Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Chủ nhật, 28/05/2017, 21:53(GMT+7)
 
Quốc tế

Phối hợp liên ngành trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật thực hiện các điều ước quốc tế
Xây dựng và hoàn thiện pháp luật nhằm tạo thuận lợi cho việc hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) và thực hiện các điều ước quốc tế là một chủ trương lớn đúng đắn của Việt Nam được thể hiện trong các văn kiện của Đảng và pháp luật của nhà nước.

 

 

Xây dựng và hoàn thiện pháp luật nhằm tạo thuận lợi cho việc hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) và thực hiện các điều ước quốc tế là một chủ trương lớn đúng đắn của Việt Nam được thể hiện trong các văn kiện của Đảng và pháp luật của nhà nước. Chẳng hạn: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 5/02/2007 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (Nghị quyết 08) đề cập đến việc "khẩn trương bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật và thể chế kinh tế phù hợp với các nguyên tắc của Tổ chức Thương mại thế giới"[2]. Hoặc trước đó, Điều 6.3 Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 (Luật Điều ước) khẳng định nguyên tắc chung của việc xây dựng pháp luật trong nước là không được “làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế… có quy định về cùng một vấn đề”.

Xây dựng và hoàn thiện pháp luật nhằm tạo thuận lợi cho việc HNKTQT và thực hiện các điều ước quốc tế cần phải có phối hợp liên ngành. Điều này là khá rõ bởi hai nội dung “xây dựng và hoàn thiện pháp luật” và “điều ước quốc tế” đều đặt ra yêu cầu phải có phối hợp liên ngành[3]. Tức là, từng cấu thành của chủ đề này đã nói tới phối hợp liên ngành thì cơ chế phối hợp liên ngành là cần thiết hơn và phải được xây dựng, thực hiện tốt hơn nữa khi chúng ta ghép hai cấu thành lại với nhau: xây dựng và hoàn thiện pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế. Tuy nhiên, giống như nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội, quản lý nhà nước, thực tiễn diễn ra không phải lúc nào cũng phản ánh đúng những vấn đề đã được khẳng định trong lý luận hay quy định của pháp luật.

1. Thể chế pháp luật hiện hành về thực hiện điều ước quốc tế[4]

Trước khi đi vào thể chế pháp luật hiện hành, có hai khái niệm quan trọng cần được làm rõ nội hàm trong bài viết - đó là “thực hiện điều ước quốc tế” và “xây dựng và hoàn thiện pháp luật”.

Khái niệm “thực hiện điều ước quốc tế”: Luật Điều ước không giải thích khái niệm này nhưng có thể hiểu ý đồ của nhà làm luật là nội hàm của nó bao gồm ít nhất tất cả các nội dung được điều chỉnh tại Chương VII của Luật khi nhà làm luật đặt tiêu đề chương này là “thực hiện điều ước quốc tế”. Theo đó, Chương VII có các mục sau: Mục 1: Kế hoạch thực hiện điều ước quốc tế; Mục 2: Giải thích điều ước quốc tế; Mục 3: Sửa đổi, bổ sung, gia hạn điều ước quốc tế; Mục 4: Chấm dứt hiệu lực, từ bỏ, rút khỏi, tạm đình chỉ thực hiện toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế.

Như vậy, Quốc hội đã xác định nội hàm rộng cho khái niệm “thực hiện điều ước quốc tế” - toàn bộ những gì chúng ta làm kể từ khi chấp nhận hiệu lực pháp lý của điều ước và trong suốt thời gian có hiệu lực của nó đối với Việt Nam. Theo đó, việc đặt vấn đề xây dựng và hoàn thiện pháp luật không hiểu theo nghĩa hẹp thông thường (chỉ liên quan tới việc điều chỉnh pháp luật để bảo đảm quyền và nghĩa vụ trước hoặc ngay sau khi (hay đồng thời cùng lúc) chấp nhận hiệu lực pháp lý của điều ước). Tức là, tuỳ theo tình huống cụ thể, có thể phải điều chỉnh pháp luật kể cả khi chúng ta có giải thích điều ước quốc tế (điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh WTO khi có những giải thích của Cơ quan giải quyết tranh chấp về những quy định của WTO), sửa đổi, bổ sung, chấm dứt hiệu lực… của điều ước. Điều 83.1 của Luật Điều ước về hồ sơ trình sửa đổi, bổ sung, gia hạn điều ước quốc tế yêu cầu phải nêu rõ “hậu quả pháp lý” của việc làm này. Một quy định tương tự cũng được áp dụng cho việc chấm dứt hiệu lực, từ bỏ, rút khỏi, tạm đình chỉ thực hiện điều ước quốc tế (Điều 95.1 của Luật Điều ước).

Khái niệm “xây dựng và hoàn thiện pháp luật”: mặc dù Luật Điều ước không giải thích nhưng có thể hiểu nó bao gồm việc sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hay ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật (các Điều 14.10; 18.4 và 71.2 (c) của Luật Điều ước).

Chương VII của Luật Điều ước có 17 điều luật điều chỉnh trực tiếp việc thực hiện điều ước quốc tế cho thấy, chúng ta có sự quan tâm đặc biệt tới công tác này (ít nhất từ góc độ quy định của pháp luật). Bên cạnh đó, nhiều điều luật khác cũng đem lại tác động tới việc thực hiện điều ước quốc tế, ví dụ như Điều 6.1 của Luật Điều ước, hay quy định có tính công thức thường thấy trong các văn bản quy phạm pháp luật là ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế khi có quy định khác. Hơn nữa, một quy định có tính nguyên tắc của Luật Điều ước đem lại hệ quả là việc thực hiện điều ước quốc tế được tính đến ngay từ giai đoạn đầu tiên của quy trình điều ước (đề xuất đàm phán, ký điều ước quốc tế): “Điều ước quốc tế có quy định trái hoặc chưa được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, UBTVQH, điều ước quốc tế mà để thực hiện cần sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, UBTVQH phải được trình UBTVQH cho ý kiến trước khi đàm phán, ký hoặc gia nhập; trong trường hợp đàm phán, ký hoặc gia nhập điều ước quốc tế có quy định trái với văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội thì UBTVQH báo cáo Quốc hội cho ý kiến” (Điều 3.5 của Luật Điều ước)[5].

Trong khuôn khổ bài viết, tác giả chỉ đề cập tới việc phối hợp liên ngành trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế theo nghĩa hẹp: việc điều chỉnh pháp luật để tham gia vào điều ước quốc tế trước hoặc ngay sau khi (hay đồng thời cùng một lúc) chúng ta chấp nhận hiệu lực pháp lý của điều ước (gọi tắt là điều chỉnh pháp luật khi chấp nhận hiệu lực pháp lý điều ước quốc tế). Việc lựa chọn phạm vi trình bày hẹp nhằm tập trung vào công việc điều chỉnh pháp luật (nếu có) quan trọng nhất và những điều chỉnh pháp luật như là hệ quả của việc giải thích, sửa đổi, bổ sung, chấm dứt hiệu lực… của điều ước quốc tế (nếu có) thì thường là nhỏ (bản thân Luật Điều ước cũng không định rõ quy trình điều chỉnh pháp luật trong các tình huống này, nhưng có thể suy luận là việc điều chỉnh cũng tương tự như điều chỉnh khi chấp nhận hiệu lực pháp lý của điều ước).

Có một loạt quy định của Luật Điều ước liên quan đến việc phối hợp liên ngành trong điều chỉnh pháp luật để chấp nhận hiệu lực pháp lý của điều ước quốc tế, đặc biệt là các điều:

- Điều 3 về các nguyên tắc ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế, trong đó có Khoản 5 và Khoản 6 khẳng định Việt Nam tuân thủ điều ước quốc tế của mình;

- Điều 6 nêu mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và quy định pháp luật trong nước;

- Điều 14 quy định trong tờ trình, báo cáo đề xuất đàm phán, ký điều ước quốc tế có đánh giá mức độ tương thích giữa quy định của điều ước quốc tế với quy định của pháp luật Việt Nam và kiến nghị về việc áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế hoặc sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ, ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế;

- Điều 18 nêu phạm vi thẩm định có nội dung nêu các yêu cầu điều chỉnh pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế;

- Điều 20.3 quy định Bộ Tư pháp phối hợp với cơ quan đề xuất đàm phán điều ước kiến nghị điều chỉnh pháp luật;

- Điều 27.3 quy định chỉ được ký điều ước quốc tế sau khi có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp quá trình đàm phán “có những thay đổi liên quan… quy định trái hay chưa được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội và UBTVQH…”;

- Điều 32.2 (c) đưa ra nội dung phê chuẩn phải bao gồm: “quyết định áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế; quyết định hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, UBTVQH để thực hiện điều ước quốc tế được phê chuẩn”;

- Điều 34.4 và 34.5 đề cập đến việc thẩm tra do Uỷ ban đối ngoại của Quốc hội chủ trì có nội dung áp dụng trực tiếp và điều chỉnh pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế;

- Điều 40.1 (a), 2(a) và 3 (a) quy định hồ sơ trình phê chuẩn điều ước quốc tế phải có đánh giá “tác động của điều ước quốc tế đối với Việt Nam; kiến nghị về việc áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế, sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ để thực hiện điều ước quốc tế”;

- Điều 44.2 (c) quy định nội dung phê duyệt điều ước quốc tế bao gồm “Quyết định áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế; kiến nghị hoặc quyết định sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ để thực hiện điều ước quốc tế được phê duyệt”;

- Điều 46.1 quy định hồ sơ trình phê duyệt điều ước có kiến nghị áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế; kiến nghị hoặc quyết định sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, UBTVQH, Chính phủ để thực hiện điều ước quốc tế;

- Việc gia nhập điều ước quốc tế nhiều bên cũng có các quy định liên quan tới áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế; sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật (các Điều 50.4 (c); 51.4(a) và (c); 52.2(a); 52.4(a);

- Điều 71.2 (c) khẳng định kế hoạch thực hiện điều ước quốc tế có “kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế”;

- Điều 97 yêu cầu “cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tuân thủ điều ước quốc tế” mà Việt Nam là thành viên;

- Điều 99 quy định trách nhiệm của cơ quan đề xuất điều ước quốc tế;

- Điều 102.1 (b) quy định việc giám sát của Quốc hội thông qua việc “xem xét báo cáo của UBTVQH về việc cho ý kiến đối với việc đàm phán, ký, gia nhập điều ước quốc tế có quy định trái hoặc chưa được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, điều ước quốc tế mà để thực hiện cần sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội”. Quy định tương tự cũng được áp dụng đối với việc giám sát của UBTVQH.

2. Thực tiễn thực hiện điều ước quốc tế

Để có cái nhìn cụ thể hơn về các vấn đề pháp lý của việc thực hiện các điều ước quốc tế trong hệ thống pháp luật Việt Nam, thì việc thực hiện các cam kết WTO là một ví dụ tốt.

Việc thực thi các cam kết và nghĩa vụ WTO nhìn từ góc độ pháp luật trong nước:

Pháp luật quốc tế nói chung và Công ước Viên về Luật Điều ước quốc tế năm 1969 và các hiệp định WTO nói riêng không quy định một quy trình hoặc cách thức cụ thể để thực hiện các nghĩa vụ WTO[6]. Trong Báo cáo của Ban Công tác, Việt Nam đã đưa ra khá nhiều cam kết cụ thể liên quan đến việc sửa đổi thể chế thương mại trong nước. Ngoài các cam kết nói trên, việc thực thi trong nước các nghĩa vụ phụ thuộc rất nhiều vào khuôn khổ pháp luật và thể chế trong nước của Việt Nam.

Trong Báo cáo của Ban công tác về việc gia nhập của Việt Nam, đoạn 118 và 119 miêu tả ngắn gọn khuôn khổ này và các cam kết cụ thể liên quan đến việc thực thi các nghĩa vụ WTO của Việt Nam. Điều đáng lưu ý là vấn đề vị trí pháp lý của các hiệp định WTO trong hệ thống pháp luật trong nước của Việt Nam và các hiệp định này có thể được thực thi như thế nào tại Việt Nam. Điều đó rất quan trọng đối với bất kỳ điều ước quốc tế nào để bảo đảm cho việc thực thi hiệu quả các nghĩa vụ điều ước quốc tế trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Những điểm quan trọng sau cần được lưu ý khi tìm hiểu về việc thực thi các nghĩa vụ WTO trong hệ thống pháp luật Việt Nam: 

Thứ nhất, không như nhiều nước khác trên thế giới, Việt Nam không quy định rõ ràng và cụ thể, dù là trong Hiến pháp hay trong văn bản luật về vị trí pháp lý của các điều ước quốc tế với tư cách là các văn bản quy phạm pháp luật trong nước. Điều này dẫn đến việc giải thích khác nhau và thực tiễn thực thi các điều ước quốc tế khác nhau.

Thứ hai, việc phân loại Việt Nam là nước theo "nhất nguyên luận" thích hợp hơn là một nước theo "nhị nguyên luận", bởi Luật Điều ước quy định việc “áp dụng trực tiếp” các điều ước quốc tế và vị trí ưu tiên của điều ước quốc tế đối với các quy định trong nước có nội dung khác hoặc mâu thuẫn về cùng một vấn đề. Tuy nhiên, Luật này không nêu cụ thể, đầy đủ các tiêu chí khi nào thì áp dụng trực tiếp (ngoài hai yêu cầu: đủ rõ và đủ chi tiết để thi hành) và áp dụng như thế nào. Quan điểm này tiếp tục được khẳng định bởi thực tiễn thực thi điều ước quốc tế của Việt Nam khi hầu hết các điều ước quốc tế của Việt Nam không dẫn đến việc thông qua văn bản pháp luật thực thi trong nước.

Thứ ba, cho dù có sự giải thích phổ biến (ít nhất là từ phía một số chuyên gia hàng đầu) rằng một điều ước quốc tế có hiệu lực ngay đối với hệ thống pháp luật trong nước (được ưu tiên hơn pháp luật trong nước và áp dụng trực tiếp), nhưng câu hỏi đặt ra là liệu có hiệu quả, thống nhất và minh bạch khi cố gắng thực thi các nghĩa vụ và cam kết WTO mà không cần có văn bản pháp luật trong nước thực thi. Vấn đề này đặc biệt quan trọng khi không phải tất cả các quan chức chính phủ và các thẩm phán (ở cả cấp trung ương và địa phương) đều có thể áp dụng trực tiếp một điều ước quốc tế phức tạp như Hiệp định WTO. Không chỉ có Việt Nam ở trong hoàn cảnh như vậy. Điều đó cũng đúng với nhiều nước khác.

Thứ tư, thậm chí, khi đã có sự nhất trí ban hành các văn bản thực thi một điều ước quốc tế thì các quy định, thủ tục để xây dựng và thực thi văn bản đó cần phù hợp với khuôn khổ pháp luật trong nước và năng lực nội tại của Việt Nam để thực thi văn bản.

Cuối cùng, Việt Nam đã thể hiện thiện chí tốt liên quan đến việc thực thi các điều ước và nghĩa vụ quốc tế của mình thông qua một loạt các văn bản pháp luật khác nhau, trong đó bao gồm cả việc gia nhập Công ước Viên 1969 gần đây, ban hành Luật Điều ước và Nghị quyết số 71/2006/NQ-QH11 của Quốc hội phê chuẩn việc gia nhập WTO. Các mục tiêu và nỗ lực cải cách của Việt Nam, bao gồm cả cải cách pháp luật và tư pháp, đều hỗ trợ và đẩy mạnh việc ký kết và thực thi các điều ước quốc tế, trong đó có cả Hiệp định WTO. 

Như vậy, có thể kết luận rằng, khuôn khổ pháp luật trong nước hiện hành đã sẵn sàng cho việc thực thi các nghĩa vụ và cam kết WTO. Pháp luật Việt Nam đã tính đến các khả năng thực hiện điều ước quốc tế dưới các cách và hình thức khác nhau, bao gồm cả việc áp dụng trực tiếp, quy định ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế khi có quy định mâu thuẫn với pháp luật trong nước và ban hành văn bản pháp luật để thi hành. Điều quan trọng là việc lựa chọn một trong những cách và hình thức thi hành này không loại trừ việc sử dụng các cách và hình thức khác. Vấn đề đặt ra chỉ là cách thức nào hiệu quả nhất để thực thi một nghĩa vụ cụ thể với các điều kiện và mức độ phát triển hiện nay của Việt Nam. Nói cách khác, chúng ta cần nhìn từ khía cạnh thực tiễn để trả lời câu hỏi sự lựa chọn nào là tốt nhất cho Việt Nam để thực thi các nghĩa vụ WTO. Câu trả lời sẽ phụ thuộc vào các yếu tố của hoàn cảnh cụ thể.

Trong bối cảnh thực thi các nghĩa vụ WTO, hầu hết các vụ tranh chấp có liên quan đến việc một nước thành viên không "đảm bảo sự phù hợp của các luật, quy định và các thủ tục hành chính của mình..." (Điều XVI.4 Hiệp định Marrakesh) được đưa ra Cơ quan Giải quyết tranh chấp WTO đều dựa trên Điều XXIII: 1(a) và 1 (b) của Hiệp định GATT 1994 và các điều tương ứng của các hiệp định khác. Điều này nhấn mạnh một thực tế là thậm chí cả khi không có nghĩa vụ pháp lý đòi hỏi phải cải cách hoặc ban hành các văn bản pháp luật thực thi cụ thể nhưng các nước Thành viên WTO vẫn phải loại bỏ những quy định không phù hợp trong khuôn khổ pháp luật trong nước của mình và ban hành các văn bản pháp luật, các quy định hướng dẫn phù hợp để bảo đảm việc áp dụng thống nhất và thực thi các nghĩa vụ WTO. 

Nói tóm lại, Luật Điều ước có nhiều quy định liên quan trực tiếp việc có điều chỉnh pháp luật (sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành mới) trong đó có phối hợp liên ngành để thực hiện điều ước quốc tế. Việc điều chỉnh như vậy phải được bắt đầu ngay từ cơ quan đề xuất đàm phán điều ước quốc tế và được các cơ quan có thẩm quyền (cơ quan thẩm định, thẩm tra và quyết định đàm phán, chấp nhận hiệu lực pháp lý của điều ước) có ý kiến. Nói như vậy không có nghĩa mọi điều ước quốc tế đều đặt ra vấn đề điều chỉnh pháp luật, mà tuỳ từng trường hợp cụ thể. Điều 6 của Luật về mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và pháp luật trong nước cũng phản ánh tinh thần này. Hơn nữa, việc bảo đảm phù hợp của pháp luật với các điều ước quốc tế không chỉ được đặt ra đối với các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành mà ngay cả đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật vì “việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải bảo đảm không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà …Việt Nam là thành viên có quy định về cùng một vấn đề” (Điều 6.2).

Thực tiễn thi hành các quy định liên quan của Luật Điều ước đối với việc phối hợp liên ngành trong điều chỉnh pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế giúp ta có một số nhận xét sau đây:

- Luật Điều ước có hiệu lực từ 01/01/2006 và đã từng bước phát huy tác dụng trong việc tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo đảm sự phù hợp của pháp luật trong nước với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Cho tới thời điểm tháng 6/2008, chúng ta chưa chính thức bị một nước nào khởi kiện ra tổ chức quốc tế vì pháp luật trong nước không phù hợp với cam kết quốc tế, kể cả trong khuôn khổ WTO hay ASEAN.

- Công tác phối hợp liên ngành trong điều chỉnh, cải cách pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế đã được cải thiện một bước do quy trình điều ước của Luật Điều ước khá chặt chẽ, chẳng hạn hồ sơ đề xuất hay trình về điều ước quốc tế bao giờ cũng phải có nội dung về điều chỉnh pháp luật này.

- Thực tiễn thi hành Luật Điều ước cho thấy, trong đa số các trường hợp cơ quan đề xuất điều ước quốc tế đều đề xuất áp dụng trực tiếp toàn bộ điều ước và đề xuất không cần có điều chỉnh pháp luật trong nước để thực hiện điều ước quốc tế. Sự “ngần ngại” của cơ quan đề xuất trong trường hợp này là vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu. Tuy nhiên, thực tiễn đó đem lại hệ quả là làm cho toàn bộ công việc điều chỉnh pháp luật có thể bị giảm đáng kể hoặc triệt tiêu do thông thường cơ quan đề xuất điều ước quốc tế chính là cơ quan quản lý về các nội dung điều ước và chủ trì soạn thảo, thực thi các văn bản pháp luật liên quan tới điều ước.

- Trong một số trường hợp khi còn có ý kiến khác nhau giữa các cơ quan liên quan về sự cần thiết phải có điều chỉnh pháp luật trong nước để thực hiện một điều ước quốc tế cụ thể thì, cơ chế xử lý sự khác nhau này hiện nay cũng không rõ ràng, minh bạch và thống nhất.

- Trong trường hợp có sự thống nhất về việc cần có điều chỉnh pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế thì cũng thường xảy ra là những người đàm phán hay tham gia trực tiếp vào xây dựng điều ước không tham gia trực tiếp vào quá trình điều chỉnh pháp luật làm giảm hiệu quả của công tác này, thậm chí có khi còn điều chỉnh không đúng, không trúng vấn đề.

- Về mặt phương pháp luận còn có quan điểm khác nhau về giá trị pháp lý của việc “áp dụng trực tiếp” và điều chỉnh pháp luật; hoặc cam kết đã được quyết định áp dụng trực tiếp thì có đặt vấn đề sửa đổi pháp luật sau này không. Chẳng hạn như việc Quốc hội quyết định áp dụng trực tiếp một loạt các cam kết WTO có phải là điều chỉnh pháp luật (theo nghĩa sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ, ban hành mới) hay không.

- Hình thức văn bản quy phạm pháp luật được sử dụng để thực hiện điều ước quốc tế cũng khá đa dạng (từ luật của Quốc hội tới thông tư của Bộ, ngành) làm cho khó kiểm soát và quản lý, cũng như thiếu minh bạch.

Thể chế hiện hành của Việt Nam về điều chỉnh pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế đã được xây dựng và hoàn thiện trong thời gian qua. Việc thi hành Luật Điều ước bước đầu phát huy được hiệu quả, thay đổi một bước nhận thức của các cơ quan liên quan. Tuy nhiên, một số quy định của Luật cũng cần được tiếp tục nghiên cứu, đánh giá và hoàn thiện, ví dụ như khái niệm "áp dụng trực tiếp" và hệ quả pháp lý của nó đối với quy định tương ứng của pháp luật trong nước; công khai, minh bạch hơn quá trình, nội dung đàm phán các điều ước quốc tế, kể cả cơ chế tham vấn hay lấy ý kiến rộng rãi đối với những nội dung liên quan (như chúng ta đang làm trong công tác xây dựng pháp luật trong nước).

Thực tiễn thi hành Luật Điều ước cho thấy, còn không ít việc chúng ta phải tiếp tục làm để thi hành hiệu quả các quy định của Luật, trong đó có các quy định liên quan tới phối hợp liên ngành trong điều chỉnh pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế. đây có ba vấn đề cần phải có giải pháp sớm: thứ nhất, thay đổi quan niệm, nhận thức của các cơ quan và cán bộ liên quan trong việc bảo đảm thực hiện điều ước quốc tế của Việt Nam theo hướng tăng cường trách nhiệm và kỷ luật đối với cơ quan chủ trì đề xuất điều ước trong việc thực hiện đầy đủ các quy định của Luật Điều ước (giảm và tránh tình trạng đề xuất chung chung là điều ước quốc tế được áp dụng trực tiếp và không cần điều chỉnh pháp luật trong nước dù cho các quy định của điều ước chưa được hiểu thống nhất). Thứ hai, cơ chế phối hợp liên ngành trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế cần có sự gắn kết hơn nữa giữa những người trực tiếp đàm phán điều ước quốc tế với người tham gia soạn thảo văn bản pháp luật thực hiện điều ước đó (tốt nhất là có sự tham gia trực tiếp của những người đàm phán vào soạn thảo). Thứ ba, đẩy mạnh công tác đào tạo con người, chuyên gia để có hiểu biết về pháp luật quốc tế và pháp luật trong nước tạo thuận lợi cho việc đàm phán, ký, gia nhập và thực hiện các điều ước quốc tế (giảm và tránh tình trạng người đi đàm phán không nắm được thể chế pháp luật trong nước quy định như thế nào về nội dung đàm phán và ngược lại, người soạn thảo pháp luật trong nước không nắm được điều ước quốc tế của Việt Nam quy định như thế nào về nội dung soạn thảo).

[1]Bài viết là nghiên cứu riêng của tác giả và không nhằm mục đích thể hiện hay liên quan tới ý kiến, quan điểm của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào.

[2] Xem thêm Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP ngày 27/2/2007 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động nhằm thực hiện Nghị quyết 08.

[3] Xem quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 và quy trình ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế trong Luật Điều ước.

[4] Các điều ước quốc tế ở đây được hiểu theo nghĩa của Luật Điều ước và tập trung vào các điều ước về hội nhập kinh tế quốc tế. 

 [5] Một loạt các quy định khác của Luật Điều ước cũng có nội dung tương tự

[6] Xem Điều XVI.4 của Hiệp định WTO “Mỗi thành viên phải đảm bảo sự thống nhất các luật, quy định và những thủ tục hành chính với nghĩa vụ của mình được quy định trong các Hiệp định”. Ngoài ra, Việt Nam đã cam kết trong đoạn 134 của Báo cáo của Ban công tác đảm bảo các luật, các quy định và các biện pháp khác phù hợp với các nghĩa vụ WTO. Các Hiệp định WTO không quy định quy tắc cụ thể về việc các nghĩa vụ và cam kết WTO phải được thực thi thế nào. Liên quan đến việc thực thi trong nước các nghĩa vụ điều ước quốc tế, Công ước Viên về Luật Điều ước quốc tế năm 1969 quy định các nghĩa vụ điều ước quốc tế, về nguyên tắc, phải được tất cả các thành viên thực thi một cách thiện chí (Điều 26) và không thành viên nào có thể "viện dẫn các quy định pháp luật trong nước của mình để biện minh cho việc không thực thi một điều ước quốc tế”) (Điều 27). 

TS. Nguyễn Khánh Ngọc
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Quyền lựa chọn pháp luật trong tư pháp quốc tế Việt Nam (28/02/2013)
Giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế tại biển Đông (21/01/2013)
Tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa và luật pháp quốc tế (17/11/2011)
Một số vấn đề nhìn từ góc độ tố tụng trong vụ kiện đầu tiên của Việt Nam tại WTO (14/09/2011)
Trung Quốc và chiêu bài sử dụng luật quốc tế trong tranh chấp Biển đông (22/08/2011)
Việt Nam với việc phê chuẩn nghị định thư sửa đổi Hiệp định Trips (phần 2) (19/08/2011)
Một số vấn đề nhìn từ góc độ tố tụng trong vụ kiện đầu tiên của Việt Nam tại WTO (04/08/2011)
Việt Nam với việc phê chuẩn nghị định thư sửa đổi Hiệp định Trips (phần 2) (19/08/2011)
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo trong hai dự thảo luật

Công khai thông tin với việc thực hiện phản biện xã hội

Thư của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gửi Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

CÔNG BỐ VÀ TRAO NGHỊ QUYẾT BỔ NHIỆM VIỆN TRƯỞNG VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt Nam

Khai mạc trọng thể Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Lựa chọn chính sách cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay

Chất vấn và hậu chất vấn

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân