Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ ba, 21/11/2017, 13:16(GMT+7)
 
Quốc tế

Việt Nam với việc phê chuẩn Công ước chống tham nhũng của Liên hợp quốc

 

1. Việt Nam và việc phê chuẩn Công ước Chống tham nhũng

Việt Nam đã phê chuẩn Công ước Chống tham nhũng của Liên hiệp quốc (Công ước UNCAC). Bằng việc phê chuẩn Công ước này, Việt Nam đã trở thành thành viên đầy đủ của Công ước và là quốc gia thứ 136 phê chuẩn (trên tổng số hơn 140 quốc gia đã ký kết). Công ước đã có hiệu lực từ 14/12/2005 sau khi có đủ 30 quốc gia thành viên phê chuẩn1.

 Ngay sau khi ký kết Công ước vào năm 2003, Việt Nam đã bắt đầu nội luật hoá những quy định của pháp luật quốc tế về phòng, chống tham nhũng. Đáng chú ý là Quốc hội đã thông qua Luật về Phòng, chống tham nhũng năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2007.

Việt Nam bảo lưu khoản 2, Điều 66 của Công ước, theo đó Việt Nam sẽ hoàn toàn không chịu sự ràng buộc bởi cơ chế phán xử theo trọng tài quốc tế và toà án công lý quốc tế đối với những vụ tranh chấp liên quan đến vấn đề tham nhũng. Khoản 3 của Điều 66 này cho phép các quốc gia thành viên bảo lưu hoặc tuyên bố không chịu sự ràng buộc theo quy định tại khoản 2, Điều 66.

 Quy định tại Điều 66 khẳng định rằng, trong trường hợp tranh chấp giữa hai hay nhiều quốc gia thành viên liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước này mà không giải quyết được thông qua thương lượng trong một thời hạn hợp lý, thì theo yêu cầu của một trong các quốc gia thành viên đó, sẽ được đưa ra trọng tài phân xử. Nếu sau 6 tháng kể từ ngày có yêu cầu đưa tranh chấp ra trọng tài mà các quốc gia đó không thể thoả thuận được về tổ chức trọng tài, thì bất kỳ quốc gia nào trong số các quốc gia tranh chấp đều có thể đưa vụ tranh chấp ra Toà án công lý quốc tế theo quy chế của Toà án này.

Với việc phê chuẩn Công ước UNCAC, công cuộc phòng chống tham nhũng không còn là vấn đề nội bộ của Việt Nam, mà là vấn đề được quan tâm đặc biệt của cộng đồng quốc tế, nhất là của Liên hiệp quốc (LHQ) và các tổ chức thành viên, bao gồm Chương trình hỗ trợ phát triển của LHQ  (UNDP). Việc phê chuẩn Công ước sẽ làm tăng hiệu quả của hoạt động phòng, chống tham nhũng thông qua việc tăng cường điều phối quốc gia, sự hợp tác chặt chẽ với các tổ chức quốc tế, nâng cao năng lực thực thi chính sách, pháp luật về phòng, chống tham nhũng của Chính phủ. Bởi tham nhũng làm tổn hại nghiêm trọng đến lợi ích quốc gia, đến sự thụ hưởng các quyền và lợi ích của người nghèo, làm xói mòn niềm tin của cộng đồng quốc tế vào các dự án, chương trình hỗ trợ phát triển cho Việt Nam, đặc biệt là các dự án, chương trình hướng tới người nghèo, làm suy giảm khả năng cung cấp các dịch vụ cơ bản của Nhà nước, là một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến đói nghèo vì nó làm kiệt quệ ngân sách công chi tiêu cho người nghèo, gia tăng sự bất bình đẳng, bất công trong xã hội.

Ngay sau khi trở thành thành viên đầy đủ của Công ước UNCAC, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra lộ trình minh bạch (roadmap of transparancy) nhằm tăng cuờng khả năng minh bạch của Chính phủ, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của quá trình cải cách hành chính nhà nước. Điều này cho thấy cam kết mạnh mẽ của Chính phủ Việt Nam đối với việc thực thi các cam kết quốc tế về phòng, chống tham nhũng. Lộ trình minh bạch hoá toàn bộ hoạt động nhà nước, đặc biệt là của hệ thống hành chính nhà nước, là một trong những ưu tiên hàng đầu của cuộc chiến phòng, chống tham nhũng. Tính minh bạch của thể chế là một điều kiện tiên quyết để ngăn ngừa hành vi tham nhũng cũng như đưa những hành vi tham nhũng ra trước công luận và pháp luật.

Hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng phụ thuộc rất nhiều vào các cơ quan báo chí, truyền thông, tổ chức xã hội, xã hội dân sự, nghiệp đoàn... Vì vậy, Công ước đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của các cơ quan này trong việc phối hợp cùng với cơ quan quyền lực nhà nước trung ương và địa phương trong công tác xây dựng và triển khai các chương trình, kế hoạch phòng, chống tham nhũng. Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề này, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã phát huy được sức mạnh của toàn dân, các cơ quan báo chí, truyền thông và tổ chức xã hội, nghề nghiệp và đã đạt được những kết quả rõ rệt trong việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Chỉ tính 10 năm trở lại đây, hầu hết các vụ án tham nhũng lớn bị phát hiện và xử lý đều có công đóng góp đáng kể của báo chí và nhân dân.

2. Tác động của Công ước đối với việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam

 Ngay từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Nhà nước Việt Nam đã thực thi chính sách nhất quán là tiết kiệm và tuyên chiến với mọi hình thức tham ô, lãng phí, tham nhũng, tệ quan liêu, hách dịch của bộ máy nhà nước. Trước khi tham gia vào Công ước Chống tham nhũng, hệ thống pháp luật Việt Nam đã có những điều khoản quy định về việc nghiêm cấm mọi hành vi tham nhũng, lãng phí và những hành vi này được coi là những tội danh nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị và cơ hội thụ hưởng thành quả phát triển của người dân, hiện thực hoá và bảo đảm các quyền con người. Chính vì vậy, các tội danh liên quan đến tham nhũng có thể lĩnh hình phạt cao nhất là tử hình. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đáng khích lệ trong cuộc chiến chống tham nhũng, vẫn có những hạn chế và bất cập trong việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng mà Việt Nam phải tiếp tục khắc phục, như tính chất, phạm vi và quy mô của tham nhũng ngày càng lớn cùng với hệ quả tất yếu của những tác động tiêu cực của quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật và nhà nước pháp quyền. Cũng giống như những vấn đề mang tính toàn cầu khác, tham nhũng chỉ có thể được giải quyết hiệu quả thông qua quá trình hợp tác quốc tế chặt chẽ, trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm của cộng đồng quốc tế và các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Vì vậy, yêu cầu gia nhập Công ước UNCAC là một logic tất yếu và chắc chắn sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao năng lực phối kết hợp giữa các bộ, ban, ngành hữu quan từ trung ương xuống địa phương, cũng như năng lực chuyên môn và tính hiệu quả của toàn bộ hệ thống chính trị trong việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Hơn nữa, việc gia nhập Công ước UNCAC đã cải thiện đáng kể hình ảnh của Việt Nam trước cộng đồng quốc tế, thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong cuộc chiến chống tham nhũng, nâng cao các chỉ số về minh bạch hoá và hiệu quả của hệ thống hành chính nhà nước, thể hiện thiện chí của Chính phủ Việt Nam đối với các quốc gia và cộng đồng quốc tế trong việc góp phần vào cuộc chiến chống tham nhũng toàn cầu, giải quyết một trong những căn nguyên của đói nghèo, kém phát triển và mất dân chủ.

Mặc dù Việt Nam chỉ bảo lưu duy nhất khoản 2 Điều 66 của Công ước liên quan đến việc thừa nhận giải quyết tranh chấp về việc giải thích hay áp dụng Công ước thông qua hệ thống trọng tài quốc tế, Việt Nam vẫn chịu sự ràng buộc nhất định về nguyên tắc giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng giữa các quốc gia có liên quan. Điều này cho thấy tính chất quan trọng của cơ chế hợp tác quốc tế trong việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng cũng như nghĩa vụ của quốc gia thành viên cần phải phối hợp chặt chẽ với các quốc gia thành viên khác trong việc thực thi các cam kết của mình. Việc bảo lưu khoản 2 này hoàn toàn không có nghĩa là mọi tranh chấp phát sinh giữa Việt Nam với các quốc gia thành viên khác của Công ước, trong việc giải thích hay áp dụng Công ước, sẽ không được giải quyết, trái lại nó vẫn có thể được giải quyết thông qua cơ chế thương lượng (như quy định tại khoản 1 của Điều 66) hay qua cơ chế hợp tác quốc tế (Điều 43-49) và cơ chế thoả thuận, dàn xếp song phương (Điều 59).

3. Một số nhận xét chung

- Việc tham gia Công ước UNCAC thể hiện cam kết chính trị mạnh mẽ, quan điểm và lập trường nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vững  mạnh, đấu tranh kiên quyết, không khoan nhượng với tệ nạn tham nhũng, tôn trọng, bảo đảm và thúc đẩy sự thụ hưởng các quyền và tự do cơ bản của người dân, thành quả của quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Vấn đề tham nhũng và việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng luôn được Đảng và Nhà nước ta xem là một trong những nhiệm vụ chính trị trọng tâm, được đặc biệt nhấn mạnh trong các văn kiện Đại hội của Đảng từ rất sớm, trước khi Việt Nam trở thành thành viên của Công ước UNCAC. Vì vậy, sự tham gia của Việt Nam đối với Công ước này là sự cụ thể hoá quan điểm và đường lối nhất quán của Đảng và Nhà nước trong việc giải quyết triệt để vấn đề tham nhũng.

- Để nâng cao hiệu quả ngăn ngừa và chống tham nhũng, cần đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền và phổ biến pháp luật quốc tế và quốc gia về vấn đề này, đặc biệt là Công ước  UNCAC và Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm năm 2007 cho đội ngũ công chức và cho mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội.

- Góp phần vào việc thực thi hiệu quả Công ước cũng như Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, Việt Nam cần phải đẩy mạnh hơn nữa việc cải cách hành chính để cải thiện tình trạng quản lý yếu kém và thiếu hiệu quả của các cơ quan hành chính nhà nước ở nhiều địa phương, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý tài chính công. Việc minh bạch hoá, dân chủ hoá và công khai hoá mọi hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước nói chung cũng như việc chi tiêu tài chính công nói riêng đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

- Như là một nghĩa vụ quốc gia trong việc tôn trọng và thực hiện công ước quốc tế, Nhà nước phải có trách nhiệm thực thi tổng thể các biện pháp về lập pháp, tư pháp, hành pháp và các biện pháp khác. Trong việc thực thi biện pháp tư pháp, cần tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động tư pháp và đẩy mạnh việc cải cách hệ thống tư pháp để đáp ứng được với việc đưa ra truy tố, xét xử những hành vi tham nhũng. Trong công tác lập pháp, yêu cầu về sự hoàn thiện hệ thống pháp luật cùng với cơ chế giám sát việc thực thi nó phải được đặc biệt chú trọng. Tăng cường sự minh bạch hoá nền hành chính nhà nước và tính hiệu quả, quản lý tốt của Chính phủ, là yêu cầu tất yếu của biện pháp hành pháp.

- Cần phát huy tổng lực sức mạnh của hệ thống chính trị (Đảng, Nhà nước, các tổ chức xã hội, ...) và toàn dân trong việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Đặc biệt cần tăng cường vai trò kiểm tra, giám sát của nhân dân thông qua các kênh thông tin mà nhân dân có thể sử dụng như thông qua hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội người Cao tuổi, Hội Cựu chiến binh,…

- Phát huy dân chủ ở cơ sở là một trong những điều kiện tiên quyết để đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Thực tiễn cho thấy, rất nhiều vụ việc tham nhũng đã được nhân dân phát hiện ra ngay từ cấp cơ sở hay do phát huy hiệu quả cơ chế dân chủ ở cơ sở.

4. Một số kiến nghị

Tham nhũng là một dạng thức tha hoá của quyền lực nhà nước, vì vậy, trước hết cần phải tăng cường sức mạnh của chính quyền lực nhà nước, của bộ máy nhà nước (đặc biệt là quyền lực tư pháp như toà án và viện kiểm sát nhân dân) đóng vai trò như là sức đề kháng tối ưu và hiệu quả nhất để phòng, chống sự xâm nhập và nhân bản của loại vi rút tham nhũng vốn luôn thường trực trong cơ thể bộ máy nhà nước và chỉ chờ cơ hội khi cơ thể ấy yếu ớt hoặc bị tổn thương để tấn công, nảy nở và sinh sôi. Tăng cường sức mạnh của hệ thống quyền lực nhà nước là giải pháp hàng đầu. Song, đây chưa phải là giải pháp duy nhất, mà giải pháp tổng thể cho vấn đề này sẽ là việc không ngừng nâng cao và hoàn thiện sức mạnh, kiện toàn tổ chức, phương thức lãnh đạo, quản lý và điều hành của toàn bộ hệ thống chính trị (bao gồm các cấp uỷ đảng, chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội). Đồng thời, cần phải tăng cường vai trò giám sát của mọi tầng lớp nhân dân. Ngay từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta đã chủ trương thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Phương châm này, hơn bao giờ hết, cần phải được đặc biệt nhấn mạnh và phát huy. 

Một trong những nguyên nhân của tình trạng tham nhũng không được kiểm soát và giải quyết hiệu quả đó chính là việc thiếu hụt khung khổ pháp luật cần thiết và đồng bộ cũng như cơ chế giám sát và thực thi. Chẳng hạn, tuy đã có Luật Phòng, chống tham nhũng, nhưng hệ thống pháp luật quốc gia vẫn chưa đầy đủ và hoàn thiện để hỗ trợ cho việc triển khai và thực thi tốt Luật này. Một trong những yếu tố nền tảng, quan trọng nhất của cuộc chiến chống tham nhũng chính là một nền hành chính nhà nước minh bạch. Để có điều ấy, trước hết phải cần đến sự cởi mở về thông tin và mức độ công khai hoá sâu rộng của các cơ quan công quyền. Vì vậy, việc xây dựng và thông qua Luật Tiếp cận thông tin là hết sức cần thiết cho sự thiết lập một chính phủ minh bạch. Luật này sẽ giúp cho toàn bộ hoạt động của khu vực công cũng như khu vực tư cần phải có nghĩa vụ cung cấp thông tin cần thiết và theo luật định, cũng như sự minh bạch hoá cho bất kỳ cơ quan có thẩm quyền nào cũng như mọi tầng lớp nhân dân có thể dễ dàng tiếp cận mà không có bất cứ sự cản trở nào (trừ những thông tin thuộc bí mật quốc gia, đời tư cá nhân hay các hạn chế cần thiết khác theo luật định). Cần thúc đẩy quá trình xây dựng và lấy ý kiến về Luật Tiếp cận thông tin để sớm thông qua được Luật này. Vai trò giám sát của nhân dân chỉ thực sự có hiệu quả khi người dân được trao quyền tiếp cận thông tin đầy đủ và kịp thời. Chỉ số tham nhũng thấp nhất thế giới hay gần như bằng 0 ở những quốc gia như Thụy Điển, Phần Lan, Đan Mạch, Na Uy… có được chính là nhờ một phần quan trọng của việc thực thi hiệu quả Luật Tiếp cận thông tin. Các quốc gia này luôn được coi là nước có mức độ minh bạch hoá cao nhất thế giới.  

Cần tiếp tục cải cách hơn nữa hệ thống tư pháp nhằm xây dựng một nền tư pháp độc lập, hiệu quả. Khái niệm độc lập của tư pháp ở đây chỉ ra sự không can thiệp vào các phán quyết của tòa án hay các quyết định truy tố của viện kiểm sát, nhưng vai trò lãnh đạo, kiểm tra, giám sát chính hoạt động tư pháp ấy lại cần có sự hiện diện của các cấp uỷ đảng. Độc lập tư pháp trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta chỉ ra sự độc lập của hệ thống tư pháp khỏi hệ thống hành pháp, đồng thời khẳng định vai trò giám sát tối cao của Quốc hội và kiểm tra, giám sát của các cấp uỷ đảng đối với các cơ quan và hoạt động tư pháp.

Minh bạch hoá nền hành chính công nói riêng và toàn bộ hệ thống quyền lực công nói chung (đặc biệt là về mặt tài chính công) là chưa đủ, mà điều quan trọng hơn chính là việc cần phải minh bạch hoá tài chính (hay thu nhập) của toàn bộ công chức và người dân. Khi thu nhập cá nhân và tài sản cá nhân được công khai khoá, việc chi trả lương và thu nhập qua hệ thống thanh toán tài khoản ngân hàng cùng với việc thu thuế thu nhập cá nhân, mọi hành vi tham nhũng sẽ dễ dàng được kiểm soát. Vì vậy, cần có xây dựng và triển khai sớm những quy định về việc hạn chế (và tiến dần đến xoá bỏ hoàn toàn) hệ thống thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt, thúc đẩy việc thanh toán qua hệ thống ngân hàng và giám sát hiệu quả thông qua hệ thống này. Bên cạnh đó là việc tăng cường cơ chế công khai hoá tài sản cá nhân của mọi công dân và cá nhân.

Thực tiễn cho thấy, các vụ tham nhũng, tiêu cực đều liên quan đến cán bộ, công chức chính quyền các cấp và là đảng viên chiếm tỷ lệ khá lớn. Vì vậy, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của việc đấu tranh phòng chống tham nhũng là cần phải đặc biết chú trọng đến công tác xây dựng cán bộ, công tác xây dựng đảng; kiện toàn, đổi mới hệ thống thanh tra, giám sát, kiểm tra đảng từ trung ương xuống địa phương. Tăng cường tính hiệu quả của cơ chế kiểm tra, giám sát trong toàn bộ hệ thống chính trị nói chung và hệ thống hành chính nhà nước nói riêng là nhiệm vụ then chốt của cuộc chiến chống tham nhũng. Cần đổi mới phương thức hoạt động kiểm tra, thanh tra, giám sát và kiện toàn bộ máy của cơ quan Thanh tra Chính phủ, các ban thanh tra trực thuộc Bộ và các cơ quan ngang bộ và trong các cơ quan hành chính sự nghiệp. Công tác phòng, chống tham nhũng của Chính phủ chỉ thực sự đạt hiệu quả khi được hỗ trợ và đặt dưới sự giám sát tối cao của cơ chế giám sát, kiểm tra của các cấp ủy đảng và đặc biệt là đặt dưới sự giám sát tối cao của Quốc hội.

Báo chí và các tổ chức xã hội, nghề nghiệp và quần chúng nhân dân đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Vì vậy cần tăng cường và phát huy hơn nữa sự tham gia tích cực, chủ động và sâu rộng của các thành phần này vào quá trình kiểm tra, giám sát toàn bộ hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước, khu vực tư và của mọi công dân thông qua biện pháp tuyên truyền, phổ biến, phát hiện và đưa ra công luận những hành vi tham nhũng.

Mặc dù tham nhũng là một vấn đề quốc nạn và việc tham gia Công ước UNCAC là thiết thực, nhưng vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ sử dụng Công ước như là công cụ để can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta, gây mất ổn định chính trị, xã hội và phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, giữa Đảng, chính quyền với nhân dân của những thế lực thù địch hay không thiện chí. Chính vì thế, trong khi thực hiện các nghĩa vụ của Công ước, chúng ta cần phải lưu ý đến những tác động tiêu cực và bất lợi của một số quy định nhất định và trong trường hợp cần thiết sẽ ra tuyên bố bảo lưu hoặc rút khỏi sự ràng buộc một phần hay toàn bộ phạm vi và thẩm quyền điều chỉnh của Công ước. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với tinh thần của Công ước (như quy định tại Điều 69 và 70), theo đó, cho phép việc sửa đổi hoặc bãi bỏ thẩm quyền của Công ước.

(1) Việt Nam là một trong những nước tham gia đầu tiên ký kết Công ước này.

TS. Hoàng Văn Nghĩa - Viện Nghiên cứu quyền con người, Học viện Chính trị, Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Quyền lựa chọn pháp luật trong tư pháp quốc tế Việt Nam (28/02/2013)
Giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế tại biển Đông (21/01/2013)
Tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa và luật pháp quốc tế (17/11/2011)
Một số vấn đề nhìn từ góc độ tố tụng trong vụ kiện đầu tiên của Việt Nam tại WTO (14/09/2011)
Trung Quốc và chiêu bài sử dụng luật quốc tế trong tranh chấp Biển đông (22/08/2011)
Việt Nam với việc phê chuẩn nghị định thư sửa đổi Hiệp định Trips (phần 2) (19/08/2011)
Một số vấn đề nhìn từ góc độ tố tụng trong vụ kiện đầu tiên của Việt Nam tại WTO (04/08/2011)
Việt Nam với việc phê chuẩn nghị định thư sửa đổi Hiệp định Trips (phần 2) (19/08/2011)
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo trong hai dự thảo luật

Công khai thông tin với việc thực hiện phản biện xã hội

Thư của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gửi Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

CÔNG BỐ VÀ TRAO NGHỊ QUYẾT BỔ NHIỆM VIỆN TRƯỞNG VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt Nam

Khai mạc trọng thể Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Chất vấn và hậu chất vấn

Lựa chọn chính sách cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân