Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ ba, 23/10/2018, 05:37(GMT+7)
 
Tổ chức bộ máy nhà nước

Bổ sung quy định về quyền miễn trừ trách nhiệm của đại biểu Quốc hội

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Quyền miễn trừ trách nhiệm (MTTN) của các đại biểu Quốc hội (ĐBQH) là quyền của các ĐBQH không phải chịu trách nhiệm pháp lý về những câu hỏi, kiến nghị, sự lựa chọn biểu quyết hay các phát biểu của mình về tất cả các vấn đề được đặt ra tại Quốc hội. Trong bối cảnh hiện nay, cả về mặt lý luận và thực tiễn, cần phải bổ sung các quy định về đặc quyền này cho các ĐBQH để nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động của Quốc hội cũng như tăng cường năng lực đại diện của các đại biểu. Quyền MTTN không chỉ mang tính cá nhân, bảo đảm sự an toàn cho cá nhân các đại biểu mà còn là yếu tố góp phần đảm bảo lợi ích chung của toàn xã hội.

1. Quyền miễn trừ trách nhiệm của đại biểu Quốc hội ở các nước

Quyền MTTN là một quyền đặc thù của các nghị sĩ Quốc hội (có tài liệu gọi là quyền đặc miễn) được quy định tương đối rộng rãi trong các văn bản pháp luật về tổ chức và hoạt động của Quốc hội các nước. Theo đó, các nghị sĩ Quốc hội không phải chịu trách nhiệm pháp lý về những câu hỏi, kiến nghị, sự lựa chọn biểu quyết hay các phát biểu của mình về tất cả các vấn đề được đặt ra tại Quốc hội1.

  Pháp luật các nước quy định cho các ĐBQH được hưởng đặc quyền này là để bảo đảm cho ĐBQH có vị trí độc lập và sự tự do trong suy nghĩ khi thực hiện nhiệm vụ là người đại diện của nhân dân. Thực tế cho thấy, ngay từ khi những tổ chức mang tính chất đại diện đầu tiên của nhân dân được thành lập ở La Mã cổ đại, việc đảm bảo sự độc lập của các thành viên của các cơ quan này đã được đề cập. Những người được xem là đại diện cho dân chúng được hưởng sự bảo vệ đặc biệt khỏi việc bị xâm phạm thân thể cũng như việc cản trở quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình2.

Đến thời kỳ Nghị viện bắt đầu được thành lập ở Vương quốc Anh - quê hương của nền dân chủ Nghị viện - thì quyền MTTN của nghị sĩ được áp dụng nhằm nhấn mạnh việc đảm bảo quyền tự do ngôn luận trong quá trình thảo luận của Nghị viện. Điều này được đánh dấu bởi sự kiện xảy ra vào năm 1397, khi một nghị sĩ của Hạ nghị viện Anh đã bị vua Richard Đệ nhị khép vào tội khi quân do đã làm chủ mưu trong việc thông qua một đạo luật của Nghị viện nhằm phản đối và bác bỏ một phán quyết của Tòa án do nhà Vua dựng lên và các gánh nặng tài chính mà nhà Vua áp đặt với dân chúng. Tuy nhiên, trước sự phản đối của Nghị viện và công luận, nhà Vua đã phải trả tự do cho vị nghị sĩ này. Và từ đó, Nghị viện Anh đã khẳng định, các nghị sĩ được tự do và độc lập trong việc thảo luận các vấn đề của Nghị viện trước sự can thiệp từ phía Hoàng gia cũng như từ bên ngoài Nghị viện. Các nghị sĩ không thể bị truy tố, điều tra, bắt giam hoặc trở thành đối tượng bị xét xử vì thể hiện chính kiến hoặc đề nghị của mình khi đang thực hiện nhiệm vụ3.

Cho đến ngày nay, quy định về quyền MTTN của các nghị sĩ Quốc hội đã trở nên phổ biến ở hầu hết Nghị viện các nước trên thế giới. Tuy nhiên, có sự khác biệt nhất định về cách thức và phạm vi áp dụng đặc quyền này ở các quốc gia khác nhau4.

Về phạm vi các đối tượng được hưởng quyền miễn trừ, pháp luật của nhiều nước chỉ cho phép áp dụng đối với các ĐBQH. Tuy nhiên, cũng có những Nghị viện cho phép tất cả những người tham gia các phiên thảo luận của Quốc hội được hưởng quyền này như trợ lý của các nghị sĩ (Philippines), các chuyên viên của văn phòng giúp việc (Sri Lanka, Bangladesh), các nhân chứng cung cấp thông tin tại các phiên điều trần của ủy ban Nghị viện (Ireland).

Pháp luật của các nước có những quy định khác nhau về thời điểm bắt đầu và kết thúc của việc áp dụng quyền MTTN. Ở nhiều nước, các nghị sĩ được hưởng quyền miễn trừ kể từ khi họ được tuyên bố trúng cử trong một cuộc tuyển cử hợp pháp (Bỉ, Italia, Cộng hòa Séc, Ba Lan...). Ở một số nước khác, quyền miễn trừ được áp dụng khi các ứng cử viên được thẩm tra xong tư cách đại biểu (Liên bang Nga, Mali), hoặc sau khi các nghị sĩ chính thức tuyên thệ nhậm chức (Argentina, Hà Lan, Hàn Quốc…). Trong thời gian tại chức, quyền MTTN có thể được áp dụng chỉ trong thời gian diễn ra các phiên họp (Australia, Vương quốc Anh, Ai Cập…) hoặc trong toàn bộ thời gian kỳ họp của Quốc hội (Đan Mạch, Thụy Điển, Phần Lan…). Tuy nhiên, có một điểm chung là thời điểm kết thúc quyền miễn trừ được pháp luật phần lớn các nước quy định trùng với thời điểm kết thúc nhiệm kỳ của ĐBQH. Quyền được MTTN không bị hạn chế về mặt thời gian đối với các phát biểu và hành vi biểu quyết được công khai dưới bất kỳ hình thức nào mà các nghị sĩ đã thực hiện trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đại biểu của mình.

Về phạm vi không gian của quyền MTTN, pháp luật hầu hết các nước không đặt ra giới hạn về mặt không gian áp dụng mà chỉ xem xét các hoạt động đó có thuộc phạm vi trách nhiệm của các nghị sĩ Quốc hội hay không. Điều đó có nghĩa là, tất cả những phát biểu của nghị sĩ, nếu có liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu, dù được thực hiện ở địa điểm nào đi nữa đều được hưởng quyền MTTN. Tuy nhiên, cũng có những quốc gia đặt ra những quy định nghiêm ngặt hơn về phạm vi không gian áp dụng. Chẳng hạn như ở Anh, các nghị sĩ chỉ được hưởng đặc quyền này đối với các hành vi diễn ra trong phạm vi tòa nhà Nghị viện. Những hành vi khác, mặc dù có thể liên quan đến phạm vi nhiệm vụ của người đại biểu, nhưng nếu diễn ra ngoài phạm vi tòa nhà Nghị viện, thì vẫn không được hưởng quyền miễn trừ. Điều đó có nghĩa là những hoạt động như tiếp xúc cử tri, hoặc thay mặt cử tri gửi các khiếu nại đến các cơ quan nhà nước được thực hiện bên ngoài Nghị viện đều không thuộc đối tượng được bảo vệ của quyền MTTN. Thậm chí, pháp luật một số nước như ở Malaysia, Bangladesh còn quy định quyền miễn trừ chỉ áp dụng đối với các phát biểu của nghị sĩ Quốc hội tại phòng họp toàn thể của Quốc hội hoặc các phiên họp của ủy ban.

Về những hành vi được áp dụng quyền MTTN, do nguồn gốc của việc áp dụng quyền MTTN là để bảo vệ quyền tự do ngôn luận của các đại biểu trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, nên phạm vi những hành vi được áp dụng thường bao gồm những phát biểu của nghị sĩ tại phiên họp toàn thể của Quốc hội hoặc phiên họp của ủy ban, các lựa chọn biểu quyết và các câu hỏi chất vấn. Để bảo vệ quyền tự do ngôn luận và sự độc lập của các nghị sĩ một cách tối đa trong việc thực thi nhiệm vụ của mình, pháp luật các nước cũng quy định, các đại biểu không phải chịu trách nhiệm về những phát biểu của mình khi chúng được công bố công khai trong các ấn phẩm chính thức của Nghị viện như trong biên bản của Quốc hội hoặc công báo.

Tuy nhiên, để hạn chế việc quyền MTTN có thể bị các nghị sĩ lạm dụng, pháp luật các nước cũng đặt ra những quy định cụ thể cho phép Quốc hội có thể tước quyền miễn trừ của nghị sĩ. Pháp luật hầu hết các nước quy định rất rõ thủ tục này vì tính chất quan trọng của nó, bảo đảm sự cân bằng giữa việc bảo vệ sự hữu hiệu trong hoạt động của Quốc hội và việc áp dụng nguyên tắc bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật. Thủ tục tước quyền MTTN của nghị sỹ trên thực tế rất đa dạng. Có những nước dành quyền quyết định việc tước quyền miễn trừ cho Quốc hội (Ba Lan, Thụy Sĩ…) với ý nghĩa chỉ có Quốc hội mới có quyền độc lập trong việc xem xét các vấn đề liên quan đến các thành viên của mình. Về phương diện pháp lý, khi xem xét các đề nghị này, Quốc hội không đóng vai trò thẩm phán để quyết định liệu thành viên của mình có thực sự có tội hay không. Quốc hội chỉ xem xét việc đặt các nghị sĩ vào việc phải đối diện với các trách nhiệm pháp lý có thiếu khách quan hay không, có hợp pháp hay không và có bình thường hay không. Thế nhưng, trao quyền này cho Quốc hội cũng có những rủi ro nhất định. Trong nhiều trường hợp, vì sự đồng cảm giữa các đồng nghiệp mà các nghị sỹ đã biểu quyết một cách thiếu khách quan theo chiều ủng hộ cho đồng nghiệp của mình5.

Những phân tích trên cho thấy, mặc dù có những điểm khác nhau về phạm vi và cách thức áp dụng ở Nghị viện các nước, nhưng quyền MTTN của các nghị sĩ Quốc hội luôn được xem là một trong những công cụ quan trọng để đảm bảo cho các nghị sĩ có thể phát huy hết khả năng hoạt động của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ đại diện cho nhân dân.

Tuy nhiên, cũng cần phải nói thêm rằng, việc áp dụng quyền được MTTN chỉ là một trong những hướng tiếp cận để bảo vệ sự độc lập và tự do trong suy nghĩ của các nghị sĩ Quốc hội trong quá trình tham gia các hoạt động của Quốc hội. Bên cạnh quyền MTTN, các nghị sĩ còn được hưởng quyền bất khả xâm phạm nhằm bảo vệ các nghị sĩ khỏi sự truy tố hình sự từ phía các cơ quan nhà nước khác nấp dưới những lý do giả tạo. Theo đó, các nghị sĩ không thể bị bắt giam, truy tố trong thời gian Quốc hội đang họp nếu không có sự đồng ý của Quốc hội6. 

 

2. Các quy định về quyền miễn trừ trách nhiệm của đại biểu Quốc hội trong pháp luật Việt Nam

Sau khi tiến hành Cách mạng tháng Tám thành công, lật đổ chính quyền do thực dân Pháp dựng nên, việc quan trọng đầu tiên mà Đảng và Nhà nước ta chú trọng thực hiện là xây dựng một mô hình nhà nước dân chủ. Trong mô hình nhà nước đó, quyền lực của nhân dân được thực hiện thông qua thiết chế dân chủ đại diện, cụ thể là thông qua cơ quan quyền lực nhà nước do chính nhân dân bầu ra - đó là Quốc hội. Thông qua cơ quan đại diện này mà nhân dân bảo vệ được quyền và lợi ích của chính mình và cũng thông qua đó, nhân dân giám sát, kiểm soát, phê bình được các cơ quan nhà nước, giúp cho Nhà nước thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình.

Để đảm bảo hiệu quả hoạt động của những người đại biểu nhân dân, ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta, các nghị viên nhân dân (ĐBQH) đã được hưởng quyền bất khả xâm phạm và quyền MTTN. Điều thứ 40 của Hiến pháp 1946 quy định: “Nếu chưa được Nghị viện nhân dân đồng ý hay trong lúc Nghị viện không họp mà chưa được Ban Thường vụ đồng ý thì Chính phủ không được bắt giam và xét xử những nghị viên.

Nghị viên không bị truy tố vì lời nói hay phát biểu trong Nghị viện…”.

Có thể nói, những quy định này là hết sức tiến bộ và phù hợp với thông lệ hoạt động của Nghị viện các nước trên thế giới. Việc khẳng định rõ các nghị viên không bị truy tố vì lời nói hay phát biểu trong Nghị viện đã đề cập khá đầy đủ các yếu tố của quyền MTTN của các đại biểu. Theo đó, đối tượng được áp dụng quyền này là các nghị viên; phạm vi được áp dụng là đối với các lời nói và phát biểu trong Nghị viện. Tất nhiên, nếu so sánh với các quy định cụ thể của các nước có nền dân chủ Nghị viện lâu đời thì quy định nói trên chưa làm rõ được phạm vi “trong Nghị viện” là đề cập đến phạm vi không gian trong tòa nhà Nghị viện hay tính chất các công việc liên quan đến việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nghị viện.

Trong giai đoạn từ năm 1946 đến năm 1959, do điều kiện chiến tranh nên các quy định của Hiến pháp 1946 nói chung và quy định tại Điều thứ 40 nói trên chưa có điều kiện được áp dụng nhiều trên thực tế. Chính vì vậy, nội dung của quyền MTTN của các nghị viên chưa được thực tiễn kiểm chứng về tính đúng đắn cũng như chưa được thực tiễn hoạt động của Quốc hội làm sáng tỏ thêm.

Kể từ Hiến pháp năm 1959 trở về sau, trong khi các quy định về quyền bất khả xâm phạm của ĐBQH tiếp tục được kế thừa và làm rõ hơn7 thì quy định về quyền MTTN của các ĐBQH không còn được đề cập.

Nguyên nhân cơ bản của tình trạng này có thể là do từ Hiến pháp năm 1959 đến Hiến pháp 1980, mô hình tổ chức bộ máy nhà nước của nước ta đã bắt đầu chịu sự ảnh hưởng của mô hình tổ chức nhà nước Xô-viết, theo đó trách nhiệm tập thể được đề cao8. Thực tế hoạt động của Quốc hội cho thấy, trong quá trình thảo luận về các vấn đề đặt ra tại Quốc hội, các ĐBQH cũng không còn chủ động phát biểu với tư cách cá nhân mà chủ yếu phát biểu với tư cách là đại diện cho các Đoàn ĐBQH. Trước khi khai mạc kỳ họp, các Đoàn ĐBQH phải gửi trước các tham luận của mình, nội dung dự kiến của bài phát biểu sẽ đọc, cho thư ký kỳ họp. Các nội dung phát biểu tại Hội trường đều phải được thực hiện theo chương trình sắp xếp sẵn9. Với quy trình, thủ tục tiến hành các phiên họp như vậy, việc xem xét trách nhiệm cá nhân của các ĐBQH trở nên không còn cần thiết. Và có lẽ do vậy, việc đặt ra quyền MTTN của cá nhân các ĐBQH không còn được đặt ra.

Trong giai đoạn nước ta tiến hành đổi mới toàn diện đất nước, Hiến pháp 1992 đã được ban hành để thay thế cho Hiến pháp 1980. Nội dung của Hiến pháp năm 1992 đáp ứng yêu cầu thực hiện “đường lối đổi mới toàn diện của Đảng, đẩy mạnh đổi mới về kinh tế và chính trị” của đất nước ta10. Song, điều đáng chú ý là ngay cả trong quá trình thảo luận để xây dựng Hiến pháp năm 1992 cũng như các sửa đổi, bổ sung của Hiến pháp này vào năm 2001 (với các nội dung tập trung nhiều vào cách thức tổ chức và hoạt động của Quốc hội), thì vấn đề quyền MTTN của các ĐBQH cũng chưa được đề cập đến. Điều này có thể là do vào những thời điểm đó, thực tế hoạt động của Quốc hội chưa đặt ra những yêu cầu bức thiết phải quy định về vấn đề này.

 

3. Sự cần thiết phải bổ sung các quy định về quyền miễn trừ trách nhiệm của đại biểu Quốc hội

Trong thời gian gần đây, thực tiễn hoạt động của Quốc hội ngày càng có nhiều đổi mới tích cực. Báo cáo tổng kết hoạt động của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XII (2007-2011) đã khẳng định hoạt động của Quốc hội ngày càng “dân chủ, cởi mở, hiệu quả và đổi mới”; các ĐBQH đã “triển khai nhiều hoạt động với tư cách cá nhân ĐBQH để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật; thường xuyên gắn bó, nắm bắt ý kiến, kiến nghị của cử tri, phát hiện các vấn đề bức xức trong thực tiễn để đề xuất ý kiến, thảo luận hoặc thực hiện quyền chất vấn…”11.

Tiếp tục thực hiện chủ trương đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta cũng khẳng định cần phải có cơ chế bảo đảm cho Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, các ĐBQH thực sự gắn bó chặt chẽ và có trách nhiệm với cử tri12.

Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu bổ sung quy định về quyền MTTN của các ĐBQH để đảm bảo sự độc lập và tự do trong suy nghĩ của các ĐBQH là hết sức cần thiết.

Trước hết, về mặt lý luận, như đã đề cập ở trên, quyền MTTN của ĐBQH là nhằm bảo đảm sự hoạt động hiệu quả của Quốc hội. Nó trao cho các ĐBQH quyền miễn trừ đặc biệt để đảm bảo sự tự do trong việc trình bày chính kiến của các ĐBQH. Trong khi đó, quyền tự do bày tỏ chính kiến là một công cụ làm việc quan trọng của các ĐBQH, cho phép các vị đại biểu thực hiện nhiệm vụ đại diện cho người dân của mình trong quá trình thực hiện quyền lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Rõ ràng, nếu các ĐBQH không cảm thấy thoải mái và tự do phát biểu chính kiến của mình về các vấn đề đang được thảo luận tại Quốc hội - do lo lắng bị trả đũa hoặc phải chịu trách nhiệm về một hậu quả nào đó từ các thế lực bên ngoài - thì họ không thể phản ánh được một cách đầy đủ các tâm tư, nguyện vọng của người dân cũng như bảo vệ đến cùng các lợi ích chính đáng của nhân dân. Quyền MTTN về những lời nói, phát biểu của mình tại Nghị viện có thể tạo điều kiện cho các ĐBQH có thể nêu lên và phản đối những vấn đề có khả năng xâm hại đến lợi ích của cộng đồng mà nếu họ phát biểu ở những nơi khác, họ có thể phải đối mặt với việc phải chịu trách nhiệm pháp lý.

Bên cạnh đó, cần phải hiểu quyền MTTN của các đại biểu không chỉ mang tính cá nhân, bảo đảm quyền lợi của các ĐBQH mà còn là cơ chế bảo đảm lợi ích chung của nhân dân và cơ quan đại diện của nhân dân là Quốc hội. Việc các ĐBQH được miễn trừ khỏi những đe dọa về hậu quả pháp lý đối với các lời nói, phát biểu của mình tại Quốc hội là điều kiện cần thiết để toàn thể Quốc hội có thể thực hiện được chức năng của mình. Rõ ràng quy trình, thủ tục hoạt động của Quốc hội chỉ có thể vận hành một cách suôn sẻ nếu các thành viên của Quốc hội không gặp các cản trở ngoài ý muốn trong quá trình tham gia vào các hoạt động của Quốc hội. Chính vì ý nghĩa đó, pháp luật của nhiều nước đã khẳng định ngay cả khi các nghị sĩ có ý muốn từ bỏ các đặc quyền của mình thì họ cũng không được từ bỏ quyền MTTN. Ở những nước như Bỉ, Hà Lan, Na Uy, Hàn Quốc, Tây Ban Nha… quyền MTTN là quyền không thể từ bỏ với ý nghĩa đó là quyền miễn trừ công13.

Việc bổ sung quy định về quyền MTTN của các ĐBQH còn phù hợp với thông lệ hoạt động của cơ quan lập pháp của hầu hết các nước trên thế giới, phù hợp với mục tiêu xây dựng Quốc hội nước ta theo hướng chuyên nghiệp hiện đại. Một khảo sát của Liên minh Nghị viện thế giới cho thấy, trong số 82 nước được khảo sát thì chỉ có Nghị viện của 4 nước không có các quy định về quyền MTTN của các nghị sĩ14. Hơn thế nữa, để bảo đảm quyền độc lập của các nghị sĩ trong việc thực hiện các nhiệm vụ của mình, trong thời gian gần đây, xu thế chung ở Quốc hội các nước trên thế giới là phạm vi áp dụng của quyền bất khả xâm phạm ngày càng thu hẹp dần, còn quyền MTTN thì lại ngày càng được củng cố thêm. Điều này xuất phát từ thực tế là so với thời kỳ đầu, địa vị của Nghị viện ngày càng được nâng cao và các nghị sĩ ngày nay không còn ở vị thế quá bấp bênh để có thể bị bắt giam, truy tố vì những lý do giả tạo. Vì vậy, các nghị sĩ không còn được xem là đối tượng để được hưởng sự bất khả xâm phạm một cách tuyệt đối. Ngược lại, quyền MTTN thì vẫn luôn được xem là điều kiện thiết yếu để các nghị sĩ yên tâm thực hiện công việc của mình.

Về cơ sở thực tế, trong thời gian gần đây, hoạt động của Quốc hội nước ta cũng đã cho thấy có những vụ việc nếu không có những quy định về quyền MTTN của các ĐBQH, thì có thể gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự độc lập và tự do thể hiện chính kiến của các ĐBQH. Ví dụ minh hoạ tốt nhất cho thực tế này là vụ việc liên quan đến chất vấn của ông Lê Văn Cuông, ĐBQH tỉnh Thanh Hóa đối với Thủ tướng Chính phủ tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khoá XII về việc Chủ tịch Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh Hà Giang không chấp hành các chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Sau khi phiên chất vấn kết thúc, ngày 25/11/2009, ĐBQH Lê Văn Cuông nhận được Công văn số 72 ngày 24/11/2009 của Đoàn ĐBQH tỉnh Hà Giang với yêu cầu đề nghị ĐBQH Lê Văn Cuông trả lời Đoàn ĐBQH tỉnh Hà Giang, UBND tỉnh Hà Giang cũng như cử tri của tỉnh Hà Giang về 2 nội dung:

1) ĐBQH Lê Văn Cuông lấy căn cứ đâu để khẳng định Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang 5 lần không chấp hành chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ;

2) Nếu không đủ căn cứ, đề nghị ĐBQH Lê Văn Cuông phải có trách nhiệm với ý kiến đã phát biểu của mình.

Ngay sau đó, ĐBQH Lê Văn Cuông đã có ý kiến trả lời và dẫn ra nguồn thông tin từ các bài báo có đăng tải các nội dung liên quan đến vụ việc mà ông đã sử dụng15.

Sự việc này cho thấy, với quá trình đổi mới và hoạt động ngày càng dân chủ của Quốc hội, các ĐBQH nước ta đã bắt đầu phải đối mặt với những mối nguy cơ phải chịu trách nhiệm pháp lý về những lời nói và phát biểu của mình trong quá trình thực hiện nhiệm vụ là người đại diện của nhân dân. Trong vụ việc này, rất may mắn là ĐBQH đã có đầy đủ các lập luận, chứng cứ để tự bảo vệ cho mình. Tuy nhiên, để bảo đảm sự độc lập và tự do trong việc trình bày chính kiến của các ĐBQH, việc quy định về quyền MTTN của các ĐBQH là hết sức cần thiết. Đây cũng là biện pháp để bảo vệ chính lợi ích chung của cộng đồng. Ngay ở ví dụ nêu trên, cũng phần nào bắt đầu từ những chất vấn của đại biểu Lê Văn Cuông mà các vụ việc liên quan đến Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang cũng bắt đầu được tiến hành xử lý16.

Tuy nhiên, cũng có một số ý kiến cho rằng, việc quy định quyền MTTN của các ĐBQH là không cần thiết do pháp luật nước ta đã có các quy định về quyền bất khả xâm phạm của các ĐBQH. Thế nhưng, như đã đề cập ở trên, quyền MTTN và quyền bất khả xâm phạm của các ĐBQH có bản chất không hoàn toàn giống nhau. Tuy có cùng mục đích là để bảo vệ sự độc lập trong quá trình hoạt động của các ĐBQH, nhưng trong khi quyền bất khả xâm phạm hướng đến việc ngăn chặn các hành vi bắt giam, truy tố ĐBQH bằng các lý do giả tạo (nếu không phải là lý do giả tạo thì khi được sự đồng ý của Quốc hội, các cơ quan công quyền vẫn có thể truy tố, bắt giam các ĐBQH) thì quyền MTTN hướng đến việc bảo đảm quyền tự do bày tỏ chính kiến của các ĐBQH. Đây chính là lý do cơ bản mà nghị sĩ ở nhiều nước sẵn sàng từ bỏ quyền bất khả xâm phạm để chứng tỏ mình bình đẳng về mặt pháp lý với các công dân khác, nhưng lại không được từ bỏ quyền MTTN của mình.

Bên cạnh đó, cũng có ý kiến lo ngại rằng, việc quy định quyền MTTN của các ĐBQH có thể dẫn đến việc các đại biểu lạm dụng quyền này để vu khống, chỉ trích cá nhân… tại các phiên họp của Quốc hội. Tuy nhiên, cần phải thấy rằng, bên cạnh việc ghi nhận quyền MTTN, quy định pháp luật của các nước cũng thường có những quy định rất chặt chẽ về nguyên tắc phát biểu của các nghị sĩ trong quá trình tham gia thảo luận tại các phiên họp, cuộc họp của Quốc hội. Pháp luật nhiều nước đặt ra các quy định cấm các nghị sĩ được phát biểu mang tính chỉ trích cá nhân hoặc vi phạm quy tắc ứng xử của các nghị sĩ trong các phiên họp và cho phép Chủ tọa phiên họp trục xuất các nghị sĩ vi phạm ra khỏi phòng họp. Ngoài ra, với những nghị sĩ có hành vi vi phạm các quy định về kỷ luật phiên họp như trên, họ có thể không phải đối mặt với những trách nhiệm pháp lý nhưng họ có thể sẽ phải trả giá về mặt chính trị khi uy tín của mình bị ảnh hưởng nghiêm trọng dưới mắt các cử tri.

*

*    *

Qua những phân tích trên đây cho thấy, quyền MTTN của các ĐBQH là một trong những công cụ rất quan trọng để bảo đảm tính hiệu quả và hiệu lực trong hoạt động của Quốc hội. Trong bối cảnh Quốc hội nước ta đang trong quá trình tiếp tục đổi mới về tổ chức và hoạt động, hướng đến việc xây dựng một Quốc hội chuyên nghiệp, hiện đại, bảo đảm cho Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, thì việc nghiên cứu để bổ sung các quy định pháp luật về quyền MTTN của các ĐBQH là hết sức cần thiết, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các ĐBQH. Tuy nhiên, để các quy định này có thể phát huy được hiệu quả trên thực tế, các phân tích trên đây cũng cho thấy, cần phải tiếp tục có các nghiên cứu, đề xuất để xây dựng nên các quy định chặt chẽ và đồng bộ về cách thức tổ chức các phiên họp, cuộc họp của Quốc hội nhằm đảm bảo sự cân bằng giữa hiệu quả hoạt động của Quốc hội và các lợi ích của các chủ thể khác có liên quan.

(1) Bryan A. Garner (Editor in Chief), Black’s Law Dictionary, 7th Edition (West Group Publishing, St. Paul, 1999), tr. 1215.

(2) Inter-Parliamentary Union, Parliamentary Immunity (Geneva, 2006), tr.1-2.

(3) Marc Van Der Hulst, The Parliamentary Mandate, (Inter-Parliamentary Union, Geneva, 2000), p. 66. Xem thêm: Trần Tuyết Mai, “Lịch sử quyền miễn trừ”, Người đại biểu Nhân dân, số ngày 23/11/2006.

(4) Các thông tin được sử dụng để tiến hành so sánh các quy định pháp luật về quyền MTTN của nghị sĩ Quốc hội các nước trên thế giới chủ yếu được tổng hợp từ: Robert Myttenaere, ‘The Immunities of Members of Parliament’, Constitutional and Parliamentary Information, ASGP, 1998, no. 175; và Inter-Parliamentary Union, Parliaments of the World: A Comparative Reference Compendium, Vol.I, 2nd Edition, (Gover, Hants, 1986), pp. 135 - 179.

(5) Xem thêm: Minh Hiếu, “Tước quyền miễn trừ của nghị sĩ: Quy trình áp dụng và một số hệ quả”, Người đại biểu Nhân dân, số ngày 23/11/2006.

(6) Về quyền bất khả xâm phạm của nghị sĩ, có thể xem thêm: Marc Van Der Hulst, The Parliamentary Mandate, (Inter-Parliamentary Union, Geneva, 2000), p. 66.

(7) Điều 60, Hiến pháp năm 1959 quy định: “Nếu không có sự đồng ý của Quốc hội, và trong thời gian Quốc hội không họp, nếu không có sự đồng ý của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, thì không được bắt giam và truy tố ĐBQH.”; Điều 96, Hiến pháp 1980 quy định: “Không có sự đồng ý của Quốc hội và, trong thời gian Quốc hội không họp, không có sự đồng ý của Hội đồng Nhà nước, thì không được bắt giam và truy tố ĐBQH”; Điều 99, Hiến pháp 1992 cũng có quy định hoàn toàn tương tự.

(8) Xem thêm: PGS.TS Phạm Hồng Thái, ‘Tổ chức quyền lực nhà nước trong Hiến pháp 1946: Những giá trị mang tính thời đại’, trong: Văn phòng Quốc hội, Phát huy những giá trị lịch sử, chính trị, pháp lý của Hiến pháp 1946 trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 174 – 177.

(9) Về các chi tiết liên quan đến việc sắp xếp các phát biểu tại Hội trường tại kỳ họp này, có thể tham khảo: Thu Hà, Lê Nhung, ‘Người mở “kỷ nguyên” nói thẳng, nói thật trên nghị trường’, Báo điện tử Vietnamnet, http://www.vietnamnet.vn 06/01/2011 06:15:00 AM (GMT+7).

(10) Nguyễn Đình Lộc, “Một số ý kiến nghiên cứu về sửa đổi Hiến pháp năm 1992”, Nghiên cứu Lập pháp, Đặc san chuyên đề Hiến pháp và các luật về nhà nước, số 1, tháng 04/2001.

(11) Quốc hội khóa XII, Báo cáo tổng kết hoạt động của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XII (2007-2011), ngày 21/03/2011, tr. 7.

(12) Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về các văn kiện trình Đại hội XI, ngày 12/1/2011.

(13) Xem Robert Myttenaere, ‘The Immunities of Members of Parliament’, Constitutional and Parliamentary Information, ASGP, 1998, no. 175, tr. 114 - 115.

(14) Inter-Parliamentary Union, Parliaments of the World: A Comparative Reference Compendium, Vol.I, 2nd Edition (Gover, Hants, 1986), pp. 136.

(15) Xem: Duy Hưng, ĐBQH Hà Giang “chất vấn” lại ông Lê Văn Cuông, Lao động, số 276, Ngày 04/12/2009.

(16) Xem: Lê Trường Sơn, Bãi nhiệm Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang, Báo VTC News, http://www.vtc.vn , 28/07/2010 08:15.

Hoàng Minh Hiếu - Trung tâm Thông tin, Thư viện và nghiên cứu khoa học - Văn phòng Quốc hội.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Bổ sung địa vị pháp lý của Kiểm toán Nhà nước và Tổng Kiểm toán Nhà nước trong Hiến pháp (15/01/2013)
Cơ chế kiểm soát hoạt động tư pháp - những vấn đề đang đặt ra và phương hướng đổi mới (15/01/2013)
Bàn thêm về vấn đề sửa đổi Hiến pháp 1992 nhìn từ nguyên tắc chủ quyền nhân dân (11/10/2012)
Những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện về điều kiện hoạt động của đại biểu Quốc hội (20/02/2012)
Góp bàn về Sửa đổi Hiến pháp ở Việt Nam (23/09/2011)
Lại bàn về bài học từ Hiến pháp 1946 (22/09/2011)
Quy trình sửa đổi, bổ sung hiến pháp và sự lựa chọn cho Việt Nam trong bối cảnh hiện nay (19/09/2011)
Lại bàn về bài học từ Hiến pháp 1946 (22/09/2011)
2.jpg
Phòng Biên tập - Tạp chí Nghiên cứu lập pháp đón nhận Huân chương lao động hạng ba tại Hà Nội ngày 18/10/2018
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Bàn về việc thành lập cơ quan chuyên trách phòng, chống tham nhũng ở nước ta

Cần luật hóa trách nhiệm giải trình của trường đại học công lập

Thông tin trên mạng và hệ thống hóa các loại hình thông tin trên mạng

Kinh nghiệm các nước về thực thi pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Mô hình pháp điển hóa của Hoa Kỳ và một số nội dung Việt Nam có thể tiếp thu

Chính sách ưu đãi thuế, tài chính, ngân hàng ở một số đặc khu thuộc Trung Quốc và kiến nghị cho các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt của Việt Nam

Sự hình thành luật tập quán quốc tế trước bối cảnh thay đổi cơ bản

Hoàn thiện chương trình bồi dưỡng cán bộ, công chức hiện nay

Giải thích pháp luật - một vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn ở Việt Nam

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân