Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ năm, 24/05/2012, 03:10(GMT+7)
 
Tổ chức bộ máy nhà nước

Ban hành “luật khung’’ hay “luật chi tiết’’
Tất cả các đạo luật đều rơi vào một trong hai loại: loại thứ nhất chứa những quy định chi tiết nhằm tới các đối tượng điều chỉnh của đạo luật (luật chi tiết); loại thứ hai trao cho cơ quan thi hành một thẩm quyền rộng lớn trong việc ban hành các quy định hướng dẫn chi tiết (luật khung). Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 2/2005 đã đăng bài “Một số yêu cầu đặt ra với Luật khung” của tác giả Nguyễn Đình Đặng Lục đề cập đến sự tồn tại khách quan của “luật khung” và một số yêu cầu thực tiễn đặt ra đối với việc ban hành “luật khung”. Tác giả bàn về câu hỏi, khi nào nên ban hành “luật khung” và khi nào nên ban hành “luật chi tiết”?

Khi nào nên ban hành ‘’luật khung’’?

Theo quan niệm truyền thống, độc quyền ‘’làm luật’’ (luật pháp) phải được dành cho Quốc hội và cơ quan này không thể tự ý giao phó, dù chỉ tạm thời và trong một lĩnh vực nào đó, cho cơ quan hành pháp. Người ta quan niệm rằng, các đạo luật được Quốc hội thông qua mang tính hợp pháp dân chủ nhiều hơn là hoạt động của cơ quan hành pháp. Quá trình thảo luận của Quốc hội có thể đảm bảo cho mọi tranh luận và tìm kiếm những giải pháp thoả đáng đều được đưa ra công khai, tạo thêm cơ hội để hoà giải các lợi ích xung đột.  Tuy nhiên, ngày nay, các nhà nước hiện đại, kể cả các nhà nước theo chế độ pháp trị, đã cho phép Chính phủ được ban hành các chuẩn mực pháp quy. Nhà nước sẽ bị quá căng thẳng và cuối cùng sẽ tê liệt nếu mọi quy định pháp lý đều phải được Quốc hội ban hành dưới dạng một đạo luật, một quá trình tốn kém thời gian1. Do đó, Chính phủ, các bộ trưởng được ‘’uỷ quyền’’ để ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và một sự uỷ quyền như vậy phải được quy định bởi một đạo luật. Hầu hết các đạo luật đều có các điều khoản uỷ quyền cho Chính phủ ban hành những quy định chung hoặc quy định cụ thể hướng dẫn thi hành. Bên cạnh đó, các chính quyền địa phương cũng có thẩm quyền lập quy và chính quyền địa phương ngày càng có nhiều thẩm quyền do áp dụng chính sách phân quyền.

Ngoài việc chấp hành, tổ chức thực hiện các quyết định của Quốc hội và chi tiết hoá các đạo luật của Quốc hội, các Chính phủ ngày nay còn ban hành những quy phạm pháp luật để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh từ thực tiễn đời sống. Chính phủ không chỉ là cơ quan chấp hành mà ngoài việc chấp hành, tổ chức thực hiện các quyết định của quốc hội, Chính phủ còn ban hành những văn bản pháp quy để điều chỉnh không chỉ các mối quan hệ xã hội phát sinh từ nhu cầu phải chi tiết hoá các đạo luật của quốc hội mà còn điều chỉnh các mối quan hệ nảy sinh từ chính yêu cầu quản lý đất nước (trường hợp ban hành ‘’nghị định độc lập’’2). Nhìn chung, đạo luật do Quốc hội ban hành thường chỉ đặt ra các nguyên tắc và cơ quan hành pháp quy định chi tiết việc áp dụng các nguyên tắc đó. Đương nhiên, văn bản pháp quy phải tôn trọng luật và có thể bị huỷ bỏ nếu trái với luật.

Theo truyền thống pháp luật châu Âu thì luật không quy định quá chi tiết vì quy định quá chi tiết có thể bó buộc cơ quan hành pháp vào một khuôn khổ chặt chẽ và cứng nhắc. Hơn nữa, nếu luật quy định quá chi tiết sẽ khó đáp ứng nổi mọi trường hợp chỉ khác nhau chút ít3. Cơ quan hành pháp cũng có thẩm quyền ban hành các quy phạm có tính xử sự bắt buộc chung, tương tự các quy phạm của một đạo luật. Như vậy, đạo luật của quốc hội chỉ hạn chế trong việc xác định một khung tổng quát mà chính phủ sẽ bổ khuyết bằng những quy phạm lập quy, những quy phạm này phải phụ thuộc vào những nguyên tắc và giới hạn luật định. Ngoài ra, để giải quyết những vấn đề xã hội phức tạp, rộng lớn và chưa ổn định, cơ quan lập pháp có thể quyết định ban hành một  “luật khung’’, trao cho cơ quan thi hành thẩm quyền ban hành các quy định cụ thể và chi tiết hơn mà thông thường một đạo luật hiệu quả cần có để định hướng cho các đối tượng cơ bản của nó - đó cũng là những quy định mà chính cơ quan thi hành sau này sẽ phải thực hiện.

Cũng phải nói thêm rằng, việc nên ban hành “luật khung” hay “luật chi tiết” đã là đề tài tranh luận sôi nổi nhiều năm ở các nước châu Âu. Cho đến nay, châu Âu có xu hướng xích lại gần với cách soạn thảo luật thực dụng của các nước theo hệ thống luật Anh - Mỹ, luật và các văn bản pháp luật quy định thật chi tiết, rõ ràng. Ngược lại, Mỹ cũng có xu hướng học hỏi kinh nghiệm xây dựng “luật khung” của châu Âu trong một số trường hợp. Theo Giáo sư Robert.B.Seidman (Đại học Boston – Mỹ) để hạn chế sự tuỳ tiện của các cơ quan thi hành thì các tiêu chí trong luật càng chi tiết, cụ thể càng tốt.

Giáo sư Robert.B.Seidman và giáo sư Ann Seidman4, những người theo trường phái luật quy định chi tiết, cũng phải thừa nhận rằng, trong các tình huống sau đây, các nhà làm luật không có nhiều lựa chọn ngoài cách đưa yếu tố ‘’khung‘’ vào đạo luật:

Thứ nhất, luật điều chỉnh những vấn đề khó, phức tạp: nhà làm luật trao cho cơ quan thi hành quyền tự do nhất định để quyết định những biện pháp ban đầu và đề ra những biện pháp mới khi họ đã có thêm kinh nghiệm. Cùng với sự phát triển ngày càng phức tạp của xã hội, trong một xã hội luôn đổi thay và phức tạp, người ta lại thấy nhu cầu xây dựng luật khung xuất hiện. Tất cả các cơ quan thi hành, cơ quan hành pháp đều ban hành các quy định hướng dẫn chi tiết pháp luật ở mức độ này hay mức độ khác. Trong quá trình lập quy đó, để có những quy định không độc đoán, đòi hỏi nhà soạn thảo phải tuân thủ theo quy trình cụ thể. Kinh nghiệm cho thấy rằng, nhất là để giải quyết các vấn đề xã hội phức tạp trong tình huống liên tục có sự thay đổi, nhà soạn thảo ít khi thu thập được đầy đủ thông tin để giải trình cho những quy định chi tiết đối với tất cả các đối tượng điều chỉnh. Nếu không có đủ thông tin cần thiết, các nhà soạn thảo không thể tự biện rằng các quy định chi tiết của họ được xây dựng trên cơ sở kinh nghiệm thực tiễn.

Thứ hai, luật có nhiều đối tượng điều chỉnh và nhiều hành vi. Những đạo luật phức tạp thường nhằm tới nhiều đối tượng điều chỉnh với nhiều hành vi khác nhau. Nhiệm vụ xác định và giải thích thoả đáng từng hành vi đó vượt quá khả năng của một nhóm soạn thảo. Nếu không có những thông tin này, các nhà soạn thảo không thể viết ra hoặc giải trình cho những quy định chi tiết. Trong tình huống này, các nhà soạn thảo có thể quyết định xây dựng một đạo luật khung, chỉ ra các tiêu chí và xây dựng những quy định bổ trợ phù hợp.

Thứ ba, luật phải quy định những tình huống quá khác nhau: trường hợp này là phổ biến, đặc biệt là trong một quốc gia lớn về mặt địa lý (ví dụ như Trung Quốc), các dự luật được đề xuất thường đòi hỏi phải có những quy định chi tiết nhằm tới những đối tượng điều chỉnh ở trong các hoàn cảnh rất khác nhau. Do vậy, nhà soạn thảo luật có xu hướng để cho các văn bản chi tiết quy định cho mỗi trường hợp.

Thứ tư, luật quy định về những vấn đề mà nhà làm luật biết rõ sẽ có những thay đổi nhanh chóng. Tại các nước đang phát triển quá độ như Việt Nam cũng như tại các nước có những tình huống kinh tế xã hội thay đổi nhanh chóng thường làm cho việc soạn thảo các đạo luật quy định chi tiết những hành vi cần có của các đối tượng xã hội liên quan trở nên không khả thi. Như vậy, thay vì mô tả những hành vi có vẻ phù hợp với hoàn cảnh hiện tại, nhà soạn thảo đề ra những tiêu chí và trình tự, theo đó, các cơ quan thi hành có thể xây dựng những quy định mới phù hợp.

Tại sao cần có các đạo luật quy định chi tiết?

Một đạo luật cần nêu rõ và hướng dẫn chi tiết đối với các đối tượng điều chỉnh của nó. Tuy nhiên, những chi tiết đó có thể được ghi trong chính đạo luật hoặc trong các văn bản do cơ quan thi hành ban hành5. Luật cần mô tả các hành vi của các đối tượng điều chỉnh ở mức độ đủ chi tiết để bảo đảm rằng họ có thể hiểu một cách chính xác pháp luật đòi hỏi những gì, cấm hoặc cho phép làm những gì.

Theo quan điểm của TS. Nguyễn Minh Đoan, ‘’’trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay, các đạo luật do Quốc hội ban hành chỉ nên quy định một cách tổng quát những vấn đề có tính nguyên tắc mà không đi sâu quy định quá chi tiết các vấn đề’’6. Tác giả nêu và phân tích 4 lý do để ban hành luật khung là: bảo đảm đúng chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan; bảo đảm tính bao quát; tránh lạc hậu và tránh trùng lặp.

Tuy nhiên, những lý do được nêu trên chưa hợp lý, bởi vì có một số nguyên tắc đòi hỏi các nhà làm luật khi theo chế độ nhà nước pháp trị hay xây dựng nhà nước pháp quyền phải tuân thủ, đó là: pháp luật phải bảo đảm tính chắc chắn, ổn định và có thể tin cậy được và ngôn ngữ của pháp luật phải bảo đảm tính trong sáng, dễ hiểu.

Nguyên tắc pháp luật phải bảo đảm tính chắc chắn, ổn định và có thể tin cậy được xuất hiện vào những năm đầu của chủ nghĩa tư bản, khi các nhà đầu tư tư nhân luôn luôn đòi hỏi giải phóng pháp luật khỏi sự tuỳ tiện của các cơ quan quản lý hành chính. Nếu vốn liếng của họ chịu sự rủi ro không chỉ bởi thị trường mà còn bởi những ý tưởng phi lý luôn thay đổi của các cơ quan thi hành pháp luật thì họ sẽ không còn dám đầu tư nữa. Họ đòi hỏi phải có các đạo luật chi tiết, chắc chắn và có thể tin cậy được. Đây là khởi nguồn của sự ra đời các luật ngày một chi tiết. Nguyên tắc đặt ra đối với cơ quan lập pháp trong nhà nước pháp quyền là khi ban hành luật phải bảo đảm tính chắc chắn, tính ổn định7. Đây là nhiệm vụ nặng nề dành cho cơ quan lập pháp mà không phải dành cho cơ quan hành pháp.

Một nguyên tắc khác mà nhà làm luật cần chú ý là phải bảo đảm tính trong sángM, rõ ràng của pháp luật. Có người ví luật có những điểm tương đồng với một quyển sách hướng dẫn vận hành một cỗ máy phức tạp. Nếu người mua sách không hiểu được ngôn ngữ trong cuốn sách hướng dẫn thì cuốn sách như vậy là không thành công. Tương tự như vậy, nếu các đối tượng liên quan không hiểu quy định của luật bởi vì luật sử dụng ngôn ngữ pháp lý khó hiểu thì họ chỉ đơn thuần có những hành vi xử sự tuân thủ pháp luật một cách tình cờ. Nếu luật làm cho những đối tượng điều chỉnh không hiểu rõ về một vài khía cạnh của hành vi xử sự được yêu cầu thì có nghĩa là luật thiếu tính chi tiết. Nếu quy định của luật không nói rõ ai phải làm gì thì các thông tin của luật còn thiếu tính tin cậy đối với các đối tượng điều chỉnh và những công chức thi hành pháp luật. Họ không thể biết chính xác hành vi xử sự nào được luật cho phép, ra lệnh hoặc ngăn cấm. Trong thực tiễn soạn thảo luật, khi thảo luận về một vấn đề mà có những quan điểm không thống nhất, các nhà soạn thảo có xu hướng lựa chọn cách quy định ’’trung tính’’. Tuy nhiên, pháp luật cần phải rõ ràng và không lập lờ nước đôi. Pháp luật hay luật được nói ở đây không dừng lại ở đạo luật do Quốc hội ban hành mà các các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan thi hành được Quốc hội uỷ quyền ban hành.

Trong chế độ pháp trị, các quy định pháp luật không thể ‘’co dãn’’, bởi nếu chúng “co dãn” được, chúng sẽ phá hoại sự chắc chắn của pháp luật8. Để hoàn thành trách nhiệm của mình trong nhà nước pháp quyền, pháp luật phải không ngừng phấn đấu để đạt được sự chính xác và rõ ràng cao nhất. Gìn giữ tính chắc chắn của pháp luật là cái mà mọi nhà nước dân chủ đều mong muốn để bảo đảm quyền tự do tối đa cho công dân của mình. Để bảo đảm cho tính có thể đo lường và có thể dự đoán trước mọi hành động của Chính phủ, cả Chính phủ và hệ thống chính quyền đều phải tuân thủ pháp luật. Nhằm bảo đảm tính hợp pháp của ngành hành pháp, nhiều hiến pháp trên thế giới đã có những điều khoản cực kỳ chi tiết đòi hỏi hành pháp phải tuân thủ pháp luật, cấm các cơ quan hành pháp không được vi phạm hiến pháp, các đạo luật của Quốc hội và cả văn bản của Chính phủ. Phải có cơ sở pháp lý trong mọi biện pháp của hành pháp khi nó can thiệp vào quyền tự do cá nhân và những điều khoản đó phải quy định cụ thể và giới hạn chính xác thẩm quyền của hành pháp trong mỗi trường hợp các hạn chế pháp định ảnh hưởng tới các quyền cơ bản của công dân. Trong bất cứ nhà nước nào cũng vậy, luật và các văn bản dưới luật nếu được quy định chi tiết sẽ góp phần hạn chế sự tuỳ tiện của các cơ quan hành pháp, cơ quan thi hành pháp luật.

Thực tiễn lập pháp ở nước ta

Nhu cầu ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để quản lý đất nước là rất lớn, đặc biệt trong điều kiện Nhà nước ta cần hoàn thiện hệ thống pháp luật để phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập khu vực và hội nhập quốc tế. Cơ chế thị trường với nhiều biến động cũng đòi hỏi Nhà nước phải luôn kịp thời có pháp luật để điều chỉnh. Trong điều kiện Quốc hội họp hai kỳ một năm như hiện nay, sự thiếu luật để điều chỉnh các lĩnh vực của đời sống xã hội và các đạo luật chủ yếu là ‘’luật khung’’ là điều khó tránh khỏi. Nhìn chung, các luật đã được ban hành chủ yếu là ‘’luật khung’’ và để thi hành luật thì phải có hàng loạt nghị định quy định chi tiết. Tình trạng luật, pháp lệnh chờ nghị định và thông tư hướng dẫn là vấn đề nhức nhối của hoạt động lập pháp, lập quy của Nhà nước ta trong nhiều năm nay. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta đã đề ra chủ trương ‘’nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, ban hành các văn bản luật với những quy định cụ thể, dễ hiểu, dễ thực hiện. Giảm dần các luật, pháp lệnh chỉ dừng lại ở những nguyên tắc chung, muốn thực hiện được phải có văn bản hướng dẫn thi hành’’.

Điều 7 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật xác định nguyên tắc “Luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật khác phải được quy định cụ thể để khi các văn bản đó có hiệu lực thì được thi hành ngay”. Bên cạnh đó, đạo luật này còn đưa ra hai nguyên tắc: - Trong trường hợp luật, pháp lệnh có điều, khoản cần phải được quy định chi tiết bằng văn bản khác, thì ngay tại điều, khoản đó, phải xác định rõ cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và thời hạn ban hành văn bản; - Văn bản quy định chi tiết thi hành phải được soạn thảo cùng với dự án luật, pháp lệnh để trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời ban hành khi luật, pháp lệnh có hiệu lực.

Mặc dù Luật đã đưa ra nguyên tắc “văn bản quy định chi tiết thi hành phải được soạn thảo cùng với dự án luật, pháp lệnh để trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời ban hành khi luật, pháp lệnh có hiệu lực’’ nhưng nguyên tắc này có nhiều bất cập. Đòi hỏi áp dụng đúng nguyên tắc là việc làm khó khăn, thậm chí còn tốn kém. Bởi vì, nếu xây dựng một đạo luật khung, có các quy định quá chung thì sẽ phải có nhiều văn bản dưới luật quy định chi tiết thi hành nhưng việc soạn thảo các văn bản này đôi khi lại kéo dài thời gian hơn cả việc soạn thảo luật (nhất là trong trường hợp cứ khi nào có vấn đề gì vướng mắc là luật “nhường” lại cho nghị định giải quyết, đây là một thực tế lập pháp ở nước ta). Bên cạnh đó, nếu luật, pháp lệnh có hiệu lực không lâu sau khi ban  hành (ví dụ 1 hoặc 2 tháng) thì khó có thể ban hành văn bản hướng dẫn ngay. Trên thực tế, các văn bản quy định chi tiết thi hành và hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh được ban hành thường chậm so với yêu cầu. Do đó, luật, pháp lệnh thường phải chờ các văn bản hướng dẫn thi hành mới có thể có hiệu lực thực tế. Hơn nữa, quá trình chuẩn bị một dự án, dự thảo thường bị kéo dài về mặt thời gian do thiếu điều tra, khảo sát thực tiễn để đánh giá đúng thực trạng các quan hệ xã hội, thực tế áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật. Có trường hợp Quốc hội ban hành “luật khung” trong điều kiện cơ quan soạn thảo chưa định hình được khung chính sách pháp luật hoặc các chính sách pháp luật cụ thể chưa được dự liệu đầy đủ, các quan hệ xã hội chưa được nghiên cứu toàn diện. Khi ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành, có tình trạng có những mảng quan hệ xã hội quan trọng chưa được quy định đúng tầm của văn bản, hoặc dù đã điều chỉnh trong văn bản quy định chi tiết nhưng cũng chưa đủ đi vào cuộc sống. Có văn bản  quy định chi tiết thi hành còn ban hành sai thẩm quyền (chủ yếu là những văn bản do cấp Bộ ban hành), có những trường hợp cùng một cơ quan ban hành song các quy định lại mâu thuẫn, chồng chéo; văn bản ban hành sau mâu thuẫn với văn bản ban hành trước. Tuy vậy, cũng đã đến lúc phải nhìn nhận lại hệ thống hình thức văn bản quy phạm pháp luật của chúng ta, nó quá rối rắm, quá nhiều hình thức văn bản quy phạm pháp luật và nhiều chủ thể ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho các quy định bị mâu thuẫn, chồng chéo, văn bản chậm được thi hành.

Câu nói ‘’chúng ta có các đạo luật tốt nhưng chúng được thực thi tồi’’ dường như có mâu thuẫn nội tại. Việc một đạo luật không đưa ra được các biện pháp thực thi có hiệu quả chính là bằng chứng cho thấy chất lượng của luật tồi.  Nếu như các luật và các văn bản pháp quy chưa được thực thi tốt thì buộc chúng ta phải nhìn nhận lại chất lượng của chúng. Từ thực tiễn lập pháp, lập quy ở Việt Nam cho thấy, việc hạn chế ban hành các luật khung ở nước ta là cần thiết. Bởi vì, để ban hành được các văn bản quy định chi tiết, các Bộ, ngành vừa phải soạn thảo các dự thảo nghị định của Chính phủ, sau đó còn thời gian mới chuẩn bị xây dựng các quyết định, thông tư thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quản lý ngành, lĩnh vực. Tuy vậy, ngay cả việc soạn thảo, trình, thông qua các nghị định của Chính phủ cũng rất lâu. Do đó, mặc dù luật đã có hiệu lực từ lâu nhưng thực ra, nhiều điều luật lại chưa được triển khai trên thực tế. Đáng buồn là có một thực tế hiện nay là luật mới, luật sửa đổi cứ ra, các bộ vẫn tạm thời thực thi trên cơ sở các thông tư cũ vì nghị định của Chính phủ và thông tư của Bộ chưa kịp ban hành. Cũng cần tính đến một thực tế là các Bộ, ngành ngoài công việc soạn thảo văn bản hướng dẫn thì các việc chuyên môn vẫn là công việc được ưu tiên hơn là việc soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Để tránh tình trạng ban hành luật khung, khi soạn thảo, cơ quan soạn thảo nên quy định rõ quy trình, thủ tục, tiêu chí cho các cơ quan thi hành pháp luật thực hiện. Đối với các đối tượng điều chỉnh chính của văn bản thì cần quy định rõ trong mỗi quy phạm về việc ra lệnh, cho phép hay cấm đoán ai, trong bối cảnh nào và như thế nào? Luật và các văn bản pháp luật nói chung cần hạn chế tối đa sự tuỳ tiện của các cơ quan thi hành pháp luật. Để làm được điều này, các quy định phải bảo đảm tính minh bạch, có sự tham gia, dựa trên cơ sở pháp luật và thể hiện tính trách nhiệm của các cơ quan công quyền.

Do hoạt động lập pháp của Quốc hội nước ta thường ở trong tình trạng quá tải nên mong muốn giảm các luật khung trước mắt còn gặp nhiều trở ngại. Chúng ta nên nhìn nhận vấn đề nên ban hành luật khung hay luật chi tiết dưới nhiều góc độ và linh hoạt. Không nên quá cứng nhắc theo trường phái chỉ nên ban hành luật khung và cũng không nên quan niệm chỉ nên ban hành luật, pháp lệnh mà không ban hành nghị định và các văn bản hướng dẫn thi hành. Chúng ta chỉ có thể cố gắng để giảm các luật khung, luật và các văn bản dưới luật cần phải được quy định thật chi tiết chứ không thể tiến tới không còn văn bản hướng dẫn thi hành, không còn nghị định của Chính phủ, điều này đi ngược lại với thông lệ quốc tế cũng như nhu cầu thực tiễn hiện nay (Quốc hội không thể không uỷ quyền lập pháp). Mọi trường hợp đều cần phù hợp hoàn cảnh thực tiễn nhưng trong chừng mực có thể, luật cần quy định chi tiết, nếu luật chưa quy định được chi tiết thì cơ quan được luật uỷ quyền quy định phải quy định thật chi tiết, rõ ràng để tránh sự tuỳ tiện của các cơ quan công quyền và bảo đảm người dân dễ thực hiện, và như vậy, pháp luật mới thực sự đi vào cuộc sống, làm thay đổi hành vi của con người và phát huy vai trò của pháp luật. /.

 

1 Xem, Wolfgang Horn, ‘’Những đặc điểm cơ bản của chế độ pháp trị được ghi trong Hiến pháp Đức’’, Nhà nước pháp quyền, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội, 2002, trang 101-107.

2 Loại nghị định điều chỉnh những vấn đề thuộc lĩnh vực của luật

3 Xem Lê Đình Chân, Luật hiến pháp và các định chế chính trị, tr. 270. Sài Gòn, 1974

4 Giáo sư Đại học Boston (MỹM),  Sổ tay soạn thảo pháp luật vì sự tiến bộ xã hội

5 Có quan điểm cho rằng nghị định của Chính phủ hay các văn bản dưới luật chỉ nên quy định hướng dẫn về trình tự, thủ tục của các cơ quan hành pháp có tính nội bộ giữa các cơ quan công quyền mà không điều chỉnh đến quan hệ giữa nhà nước với công dân.

6 Nguyễn Minh Đoan, ‘’ Luật của Quốc hội: không nên quy định quá chi tiết’’, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 8 tháng 8/2003

7 Nhà nước pháp quyền, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002.

8 Xem, Waldemanr Beson và Gorthard Jasper, ‘’Pháp trị -Pháp luật và công lý ràng buộc mọi quyền lực của nhà nước’’, Nhà nước pháp quyền, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, trang 188.

(Bài viết đăng trên TCNCLP số 51, tháng 4/2005)

Nguyễn Thị Hạnh
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện về điều kiện hoạt động của đại biểu Quốc hội (20/02/2012)
Góp bàn về Sửa đổi Hiến pháp ở Việt Nam (23/09/2011)
Lại bàn về bài học từ Hiến pháp 1946 (22/09/2011)
Quy trình sửa đổi, bổ sung hiến pháp và sự lựa chọn cho Việt Nam trong bối cảnh hiện nay (19/09/2011)
Đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước trong Hiến pháp sửa đổi (27/08/2011)
Sửa đổi Hiến pháp: hướng tới đề cao trách nhiệm của chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh (18/08/2011)
Tiêu chí tổng kết việc thi hành quy định về tổ chức và hoạt động của Bộ máy nhà nước trung ương qua bốn bản hiến pháp (29/07/2011)
Sửa đổi Hiến pháp: hướng tới đề cao trách nhiệm của chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh (18/08/2011)
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân