Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ năm, 24/05/2012, 03:15(GMT+7)
 
Tổ chức bộ máy nhà nước

Bàn về kỹ thuật lập pháp qua những quy định chung của Pháp lệnh Bưu chính, viễn thông
Bốn tiêu chí quan trọng hàng đầu của một văn bản quy phạm pháp luật có thể nêu ra là: Nhất quán về mặt logic pháp lý, chặt chẽ về kỹ thuật lập pháp, chính xác về khoa học và phù hợp với thực tiễn. Dựa trên các tiêu chí này, tác giả phân tích qua ví dụ ở Chương I. Những quy định chung của Pháp lệnh Bưu chính, viễn thông để làm rõ những khiếm khuyết về kỹ thuật xây dựng văn bản có thể dẫn đến hiểu sai và không nhất quán, đồng thời kiến nghị hướng hoàn thiện .

 

Thứ nhất, ngôn ngữ sử dụng cần nhất quán, lô gíc 

Pháp lệnh Bưu chính, viễn thông (PLBCVT) Điều 2, Phạm vi điều chỉnh quy định: “...quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động bưu chính, viễn thông”. Tương tự như vậy, Khoản 4 Điều 5, Khoản 1 Điều 6, Điều 8 và Khoản 3 Điều 9 cũng sử dụng cụm từ tổ chức, cá nhân. Nhưng trong Điều 3, đối tượng áp dụng là “…tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam”.

Theo chúng tôi, để đảm bảo tính nhất quán của văn bản nên thống nhất ghi ở Điều 2 nhưng có hướng dẫn cách hiểu cho toàn bộ phần còn lại của PLBCVT. Do đó, Điều 2 phải sửa đổi như sau: “Pháp lệnh này quy định… quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam (sau đây gọi là tổ chức, cá nhân) tham gia hoạt động bưu chính, viễn thông”.

Về chủ thể “Việt Nam” tại điều 3 về đối tượng áp dụng, nêu rõ “...điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập” và tại khoản 3 điều 10, có ghi tên nước Việt Nam dưới dạng đầy đủ. “...nhằm mục đích chống lại Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam...”  Nhưng khoản 6 điều 5 quy định “...phù hợp với pháp luật Việt Nam... điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập”, và tại điểm c, d khoản 9, điều 10 cũng ghi tên nước giản lược: “...thuộc quyền quản lý của Việt Nam...”.

Do đó, để tôn trọng tính thống nhất, lôgic chặt chẽ của một văn bản luật kết hợp với  việc đảm bảo được yêu cầu mang tính chính trị, nên cân nhắc lựa chọn để sử dụng một trong hai cụm từ trên một cách thống nhất.

Thứ hai, cần xác định rõ nội dung thuật ngữ chuyên môn

Các cụm từ: hoạt động viễn thông, an ninh thông tin (Điều 2, Điều 6 của Pháp lệnh) chưa được xác định rõ ràng nội hàm trong PLBCVT. Nếu căn cứ vào khoản 1 Điều 2, Nghị định số 160/2004/-CP ngày 03/9/2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của PLBCVT (Nghị định 160) có thể hiểu hoạt động viễn thông bao gồm: 1/ Hoạt động thiết lập mạng viễn thông; 2/ Hoạt động cung cấp và sử dụng dịch vụ viễn thông; 3/ Hoạt động sản xuất và xuất nhập khẩu thiết bị viễn thông; 4/ Hoạt động thi công lắp đặt công trình viễn thông.

Tuy nhiên, cách hiểu đó dựa trên phương pháp suy luận, chưa phải là giải thích chính thức theo quy định pháp luật nên không có giá trị bắt buộc áp dụng. Do chưa được giải thích rõ ràng nên gây ra một số cách hiểu chưa thống nhất như sau:

 1/ Có ý kiến cho rằng, các quan hệ xã hội được điều chỉnh trong Nghị định 55 của Chính phủ ban hành ngày 23/8/2001 về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet không thuộc phạm vi điều chỉnh của PLBCVT;

2/ Trong dự thảo thông tư hướng dẫn về quản lý đại lý Internet[1], các nhà làm luật đã không đưa PLBCVT, Nghị định 160 vào phần căn cứ pháp lý mặc dù hai văn bản này có những quy định điều chỉnh hoạt động liên quan đến Internet và đại lý Internet;

3/ Tần số vô tuyến điện không thuộc hoạt động viễn thông v.v..

Trên thực tế, chưa có văn bản pháp luật nào kể cả trong PLBCVT đưa ra định nghĩa cụm từ “an ninh thông tin”. Trong khi  đó trong PLBCVT và các Nghị định hướng dẫn đều đề cập đến nhiều quy định về nghĩa vụ đảm bảo an ninh thông tin. Điều này gây khó khăn trong việc các chủ thể có liên quan thực hiện nghĩa vụ khi không xác định thống nhất nội dung an ninh thông tin.

Vì vậy, nhà làm luật cần hướng dẫn cách hiểu thống nhất nội dung những thuật ngữ chuyên môn tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình giải thích và vận dụng pháp luật.

Thứ ba, sửa đổi cách diễn đạt và sử dụng từ ngữ

Khoản 2 điều 6 quy định: Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp phải áp dụng các biện pháp bảo đảm an toàn mạng bưu chính, mạng viễn thông của mình và an ninh thông tin. Cách diễn đạt khiến người đọc có thể hiểu, chỉ khi mạng bưu chính, viễn thông thuộc quyền quản lý của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, họ mới có trách nhiệm đảm bảo an toàn, còn trách nhiệm đảm bảo an ninh thông tin thì phải thực hiện cả với mạng “không phải của mình”. Đây không phải là cách hiểu mà các nhà làm luật mong muốn, nguyên nhân là do diễn đạt chưa rõ.

Thêm vào đó, việc liệt kê các chủ thể: cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp dẫn đến vừa thiếu, vừa thừa. Bởi vì, bản thân từ “tổ chức” là một danh từ chung đã bao hàm cả “cơ quan”, “doanh nghiệp”. Nhưng nếu không dùng từ “tổ chức” thì thiếu các chủ thể khác được thừa nhận trong hệ thống luật Việt Nam mà điển hình là “Hợp tác xã”. Do đó, chỉ cần dùng cụm từ “các tổ chức” thay cho cụm từ “cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp” là đảm bảo đầy đủ các chủ thể.

Thứ tư, thay đổi nội dung trong các điều luật cho phù hợp

Nội dung điều 1 và điều 5 là chính sách của Đảng và Nhà nước về bưu chính, viễn thông (Xem hộp).   

Hộp: Điều 1 xác định vị trí của bưu chính, viễn thông là “ngành kinh tế, kỹ thuật, dịch vụ quan trọng thuộc kết cấu hạ tầng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển bưu chính, viễn thông nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế -xã hội, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và bảo đảm quốc phòng, an ninh”.

Điều 5, Chính sách của Nhà nước về bưu chính, viễn thông, quy định sáu khoản: 1/ Phát huy mọi nguồn lực của đất nước để phát triển nhanh và hiện đại hoá bưu chính, viễn thông, bảo đảm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế -xã hội, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và bảo đảm quốc phòng, an ninh; 2/ ưu tiên đầu tư phát triển bưu chính, viễn thông đối với nông thôn, vùng sâu vùng xa, biên giới, hải đảo; có chính sách ưu đãi, hỗ trợ các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông công ích và thực hiện các nhiệm vụ công ích khác theo yêu cầu của Nhà nước; 3/ Khuyến khích, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh bưu chính, viễn thông trong môi trường cạnh tranh công bằng, minh bạch do Nhà nước quản lý với đầy đủ các loại hình dịch vụ, bảo đảm chất lượng và giá cước hợp lý; 4/ Tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động bưu chính, viễn thông; 5/ Tạo điều kiện ứng dụng và thúc đẩy phát triển công nghệ và công nghiệp bưu chính, viễn thông; 6/ Mở rộng hợp tác quốc tế về bưu chính, viễn thông trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi, phù hợp với pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập.

Nội dung chính sách của Đảng và Nhà nước về bưu chính, viễn thông có thể tìm thấy trong hàng loạt văn bản như: Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 30/3/1991 của Bộ Chính trị về khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới; Nghị quyết hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành TW (khoá VII) ngày 30/7/94; Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII; Chỉ thị 58-CT/TW ngày 17/10/2000 về đẩy mạnh và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá; kết luận Hội nghị Trung ương lần 6 Ban chấp hành TW (khoá IX) về khoa học công nghệ trong lĩnh vực bưu chính viễn thông và công nghệ thông tin; Nghị quyết số 49/CP ngày 4/8/1993 về phát triển công nghệ thông tin trong những năm 90...

Chính sách có nội dung mang tính định hướng. Luật là văn bản thể chế hoá chính sách của Đảng, Nhà nước và đảm bảo thực hiện. Những điều luật của Pháp lệnh và các văn bản có liên quan đã bao hàm việc cụ thể hoá chính sách. Do vậy, để đảm bảo sự ngắn gọn, chính xác, tính thực thi cao cũng như tránh được sự lợi dụng pháp luật để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, không nhất thiết phải đưa những nội dung chính sách  vào Pháp lệnh.

Sửa đổi những nội dung nêu trên trong phần “Những quy định chung” của PLBCVT chính là đảm bảo quy định tại điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2002)[2] hướng đến đến bốn tiêu chí quan trọng hàng đầu của một văn bản quy phạm pháp luật: Nhất quán về mặt logic pháp lý, chặt chẽ về kỹ thuật lập pháp, chính xác về khoa học và phù hợp với thực tiễn./.

[1] Xem trang web: http:// www.mpt.gov.vn, Góp ý Dự thảo “Thông tư liên tịch về quản lý đại lý Internet”.

[2] Điều 5: “…ngôn ngữ sử dụng trong văn bản phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải đơn giản, dễ hiểu. Đối với thuật ngữ chuyên môn cần xác định rõ nội dung, thì phải được định nghĩa trong văn bản đó”.

(Bài viết đăng trên TCNCLP số 53, tháng 6/2005)

Trần Hoài Văn
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện về điều kiện hoạt động của đại biểu Quốc hội (20/02/2012)
Góp bàn về Sửa đổi Hiến pháp ở Việt Nam (23/09/2011)
Lại bàn về bài học từ Hiến pháp 1946 (22/09/2011)
Quy trình sửa đổi, bổ sung hiến pháp và sự lựa chọn cho Việt Nam trong bối cảnh hiện nay (19/09/2011)
Đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước trong Hiến pháp sửa đổi (27/08/2011)
Sửa đổi Hiến pháp: hướng tới đề cao trách nhiệm của chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh (18/08/2011)
Tiêu chí tổng kết việc thi hành quy định về tổ chức và hoạt động của Bộ máy nhà nước trung ương qua bốn bản hiến pháp (29/07/2011)
Sửa đổi Hiến pháp: hướng tới đề cao trách nhiệm của chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh (18/08/2011)
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân