân phối thu nhập trở thành công cụ tất nhiên. Vì nếu không có sự tái phân phối thu nhập này thì tình trạng có những người sống dưới mức nghèo khổ bên cạnh những người quá giàu và thờ ơ với cái nghèo sẽ dẫn đến những cuộc xung đột xã hội, nội chiến và nguy cơ sụp đổ liên bang. Tổng thống Roosevelt đã lần lượt đưa ra hai “chương trình thoả thuận mới”, trong đó an sinh xã hội là chính sách tái phân phối lớn nhất từ trước đến nay của chính quyền trung ương ở phạm vi toàn thế giới trong lĩnh vực chính sách công. Năm 1935, Nhà nước Mỹ đã ban hành Luật An sinh xã hội. Năm 1964, nước Mỹ tuyên chiến với đói nghèo, chi tiêu cho an sinh xã hội tăng nhanh một cách chưa từng thấy, từ mức độ gần như bằng 0% trước năm 1929 lên đến khoảng 20% vào cuối những năm 1960. Tám năm cầm quyền của Clinton có hàng trăm chương trình và hàng nghìn dự án khác nhau. Đến năm 1995, chi tiêu cho phúc lợi xã hội của liên bang lên đến 650 tỷ USD (10 725 000 tỷ VNĐ), bằng 33% tổng chi tiêu của chính quyền trung ương3. Không dừng lại đó, đến năm 2000, tổng chi khu vực Nhà nước cho an sinh xã hội nói chung kể cả trợ cấp hưu trí cán bộ khu vực Nhà nước đã lên đến 40% tổng ngân sách4. Tính theo GDP, chi phí phúc lợi và xoá đói giảm nghèo ở Mỹ đã tăng từ 5% năm 1960 lên đến 13,2% năm 1993. Cũng tương tự như vậy, ta cũng có thể nhìn thấy ở các Nhà nước tư sản khác đã chi cho an sinh xã hội theo bảng thống kê sau đây:
Chính sách trợ cấp nhà ở của Mỹ cũng là một kinh nghiệm đáng quý cho Việt Nam hiện nay. Trong nhiều năm sau chiến tranh thế giới thứ nhất, trợ cấp nhà ở ở Mỹ theo một công thức duy nhất là Liên bang chi tiền để địa phương xây nhà của Nhà nước. Sau đó giao cho địa phương quản lý việc cho thuê với giá rẻ. Đối tượng được thuê là những người đã được giám định thu nhập để đảm bảo đúng diện nghèo. Những người sau đó tìm được việc làm thu nhập tăng lên, phải di chuyển sang nhà tư và trả lại nhà cho Nhà nước để người nghèo khác vào thuê. Tuy nhiên, vào năm 1932 đã có Luật cho vay, mua và xây nhà ở. Theo đó, các ngân hàng tín dụng cấp tín dụng để người dân có thể vay mua hoặc xây nhà rồi sử dụng căn nhà nói trên như thế chấp cho khoản nợ. Luật Về các khoản vay của chủ sở hữu nhà năm 1933 tiếp tục tạo một số điều kiện trả nợ dễ dãi hơn nhằm giúp người dân có thêm thuận lợi sở hữu nhà riêng. Luật Về nhà đất năm 1934 còn tiến hơn một bước: Luật đã thành lập hệ thống bảo đảm tín dụng nhà đất (Federal Home Loan Association). Hệ thống này cấp tín dụng ứng trước với lãi suất hỗ trợ cho người dân mua nhà sau đó có thể trả dần bằng cách chọn một trong nhiều giải pháp thanh toán nợ khác nhau phù hợp với mình nhất. Năm 1937, Luật Về nhà ở lại được bổ sung, sửa đổi. Ngân sách và công tác quản lý nhà ở của Liên bang được tăng cường. Chính quyền Liên bang đã chi những khoản tiền khổng lồ vào đầu tư nhà ở đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân có nhà ở. Lúc bấy giờ, người ta xây dựng những khu nhà ở khoảng 10 căn hộ với những mức độ giá cả khác nhau tương ứng với mức thu nhập và quy mô gia đình của tầng lớp nghèo. Những năm 1940 đến 1950, chính sách này đã giải quyết được tình trạng thiếu nhà cho rất nhiều hộ dân. Năm 1949, Luật Nhà đất được điều chỉnh. Theo Luật này, các khoản tài trợ từ Liên bang cho tu sửa nhà Nhà nước cũng như xây mới và cấp tín dụng hoặc các đảm bảo khác cho ngân hàng để gia tăng hỗ trợ vốn cho người nghèo mua nhà trả góp. Năm 1944, chương trình bảo đảm nợ vay mua và xây nhà của Uỷ ban Cựu chiến binh bắt đầu liên kết với hệ thống bảo đảm tín dụng nhà đất (FHA) để trợ giúp cho những hộ đã mua nhà nhưng có khó khăn trong việc trả nợ. Lúc đầu, nó chỉ tập trung trong phạm vi cựu chiến binh, sau đó mở rộng ra các đối tượng có các mức thu nhập thấp khác. Đến năm 1949, Luật Nhà đất lại được điều chỉnh, chính sách nhà ở cho người thu nhập thấp lại trở thành vấn đề quan tâm hàng đầu của Luật này, tài trợ từ Liên bang cho tu sửa nhà Nhà nước cũng như xây mới và cấp tín dụng hoặc bảo đảm khác cho ngân hàng để gia tăng hỗ trợ vốn cho người nghèo mua trả góp gia tăng nhanh. Luật Nhà ở năm 1954 củng cố tín dụng chương trình nhà ở cho đối tượng thu nhập thấp. Bên cạnh đó, Luật quy định vấn đề cấp vốn cho các tiểu bang, chính quyền địa phương trong chương trình phát triển nhà ở. Luật năm 1961 được thiết kế để khuyến khích các tổ chức phi lợi nhuận cùng tham gia với Nhà nước xây dựng nhà cho thuê giá rẻ, sửa chữa nhà cũ, kiến tạo khu tập thể mới để phục vụ cho đối tượng thu nhập thấp. Năm 1953, để công tác bảo vệ sức khỏe an sinh giáo dục được tăng cường, Chính phủ Mỹ đã thành lập Bộ Sức khoẻ - an sinh và giáo dục. Sự có mặt của Bộ là một yếu tố quan trọng tác động dây chuyền đến hiệu quả thực hiện các chương trình an sinh. Mọi chính sách về trẻ em, người già, phụ nữ không chồng, người tàn tật, nhà ở và y tế cùng tài chính được gom về một đầu mối. Công tác thống kê, nghiên cứu xây dựng chính sách bổ sung quản trị việc thực hiện của các tiểu bang trở nên hợp lý và tích cực5. Đến năm 1979, Bộ này được tách ra làm hai bộ: Bộ Giáo dục và Bộ Sức khỏe và dịch vụ về con người. Chính sách tuyên chiến với đói nghèo từ năm 1964 cùng với Luật cơ hội kinh tế khác với các chính sách trước đây không chỉ mở rộng hay củng cố những chính sách an sinh cũ mà còn giải quyết một vấn đề mới xử lý nguyên nhân tạo ra tình trạng đói nghèo. Quốc hội Mỹ đã thông qua một ngân sách tám trăm triệu USD để tạo công ăn, việc làm. Người lao động trưởng thành không có văn hoá, nghề nghiệp; thanh niên mới lớn là đối tượng chủ yếu nhận dịch vụ và chính sách. Toàn bộ nội dung chính sách tuyên chiến với đói nghèo bao gồm 3 phần: 1. Chính sách cho trẻ em và vị thành niên; 2. Chính sách cho người trưởng thành; 3. Các chương trình hành động của cộng đồng. Đối với chính sách cho trẻ em và vị thành niên, các nhà kiến tạo chính sách muốn giải quyết nguồn gốc của nghèo đói là tình trạng thất nghiệp do văn hoá thấp và không có tay nghề, do đó, song song với những chương trình đã có trong chính sách an sinh đã có năm 1935 chú trọng đến cách làm sao cho trẻ em và thanh niên trưởng thành nhưng chưa đến trường vì lý do này hay lý do khác phải được đến trường. Nạn đói nghèo chỉ có thể căn bản được giải quyết đến tận gốc khi con người có trình độ văn hoá và có tay nghề. Nhằm mục đích đó, “Chương trình thuận lợi ban đầu” (Head start) đã được hình thành. Chương trình này hướng đến việc cung cấp cho những trẻ em tuổi từ 4 đến 15 chưa từng đi học, xuất thân từ những gia đình nghèo nên không có điều kiện đến trường; hoặc đã đến trường nhưng đi học muộn nên không theo kịp học sinh cùng lớp; trẻ em từ những nguồn văn hoá và đất nước khác đến Mỹ theo gia đình chưa có điều kiện hoà nhập kịp… Chương trình này thực hiện đào tạo dự bị trước khi các em chính thức vào các lớp chung với trẻ em có điều kiện thuộc gia đình có thu nhập trung bình trở lên. Nội dung giáo dục cung cấp những kiến thức cơ sở. Với các em chuẩn bị vào lớp 1, người ta trang bị trước thông tin về bảng chữ cái, cách đánh vần, đọc viết, các con số và phép tính đơn giản, màu sắc… Với các trẻ em đang học nhưng không theo kịp lớp, chương trình trang bị lại kiến thức với tốc độ nhanh để bù đắp những lỗ hổng trong kiến thức của các em. Các lớp này được tổ chức vào thứ 7, chủ nhật và học hè như những lớp dự bị vào trường và thành công của nó rất ấn tượng. Sau 3 năm thực hiện chương trình này, người ta nhận thấy rằng số trẻ em qua các lớp đào tạo dự bị miễn phí này khi nhập học có học lực tốt so với trẻ không qua lớp. Khoảng cách trong học tập hầu như bị xoá bỏ. Hiệu quả chương trình thu hút mọi người đến nỗi những năm về sau, ngay cả những gia đình thu nhập trung bình và khá cũng sính để con mình được vào học những lớp dự bị mùa hè. Trong năm 1965, Liên bang đã chi cho chương trình “Head start” 103 triệu USD. Đến năm 1968, khi ngân sách chung cho chính sách tuyên chiến đói nghèo tăng từ 760 triệu USD lên 1773 triệu USD và ngân sách cho “Head start” đã tăng lên 3 lần. Chương trình đã gặt hái nhiều thành quả, trẻ em các lớp dự bị được chuẩn bị kỹ cho nên hầu hết học lực rất tốt và thường đứng đầu bảng trong lớp. Từ năm 1993 đến năm 2000, ngân sách của “Head start” tăng 90%. Có 800.000 trẻ em Mỹ nhận được trợ cấp. Năm 2002, có 01 triệu trẻ em nghèo được hưởng lợi ích từ chương trình “Head start”. Ngoài chương trình nói trên, ở Mỹ còn có “Chương trình tổ chức thanh niên thân hữu” (NYC). Chương trình tổ chức thanh niên thân hữu là kinh nghiệm tiền thân để nguyên Tổng thống Mỹ Bill Clinton đề xướng Luật Cơ hội vừa học vừa làm năm 1998. Chương trình NYC cung cấp cho những thanh niên mới lớn từ 16 đến 21 chưa từng đi học, học hành đứt đoạn hay đang học ở trường nhưng hoàn cảnh khó khăn và có nguy cơ bỏ học một công việc cụ thể để họ có thể kiếm ra tiền với điều kiện đánh đổi là họ phải tiếp tục việc học ở trường hay nếu họ chưa từng đi học thì họ phải bắt đầu đi học song song với đi làm, ngân sách Liên bang thông qua ban điều phối chương trình rót về cho những tổ chức, dịch vụ việc làm công cộng. Những tổ chức này vận động xin việc bán thời gian cho các thanh niên, hoàn tất thủ tục gửi họ đi làm, theo dõi họ để hỗ trợ những khi họ khó khăn hay chưa kịp thích nghi trong suốt quá trình họ vừa học, vừa làm. Mỗi năm hàng chục ngàn thanh niên mới lớn có được việc làm bán thời gian và việc làm vào ngày nghỉ, mùa hè để kiếm thêm tiền. Theo thống kê năm 1975, “Chương trình tổ chức thanh niên thân hữu” đã giải quyết việc làm và học tập cho khoảng 5 triệu thanh thiếu niên Mỹ xuất thân từ những gia đình nghèo nhất trong xã hội6. Một chương trình khác của chính sách an sinh xã hội có nội dung cũng giống như NYC là “chương trình vừa học vừa làm” (WSP). Đối tượng của chương trình là dành cho sinh viên từ 18 tuổi trở lên. Chính quyền Liên bang tài trợ đến 80% kinh phí để các tổ chức thuê mướn chấp nhận sinh viên làm việc, hoặc có thể được thuê trực tiếp trong trường như trực văn phòng, thu học phí, bảo vệ thư viện hay có thể làm việc cho các đơn vị kinh doanh bên ngoài. Luật Cơ hội vừa học vừa làm năm 1998 xây dựng trên tinh thần sáp nhập 2 chương trình NYC và WSP. Trong những năm Luật này có hiệu lực, sinh viên học tốt từ các gia đình có thu nhập thấp tăng lên rõ rệt. 5. Xây dựng chính sách pháp luật hợp lý về thuế Ý nghĩa xã hội của thuế thể hiện ở chỗ nó tái phân phối thu nhập từ bộ phận dân cư này sang một bộ phận dân cư khác hoặc chuyển nhượng thu nhập từ thời điểm này sang thời điểm khác. Thuế lấy đi một phần thu nhập của bộ phận dân cư có thu nhập cao và thu nhập trung bình để nuôi bộ máy công chức, viên chức nhà nước và cung ứng cho những dịch vụ công cộng như đường sá, công viên, trường học, bệnh viện, trạm xá, dịch vụ quốc phòng và an ninh mà mọi người dân đều được hưởng. Những loại thuế tài sản, thuế tiêu dùng, thuế sử dụng đất, thuế tài nguyên dùng để tái tạo nguồn lực và cung ứng thêm dịch vụ. Đó là những loại thuế nhằm mục đích tái phân phối. Những loại thuế khác như thuế bảo hiểm xã hội vừa mang tính tái phân phối dịch vụ từ người giàu qua người nghèo, vừa nhằm mục đích chuyển nhượng thu nhập từ thời điểm này qua thời điểm khác. Lúc còn trẻ, khi lao động người ta đóng thuế để khi về già có thể hưởng lương hưu và bảo hiểm hay trợ cấp y tế. Mặc dù thu thuế là cần thiết nhưng nếu chính phủ tăng thuế sẽ tạo ra tâm lý tiêu cực. Người dân cảm thấy thu nhập bị giảm; mặt khác, giá hàng hoá sẽ tăng lên do cộng mức tăng thuế vào giá. Người dân buộc phải giảm chi tiêu, sức mua giảm sút dẫn đến tổng cầu giảm và sản xuất cũng sẽ suy giảm. Ngược lại, nếu giảm thuế, cả giới chủ lẫn người lao động đều vui mừng vì thu nhập của họ sẽ tăng lên. Thuế giảm, giá hàng hoá cũng giảm, nhờ đó mà người dân có điều kiện mua sắm nhiều hơn. Như vậy, tổng cầu sẽ tăng và nhờ đó mà kích thích việc sản xuất hàng hoá nhiều hơn, tốc độ tăng trưởng sẽ cao hơn. Để xây dựng một chính sách thuế và pháp luật về thuế một cách hợp lý, chúng ta có thể tham khảo tỷ lệ % từng loại thuế trên tổng thu của một số nước công nghiệp năm 1995 theo số liệu thống kê dưới đây:
Các Chính phủ cần phải có doanh thu để trang trải chi phí, cung cấp các dịch vụ công, bao gồm cả những dịch vụ cải thiện môi trường đầu tư và đáp ứng nhu cầu xã hội khác. Trong quá khứ, Chính phủ tạo ra doanh thu từ các nguồn khác nhau. Họ tịch thu tài sản của kẻ thù và người dân của họ. Họ tạo ra độc quyền để bán cho người trả giá cao nhất. Họ đánh thuế đất, sản xuất, giao dịch, thu nhập và tiêu dùng. Phần lớn các loại thuế này ngày nay vẫn tiếp tục tồn tại. Thực tế, thuế thu nhập hiện nay ở nhiều nước trên thế giới là tương đối công bằng. Thuế thu nhập đầu tiên do Cộng hoà Batavian Hà Lan ấn định vào năm 17977. Thuế thu nhập doanh nghiệp ở Mỹ lần đầu tiên được đặt ra vào năm 1909 và thuế thu nhập cá nhân lần đầu tiên được đặt ra vào năm 1913. Thuế giá trị gia tăng (VAT) ra đời muộn hơn, ra đời lần đầu tiên ở Pháp năm 1948, cho đến những năm 70, 80 của thế kỷ XX nó vẫn chưa trở thành thứ thuế thông dụng. Chừng nào Chính phủ còn áp đặt thuế thì chừng đó còn có người phàn nàn. Ở các nước kinh tế đang phát triển, hầu hết các doanh nghiệp đều cho rằng trở ngại chủ yếu đối với họ là thuế. Các công trình nghiên cứu về đầu tư nước ngoài vào Mỹ đã chỉ ra rằng 01% gia tăng thuế suất sẽ làm giảm 3,3 % vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài8. 6. Chính sách pháp luật chi tiêu hợp lý của Chính phủ Chính sách pháp luật về chi tiêu của Chính phủ tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự phát triển kinh tế và an sinh xã hội. Tác động trực tiếp thể hiện ở chỗ khi Chính phủ tăng chi vào bất cứ công việc gì, tổng cầu sau đó tăng ngay lập tức do các khoản chi của Chính phủ luôn là những khoản tiền lớn. Nếu Chính phủ chi để tăng lương, thì thu nhập công chức, viên chức nhà nước sẽ tăng. Họ sẽ có khuynh hướng mua sắm nhiều hơn và làm cho tổng cầu sẽ tăng. Nếu Chính phủ chi cho việc xây dựng một công trình, việc làm trong khu vực đó sẽ tăng, thu nhập lao động trong lĩnh vực đó cũng sẽ tăng. Khi Chính phủ tăng chi để xây dựng trường học, bệnh viện, công viên hoặc đường sá, nhà máy, đường xe lửa thì khoản tiền chi đó sẽ chuyển thành các khoản mua sắm hàng hoá và dịch vụ khác nhau để thực hiện chính sách. Khối lượng mua tăng vọt ở một số mặt hàng làm cho giá cả của chúng và giá cả một số mặt hàng khác liên quan tăng lên. Lạm phát sẽ diễn ra, nhưng bù vào đó doanh nghiệp liên tục bán hết hàng, lãi suất nhiều sẽ thúc đẩy sự sản xuất, tạo ra tăng trưởng cao hơn. Ngược lại, khi Chính phủ giảm chi phí cho bất kỳ một khu vực nào, sản xuất khu vực đó sẽ nguội lạnh. Nếu Chính phủ đồng loạt cắt chi tiêu nhiều lĩnh vực, tổng cầu toàn thị trường có thể sẽ giảm sút nhanh chóng. Giảm chi như vậy sẽ làm hạ giá sản phẩm và giảm mức độ tăng trưởng. 7. Phối hợp chính sách pháp luật về thuế và chính sách pháp luật về chi tiêu của Chính phủ Nếu Chính phủ biết phối hợp giữa chính sách pháp luật về thuế và chính sách pháp luật về chi tiêu thì tác động của nó đối với phát triển kinh tế, xã hội bền vững sẽ có hiệu quả lớn. Một Chính phủ trung tính hoặc thiếu trách nhiệm sẽ chỉ nghĩ đến làm sao để cân bằng ngân sách. Một Chính phủ phục vụ cho chính sách phát triển bền vững sẽ không nghĩ đến việc cân bằng ngân sách mà phải nghĩ đến làm sao để kinh tế tăng trưởng. Một chính sách tăng thuế, giảm chi sẽ làm ngân sách dư tiền. Đây là chính sách ngân sách thặng dư. Ngược lại, một chính sách giảm thuế, tăng chi sẽ làm thiếu hụt tài chính và phải vay nợ. Đây là chính sách ngân sách thâm hụt. Khi ngân sách rơi vào một trong hai tình trạng nói trên vì không khống chế được thì người ta không gọi đó là chính sách. Trường hợp này thường rất hiếm. Trong thực tiễn, phần lớn tình trạng thâm hụt hay thặng dư ngân sách đều được thực hiện theo ý đồ chính sách tài chính mà Chính phủ đã lựa chọn. Nếu Chính phủ muốn tăng trưởng cao hơn thì chính sách thâm hụt ngân sách là cần thiết, vì trong trường hợp này cần phải tăng chi và giảm thuế để kích thích cả cung và cầu. Ngược lại, khi Chính phủ muốn giảm lạm phát trong một nền kinh tế đã bị đốt nóng thì cần phải thực hiện chính sách ngân sách thặng dư vì tăng thuế, giảm chi sẽ rút bớt tiền lưu thông về, giảm tiêu dùng, giảm thu nhập, giảm tổng cầu và tổng cung, tạm thời cho giảm tốc độ tăng trưởng. Cần lưu ý rằng, khi một nền kinh tế đang trên đà tăng trưởng như ở nước ta hiện nay thì công việc năm sau thường nhiều hơn năm trước. Do đó, Chính phủ có mức chi ngày càng tăng do sự đòi hỏi của tình hình kinh tế- xã hội. Mặc dù nhà kinh tế học nổi tiếng Keynes cho rằng ngân sách cần có những lúc thặng dư để chống lạm phát; tuy nhiên, kinh nghiệm thực tiễn ở Hoa Kỳ từ năm 1945 đến năm 2000 cho thấy trong 56 năm đó thì chỉ có 06 năm ngân sách không thâm hụt9. Thời gian trước đó, từ năm 1935 đến năm 1945, ngân sách cũng liên tục thâm hụt do những khoản chi khổng lồ cho chương trình công cộng. Đặc biệt từ năm 1942- 1945, ngân sách thâm hụt hàng năm bình quân khoảng 45 tỷ USD. Bù lại, tổng độ tăng trưởng lại liên tục tăng. Nếu năm 1932 GDP của Mỹ có mức tăng là -4,0% thì năm 1934 đã tăng vọt lên 17%, những năm 1934-1937 là 9%, những năm 1941,1942,1943 mức tăng trưởng lại lên đến 17% và tỷ lệ thất nghiệp chỉ còn lại 1,2% vào năm 194410. Ngân sách thâm hụt nhưng tốc độ tăng trưởng cao, thu nhập của người dân cao hơn, thất nghiệp giảm, giá cả ổn định. Đó là những thành tựu lớn mà khi lên cầm quyền từ năm 1933, Tổng thống Roosevelt đã làm cho nước Mỹ và cũng chính nhờ những thành tựu này mà ông là người duy nhất được đắc cử Tổng thống liên tục 4 nhiệm kỳ. 8. Chính sách pháp luật về tiền tệ mềm dẻo và năng động Chính sách pháp luật về tiền tệ của Chính phủ có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo phát triển bền vững. Chính phủ có thể điều chỉnh lãi suất cho vay của ngân hành trung ương và sự điều chỉnh này sẽ ảnh hưởng đến lãi suất của các ngân hành thương mại; từ đó, gián tiếp quyết định lãi suất tiền gửi và lãi suất trái phiếu. Khi lãi suất nói chung được ngân hàng trung ương làm tăng, chi phí sản xuất sẽ trở nên cao hơn, sẽ hạn chế đầu tư mở rộng, làm giảm tổng cung, giá hàng hoá sẽ tăng. Mặt khác, do lãi suất cao, việc gửi tiền vào ngân hàng sẽ trở nên hấp dẫn, người dân sẽ tăng cường tiết kiệm để dành tiền gửi ngân hàng. Tình trạng trên đây sẽ làm giảm chi tiêu của người dân, tổng cầu sẽ giảm, giá hàng hoá cũng sẽ dần dần giảm, tăng trưởng cũng vì đó mà giảm theo. Ngược lại, ngân hàng giảm lãi suất sẽ làm tăng tiêu dùng và đầu tư. Kinh tế sẽ dần dần hồi phục. Kinh nghiệm ở Hoa Kỳ cho thấy, sau bầu cử tháng 11 năm 2000, tình hình tiêu dùng và sản xuất ở Mỹ đã có chiều đi xuống, Alan Greenspan phải giảm 0,25% lãi suất để vực tiêu dùng và đầu tư trở lại. Và sau đó, do tình hình chưa tiến triển tốt, ông đã tiếp tục cho giảm lãi suất trong những tháng đầu năm 200111. Ngân hàng trung ương cũng có thể dùng biện pháp mua, bán chứng khoán để điều tiết nền kinh tế. Khi ngân hàng trung ương tung chứng khoán ra bán sẽ làm chứng khoán giảm giá nhanh, gián tiếp đẩy lãi suất của chứng khoán lên cao. Lãi suất cao của chứng khoán lập tức tạo khuynh hướng rút tiền khỏi ngân hàng để đầu tư chứng khoán. Tình trạng tiền mặt bị rút ào ạt khiến các ngân hàng thương mại phải nâng lãi suất lên để giữ vốn lại. Thế là lãi suất thị trường đồng loạt lên. Khi ngân hàng trung ương tung tiền ra để mua chứng khoán, tiền mặt ra lưu thông khiến đầu tư và tiêu dùng trở nên dễ dàng. Chứng khoán lên giá nhanh khiến lãi suất của nó giảm. Các nhà đầu tư tranh nhau bán chứng khoán theo để khỏi lỗ và chuyển tiền về gửi ngân hàng. Tiền gửi đột ngột tăng làm các ngân hàng thương mại thừa tiền buộc họ phải hạ lãi suất cả tiền cho vay lẫn tiền gửi. Thế là lãi suất thị trường từ từ hạ. Ở Hoa Kỳ, Hội đồng thị trường mở là nơi thiết kế chính sách điều chỉnh hoạt động của thị trường chứng khoán, nơi quyết định dung lượng mua hay bán trái phiếu, thời điểm nào, loại chứng khoán nào. Hiệu ứng của nó là góp phần cải tạo cơ cấu đầu tư. Ví dụ, nếu ngân hàng trung ương muốn phát triển ngành máy tính mạnh hơn nữa, khi thực hiện nghiệp vụ thị trường mở, nó sử dụng chứng khoán của ngành này. Việc mua ào ạt chứng khoán của các công ty máy tính sẽ làm giá cả trái phiếu và cổ phiếu của ngành này tăng. Tài sản bằng tiền của mỗi công ty qua giá trị cổ phiếu sẽ đột nhiên tăng vọt lên. Những nhà kinh doanh trong ngành này trở nên giàu một cách nhanh chóng khiến cho không những họ mở rộng đầu tư mà giới kinh doanh các ngành khác cũng sẽ đổ xô đầu tư vào máy tính. Nhờ đó mà ngành công nghiệp máy tính sẽ nhanh chóng phát triển12. 9. Chính sách pháp luật bảo đảm tăng trưởng kinh tế liên tục và tỷ lệ thất nghiệp thấp Tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên của thu nhập bình quân đầu người tại thời điểm đang xét so với thời điểm tương ứng của năm vừa qua. Muốn đạt được tăng trưởng kinh tế liên tục và bền vững thì nền kinh tế phải liên tục mở rộng sản lượng với chất lượng hàng hóa, dịch vụ tăng ở đa số các ngành nghề. Khi mà đa phần các ngành nghề gia tăng được đầu ra, lợi nhuận từ sản lượng tăng sẽ được phân phối qua nhiều hình thức và thu nhập bình quân đầu người sẽ tăng. Mức sống của người dân ngày càng cao hơn, chất lượng cuộc sống ngày càng tốt hơn. Muốn có tăng trưởng, đa số các doanh nghiệp phải mở rộng sản lượng của họ so với năm trước. Khi doanh nghiệp mở rộng sản lượng do nhu cầu tiêu dùng tăng thì tiến trình tăng việc thường gắn với sự đòi hỏi thêm nguồn lực lao động. Do đó, tăng trưởng liên tục là điều kiện thuận lợi để giảm tỷ lệ thất nghiệp trong cộng đồng dân cư. Tỷ lệ thất nghiệp giảm thì tỷ lệ tội phạm cũng giảm, chi phí trợ cấp thất nghiệp giảm xuống, tạo điều kiện thuận lợi để tăng phúc lợi xã hội cho người dân. Chống thất nghiệp chính là biện pháp xoá đói giảm nghèo một cách căn bản và hiệu quả. Chính vì vậy, một chính sách pháp luật tốt, đảm bảo phát triển bền vững phải là một chính sách pháp luật không những tạo đà tăng trưởng liên tục mà còn đề ra các quyết sách tạo ra nhiều việc làm mới cho người dân, giảm tỷ lệ thất nghiệp trong xã hội. (1) TS. Lê Vinh Danh, Chính sách công của Hoa Kỳ giai đoạn 1935-2001, Nxb. Thống kê, 2001, tr. 432. (2) TS. Lê Vinh Danh, sđd, tr.413. (3) TS. Lê Vinh Danh, sđd, tr. 413. (4) TS. Lê Vinh Danh, sđd, tr. 413. (5) TS. Lê Vinh Danh, sđd, tr. 426. (6) TS. Lê Vinh Danh, sđd, tr. 437. (7) Ngân hàng thế giới, Báo cáo phát triển thế giới 2005, Nxb. Văn hoá thông tin, tr. 144. (8) TS. Lê Vinh Danh, sđd, tr. 146. (9) Xem: Historical Budget Data, www.cbo.gov/showdoc.cfm/feb,07/2001.p. 01-25. (10) TS. Lê Vinh Danh, sđd, tr. 530. (11) TS. Lê Vinh Danh, sđd, tr. 544. (12) TS. Lê Vinh Danh, sđd, tr. 545.
|











