Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ năm, 25/05/2017, 08:31(GMT+7)
 
Quốc phòng, an ninh

Hướng đến một công cụ pháp lý vững chắc cho việc bảo đảm hòa bình trên Biển Đông

Việc xây dựng Bộ quy tắc ứng xử (Code of conduct - COC) trên Biển Đông giữa ASEAN – Trung Quốc đã chính thức khởi động tại Hội nghị hẹp Bộ trưởng ngoại giao ASEAN diễn ra vào hai ngày 10-11/1/2012, tại Campuchia. Tuy nhiên, COC có thể có giá trị ràng buộc về mặt pháp lý, có thể không. Việc có hay không tùy thuộc vào ý chí của các bên đuợc thể hiện trong văn kiện. Để COC thật sự tiến bộ hơn Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông (Declaration on the conduct of Parties in the South China Sea - DOC) hiện tại, các nước ASEAN cần bảo đảm để COC đó có giá trị pháp lý bắt buộc. Hơn nữa, COC đó phải có một điều khoản compromissory clause để các bên có thể khởi kiện ra Tòa án Công lý Quốc tế (International Court of Justice - ICJ) trong trường hợp có tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay thực thi COC. Để có thể đạt được một COC như vậy, việc đàm phán ký kết văn kiện này nên được thực hiện trong khuôn khổ Thượng đỉnh Đông Á, thay vì trong khuôn khổ ASEAN – Trung Quốc như hiện nay.

Ngày 21/7/2011, các quốc gia ASEAN và Trung Quốc đã ký kết Hướng dẫn thực thi Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông - DOC. Tuy nhiên, ngay sau khi bản Hướng dẫn này được ký kết, có nhiều nước đã hối thúc ký kết COC. Đến nay, việc xây dựng COC giữa ASEAN - Trung Quốc đã chính thức khởi động tại Hội nghị hẹp Bộ trưởng ngoại giao ASEAN diễn ra vào hai ngày 10-11/1/2012, tại Campuchia2.

Lý do mà các nước phải nghĩ đến một văn kiện tiến xa hơn DOC là vì DOC, cũng như bản Hướng dẫn của nó, có rất nhiều hạn chế. Có thể kể  ra ba hạn chế lớn nhất như sau3:

Trước hết, phạm vi áp dụng của DOC không rõ ràng. Văn bản này không phân định rõ vùng tranh chấp và vùng không tranh chấp. Do vậy, khi có một sự kiện xảy ra thì Trung Quốc nói rằng đó là vùng không tranh chấp, và không chịu sự điều chỉnh của DOC, trong khi các nước khác thì cho rằng sự kiện đó thuộc phạm vi điều chỉnh của DOC. Hoặc ngược lại, khi một sự kiện xảy ra trong những vùng biển rõ ràng thuộc các nước khác nhưng Trung Quốc lại cho rằng đó là thuộc vùng tranh chấp và Trung Quốc lại can thiệp.

Thứ hai, các quy định của DOC không rõ ràng và thiếu cụ thể. Do vậy, việc giải thích dễ dẫn đến sự tùy tiện theo mục đích của mỗi bên. Trên thực tế là Trung Quốc luôn lợi dụng kẽ hở này để giải thích theo hướng có lợi cho mình.

Điểm thứ ba và quan trọng nhất là DOC hiện tại không phải là một điều ước quốc tế và không có giá trị ràng buộc về mặt pháp lý. Nó chỉ là thể hiện sự cam kết chính trị, ràng buộc các quốc gia về mặt đạo đức.

Nhìn vào hồ sơ tranh chấp Biển Đông, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng Trung Quốc đã và đang bỏ qua rất nhiều quy định có giá trị pháp lý bắt buộc, thậm chí những quy định cơ bản nhất của luật quốc tế. Đã vậy, Trung Quốc càng ngày càng trở nên mạnh bạo hơn trong các tuyên bố và hành động liên quan đến tranh chấp. Do vậy, việc trông chờ một văn bản không có giá trị pháp lý như DOC để bảo đảm hòa bình trên Biển Đông là điều không thực tế.

Vì thế, việc ban hành một văn bản khác như COC là điều hết sức cần thiết. Việc khắc phục hạn chế về giá trị pháp lý của DOC là điều cơ bản mà COC cần giải quyết trước tiên. Ngoài ra, giả dụ như COC có giá trị ràng buộc về mặt pháp lý, các Bên cũng cần có thêm những quy định đảm bảo việc thi hành trên thực tế một cách hữu hiệu.

Do vậy, phạm vi của bài viết này giới hạn ở việc nghiên cứu về hạn chế thứ ba4, tức phân tích cơ sở pháp lý và đề ra những giải pháp để bảo đảm văn kiện đang đàm phán có giá trị ràng buộc về mặt pháp lý. Đồng thời, bài viết này cũng nhằm đề ra những giải pháp để chế hiệu quả đảm bảo giá trị thi hành của văn kiện đó để từ đó có thể bảo đảm hòa bình trên Biển Đông.

1. Giá trị pháp lý của COC cần ký kết

Theo các nước ASEAN, Trung Quốc cũng như những quốc gia ngoài tranh chấp nhưng quan tâm như Hoa Kỳ, DOC cũng như hướng dẫn thực thi DOC chỉ là một bước để tiến tới ký kết một COC. Rất nhiều quốc gia trông chờ vào COC như là một công cụ pháp lý bảo đảm hòa bình trên Biển Đông5.

Tuy nhiên, việc COC có khả năng thực hiện được chức năng đó hay không còn phụ thuộc vào rất nhiều điều, xuất phát từ giá trị bắt buộc của COC. Vì vậy, điều cần thiết là cần nghiên cứu giá trị của COC theo luật quốc tế nói chung để tìm ra những giải pháp cho COC trên Biển Đông hiện đang đàm phán.

1.1.  Giá trị pháp lý bắt buộc của COC dưới ánh sáng của luật quốc tế

Có tác giả cho rằng, COC không có giá trị pháp lý bắt buộc6. Tuy nhiên, trên thực tế, mỗi COC có giá trị pháp lý bắt buộc7 hay không tùy thuộc vào mong muốn của các bên và được thể hiện trong chính những COC đó cũng như bối cảnh ký kết nó.

Có một số COC do các chủ thể của công pháp quốc tế ký kết nhưng không có giá trị bắt buộc. Ví dụ, Bộ quy tắc ửng xử của Liên minh Châu Âu về việc thực thi Công ước về xóa bỏ việc đánh thuế hai lần trong trường hợp điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp thành viên8. Lời nói đầu của COC này quy định rằng COC là một cam kết chính trị và không ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của các quốc gia thành viên hoặc thẩm quyền liên quan của các Quốc gia thành viên và của Liên minh xuất phát từ công ước. Đối với COC của FAO về đánh cá có trách nhiệm9, mục 1.1 của COC này quy định rằng COC này là tự nguyện. Tuy nhiên một vài phần của COC này được dựa trên các quy tắc liên quan của luật quốc tế và do đó có tính ràng buộc các bên.

Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là tất cả các quy tắc ứng xử sẽ ký trong tương lai cũng sẽ không có giá trị bắt buộc giống như vậy. Một COC, hay một văn kiện pháp lý trong công pháp quốc tế nói chung, không có giá trị bắt buộc về mặt pháp lý được ký kết trong trường hợp các bên muốn đưa ra một nội dung pháp lý nhưng chưa muốn chuyển ngay nội dung đó thành cam kết pháp lý bắt buộc. COC cũng không có giá trị bắt buộc trong trường hợp nội dung của nó chưa chín muồi về mặt chính trị hay thậm chí về mặt pháp lý.

Nhưng điều đó không có nghĩa là tất cả các văn kiện pháp lý có tên gọi là bộ quy tắc ứng xử đều không có giá trị bắt buộc. Một số bộ quy tắc ứng xử vẫn có thể được xem là một điều ước quốc tế - và do vậy đương nhiên là có giá trị bắt buộc - nếu như nó thỏa mãn những tiêu chí được quy định bởi Công ước Viên 1969 về luật điều ước quốc tế10 (Công ước Viên). Theo Công ước này, một văn bản được xem là một điều ước quốc tế thì sẽ có giá trị bắt buộc về mặt pháp lý. Tuy nhiên một văn bản được xem là một điều ước quốc tế hay không không phụ thuộc vào tên gọi của văn bản đó, mà tùy thuộc vào bản chất của văn bản đó. Điều 2, khoản 1 điểm a của Công ước này quy định rõ: “Thuật ngữ “điều ước” dùng để chỉ một thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, dù được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau và với bất kể tên gọi riêng của nó là gì”11.

Rõ ràng rằng Công ước Viên chỉ ra rằng, ý chí của các bên là điều quyết định đến giá trị bắt buộc của một văn kiện. Nếu các bên muốn có một cam kết pháp lý và chuyển nó vào các điều khoản của COC, thì COC có thể không những có giá trị pháp lý mà còn cả giá trị pháp lý bắt buộc.

Tòa án Công lý Quốc tế cũng có nhiều án lệ mà ở đó Tòa đã nghiên cứu các điều khoản và bối cảnh ký kết của một văn kiện để công nhận và giải thích ý chí của các bên phù hợp với các điều khoản của Công ước Viên và xác định văn kiện đó có giá trị pháp lý bắt buộc hay không. Trong vụ án Thềm lục địa biển Egée, khi xem xét bản thông cáo chung giữa Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kì ngày 31/5/1975, Tòa án Công lý Quốc tế đã ghi nhận rằng “không tồn tại bất kỳ một quy tắc nào trong luật quốc tế cấm việc một thông cáo chung tạo thành thỏa thuận quốc tế…”12.

Hoặc, trong vụ án Phân định biển và vấn đề lãnh thổ giữa Qatar và Bahrain13, Tòa án Công lý Quốc tế, bằng phán quyết ngày 1/7/199414, đã nhận định rằng “một thỏa thuận quốc tế có thể có những hình thức đa dạng và được thể hiện dưới nhiều tên gọi khác nhau”15. Từ đó, Tòa đã công nhận những “thư trao đổi” và cả “biên bản” là những thỏa thuận quốc tế tạo ra quyền và nghĩa vụ giữa các bên16.

Từ những phân tích trên, có thể kết luận rằng, có nhiều COC không có giá trị bắt buộc về mặt pháp lý17. Nhưng, cũng không có cơ sở để kết luận rằng một văn kiện pháp lý sẽ không được xem là một điều ước quốc tế, tức không có giá trị bắt buộc, bởi vì nó có tên gọi là “bộ quy tắc ứng xử”. Nói cách khác, có một số COC không có giá trị bắt buộc về mặt pháp lý, và có một số COC có giá trị này. Việc có hay không là tùy vào ý muốn của các bên18, được thể hiện trong chính COC đó cũng như dựa vào bối cảnh ký kết COC đó.

1.2. Trường hợp COC trên Biển Đông

Áp dụng kết luận trên đây cho COC trên Biển Đông đang được đàm phán, rõ ràng rằng chúng ta chưa biết được COC này trong tương lai sẽ có giá trị bắt buộc về mặt pháp lý hay không. Điều đó tùy thuộc vào ý chí của các bên ký kết.

Nếu một COC trên Biển Đông không có giá trị bắt buộc về mặt pháp lý, thì nó sẽ chẳng tiến bộ hơn bao nhiêu so với DOC hiện tại. Và Trung Quốc vẫn cứ tiếp tục leo thang trong tranh chấp và gây căng thẳng, đe dọa hòa bình trong khu vực.

Để COC tiến bộ hơn DOC, điều cần thiết và cơ bản là COC đó phải có giá trị pháp lý bắt buộc. Để như thế, các nước ASEAN mà đặc biệt là Việt Nam, Philippines và Malaysia, vốn là những bên liên quan nhiều nhất trong tranh chấp, cần phải cố gắng để đưa một điều khoản để khẳng định tính bắt buộc về mặt pháp lý của COC. Đồng thời, các nước ASEAN cũng phải né tránh bất cứ quy định nào hay bất kỳ một hành vi nào trong quá trình ký kết mà có thể bị diễn giải về sau rằng COC đó không có giá trị bắt buộc về mặt pháp lý.

Nếu có thể, thay vì dùng tên gọi là COC, các bên có thể dùng tên gọi khác phổ biến hơn được dùng cho điều ước quốc tế, ví dụ như hiệp ước hay hiệp định…19 Điều đó sẽ giúp phòng ngừa khả năng một bên nào đó sẽ giải thích một cách sai lệch giá trị bắt buộc của văn kiện đó theo hướng có lợi cho mình trong quá trình thực thi.

Có một văn kiện pháp lý có giá trị bắt buộc như nêu ở phần trên hẳn sẽ là khó. Tuy nhiên, dù là có giá trị pháp lý bắt buộc, nó cũng sẽ có ý nghĩa rất ít cho việc bảo đảm hòa bình trên Biển Đông nếu như thiếu vắng một cơ chế bảo đảm thi hành khả thi và hiệu quả.

2. Cơ chế bảo đảm thi hành văn kiện 

Hiến chương Liên hiệp quốc là một điều ước cơ bản, phổ quát trong luật quốc tế, có giá trị cao hơn các điều ước quốc tế khác. Hiến chương này nghiêm cấm việc sử dụng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực và yêu cầu giải quyết các tranh chấp một cách hòa bình (Điều 2.3, 2.4 và chương VI của Hiến chương). Thế nhưng, bằng việc dùng vũ lực để chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa năm 1974 và một phần Trường Sa năm 1988, cũng như chiếm đảo đá ngầm Vành Khăn của Philippines vào năm 1995, Trung Quốc đã vi phạm rõ ràng những quy định này. Hành động bạo lực này của Trung Quốc đã không bị áp dụng một chế tài pháp lý nào.

Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển quốc tế (United Nations Convention on the Law of the Sea – UNCLOS) là một công ước vô cùng quan trọng, hoàn toàn mang tính ràng buộc về mặt pháp lý, hiện đã được 162 quốc gia phê chuẩn20. Vậy mà, những yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông hoàn toàn trái với những quy tắc cơ bản của công ước này. Nổi bật nhất của việc vi phạm UNCLOS là Trung Quốc đã vẽ đường cơ sở thẳng xung quanh quần đảo Hoàng Sa21 và ra yêu sách về đường đứt khúc 9 đoạn hình chữ U (đường lưỡi bò) chiếm trên 80% diện tích trên Biển Đông22. Thậm chí, yêu sách trái cơ sở pháp lý một cách rõ ràng này cũng đã được Trung Quốc đệ trình lên Liên hiệp quốc, khi họ gửi thư lên tổ chức này vào ngày 7/5/2009 để phản đối việc đăng ký thềm lục địa mở rộng của Việt Nam và Malaysia23. Sự vô lý này của Trung Quốc lại không được đưa ra xét xử.

Những quy định cơ bản của luật quốc tế có giá trị bắt buộc cao như vậy mà Trung Quốc vẫn bỏ qua, thì khó có thể tin rằng Trung Quốc là một chủ thể đáng tin cậy trong việc tuân thủ luật pháp quốc tế, và càng không đáng tin cậy khi họ hành xử trên Biển Đông, nơi mà nước này đã liên tục vi phạm luật pháp quốc tế và cũng là nơi mà họ tuyên bố là một trong những “lợi ích cốt lõi”. Do đó, dù là COC được ký trong tương lai có giá trị bắt buộc về mặt pháp lý, thì cũng chưa chắc gì COC đó sẽ được Trung Quốc tuân thủ nghiêm túc.

Do vậy, điều cần thiết là chúng ta phải tìm ra lỗ hổng trong khuôn khổ pháp lý hiện tại   và từ đó rút kinh nghiệm cho COC trên Biển Đông nhằm bảo đảm giá trị thi hành cho văn kiện này trong tương lai. 

2.1. Lỗ hổng trong khuôn khổ pháp lý hiện tại

Một trong những lý do mà Trung Quốc phớt lờ hai văn kiện trên là bởi vì hiện tại, không có cơ chế nào để các bên có thể khởi kiện ra một tòa án hay trọng tài nào đó để yêu cầu giải quyết tranh chấp.

Các tòa án và trọng tài có thể có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp trên Biển Đông là các tòa án và trọng tài theo UNCLOS đối với những tranh chấp liên quan đến luật biển. Ngoài ra, theo Hiến chương Liên hiệp quốc, Tòa án Công lý quốc tế cũng có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông, liên quan đến đảo và biển.

Từ trước đến nay, đối với tranh chấp trên Biển Đông, chính sách của Trung Quốc là “ba không”: không nêu rõ yêu sách, không đàm phán đa phương24 và không quốc tế hóa tranh chấp, trong đó không chấp nhận đưa tranh chấp ra bất kỳ cơ quan tài phán quốc tế nào25. Do vậy, Trung Quốc đã thực hiện những chiến lược để tránh bị các cơ quan tài phán quốc tế xét xử liên quan đến tranh chấp trên Biển Đông.

Trung Quốc đã  tuyên bố vào ngày 25/8/2006 là không đồng ý chọn các cơ quan tòa án và trọng tài theo UNCLOS để giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc phân định ranh giới biển26. Do vậy, sẽ rất khó để các cơ quan tài phán được quy định trong mục 2 của Chương XV của UNCLOS được xét xử về tính hợp pháp trong yêu sách đường chữ U của nước này.

Còn đối với Tòa án Công lý Quốc tế, Tòa chỉ có thẩm quyền giải quyết một tranh chấp một khi tất cả các bên trong tranh chấp công nhận thẩm quyền của tòa cho vụ tranh chấp đó. Sự công nhận này có thể thực hiện theo những cách thức sau đây27:

Cách thứ nhất: Thông qua một thỏa thuận đặc biệt: hai hoặc nhiều Nhà nước trong tranh chấp về một vấn đề cụ thể có thể đồng ý cùng đưa tranh chấp ra Tòa và ký kết một thỏa thuận để đưa ra Tòa;

Cách thứ hai: Thông qua một điều khoản gọi là compromissory clauses trong một hiệp ước. Hiện có trên 30028 điều ước quốc tế chứa compromissory clauses, theo đó các bên cam kết trước là sẽ chấp nhận thẩm quyền xét xử của Tòa nếu có tranh chấp phát sinh từ việc giải thích hoặc áp dụng điều ước đó;

Cách thứ ba: Một tuyên bố đơn phương: theo quy định tại Điều 36, Quy chế Tòa án Công lý Quốc tế - ICJ (vốn là một bộ phận không thể tách rời của Hiến chương Liên hiệp quốc), một quốc gia là thành viên của Quy chế Tòa án Công lý Quốc tế có thể tự nguyện ra một tuyên bố đơn phương công nhận thẩm quyền xét xử của Tòa là bắt buộc đối với bất kỳ quốc gia nào khác cũng có tuyên bố chấp nhận như vậy. Hệ thống điều khoản tùy nghi này đã tạo ra một nhóm các quốc gia công nhận thẩm quyền xét xử của Tòa đối với bất kỳ tranh chấp nào phát sinh giữa các quốc gia đó với nhau trong tương lai. Về nguyên tắc, bất kỳ nước nào trong nhóm này cũng có quyền đưa một hay nhiều quốc gia trong nhóm ra trước Tòa. Các tuyên bố có thể chứa các bảo lưu nhằm hạn chế thời hạn của tuyên bố hoặc loại trừ một số loại tranh chấp. Các quốc gia đăng ký tuyên bố này với Tổng Thư ký Liên hiệp quốc.

Ngoài ra, theo quy tắc forum prorogatum, trong trường hợp một quốc gia chưa thừa nhận thẩm quyền của Tòa án Công lý Quốc tế, và nếu có một đơn kiện được một quốc gia khác nộp lên Tòa án Công lý Quốc tế để kiện quốc gia chưa thừa nhận đó, quốc gia bị kiện và chưa thừa nhận đó có thể chấp nhận thẩm quyền của Tòa án Quốc tế về biển (CIJ) và lúc đó, Tòa án Công lý Quốc tế sẽ có thẩm quyền để giải quyết vụ kiện đó. 

Trong ba cách thức đầu tiên, Trung Quốc chưa hề thực hiện cách nào để công nhận thẩm quyền xét xử của Tòa cho tranh chấp Biển Đông. Vì vậy, các bên trong tranh chấp không thể khởi kiện Trung Quốc trước Tòa, ngay cả khi hành xử của Trung Quốc trong tranh chấp đó vi phạm rõ ràng Hiến chương Liên hiệp quốc và UNCLOS. Đối với cách thức thứ tư, sẽ khó có khả năng Trung Quốc chấp nhận một khi các quốc gia khác khởi kiện Trung Quốc lên Tòa án Công lý Quốc tế liên quan đến tranh chấp trên Biển Đông. Đây chính là lỗ hổng đối với việc thực thi hai văn kiện này. Một văn kiện về quy tắc ứng xử trên Biển Đông trong tương lai cần tránh vết xe đổ đó.

2.2.  Kinh nghiệm rút ra cho văn kiện về quy tắc ứng xử trên Biển Đông

Rút kinh nghiệm từ những vấn đề trên, để đảm bảo cho COC được tuân thủ nghiêm chỉnh, cần có cơ chế để các bên có thể khởi kiện ra Tòa án Công lý Quốc tế29 trong trường hợp có tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay thực thi COC.

Trong số ba cách thức để các bên công nhận thẩm quyền xét xử của Tòa án Công lý Quốc tế như được nêu trên, cách thứ nhất sẽ rất khó khả thi đối với việc giải thích và xét xử tranh chấp phát sinh từ việc thực thi COC. Bởi lẽ, một khi COC đã có hiệu lực, và một khi Trung Quốc đã muốn vi phạm nó, thì Trung Quốc sẽ khó mà chấp nhận thẩm quyền của Tòa để bị xét xử sự vi phạm này. Vì vậy, trông đợi vào việc Trung Quốc công nhận thẩm quyền của Tòa theo cách thứ nhất để giải thích và bảo đảo sự thi hành của COC hẳn sẽ rơi vào bế tắc, giống như sự bế tắc mà việc thực thi Hiến chương Liên hiệp quốc và UNCLOS đã và đang gặp phải trên Biển Đông.

Đối với cách thứ ba, hiện nay, chỉ có Philippinnes là đã tuyên bố đơn phương công nhận thẩm quyền xét xử bắt buộc của Tòa30, nhưng tuyên bố này lại loại trừ tranh chấp liên quan đến lãnh thổ, lãnh hải, nội thuỷ và các quyền được tuyên bố và thi hành bởi Philippines31. Những nước khác như Malaysia, Brunei, Trung Quốc và cả Việt Nam chưa đưa ra tuyên bố này và do vậy, chưa thuộc nhóm này. Trong khi đó, sẽ khó có khả năng Trung Quốc ra tuyên bố để đơn phương công nhận thẩm quyền xét xử của Tòa một cách bắt buộc. Trong trường hợp nếu Trung Quốc đưa ra một tuyên bố như vậy, thì khả năng rất cao là Trung Quốc sẽ đưa ra bảo lưu để loại trừ các tranh chấp trên Biển Đông. Nói cách khác, việc Trung Quốc công nhận thẩm quyền của Tòa đối theo cách thứ ba là khó xảy ra.

Như vậy, trong số ba cách thức công nhận thẩm quyền của Tòa như đã nêu trên, cách thứ hai là có khả thi nhất đối với việc giải thích COC và xét xử các tranh chấp liên quan đến việc thực thi COC. Do vậy, trong quá trình đàm phán và ký kết COC, các quốc gia trong tranh chấp cần đưa vào văn kiện này một compromissory clause. Điều khoản này sẽ giúp cho bất kỳ quốc gia ký kết nào của COC cũng có quyền khởi kiện bên ký kết khác một khi bên ký kết khác đó không tuân thủ các quy định của COC.

Điều khoản compromissory clause sẽ giúp cho COC không chỉ trở thành một văn kiện cho những khẩu chiến ngoại giao, mà là một công cụ pháp lý thực sự cho việc bảo đảm hòa bình và ổn định trong khu vực. Bởi lẽ, khi có bất đồng liên quan đến việc giải thích hay thực thi COC, bên cho là bị vi phạm có thể đệ trình bất đồng lên Tòa án Công lý Quốc tế. Tòa sẽ thụ lý giải quyết mà không cần phải có sự chấp nhận của bên bị cho là vi phạm, và do vậy không cần có một thỏa thuận đặc biệt (theo cách thứ nhất).

3. Chiến lược đàm phán để đạt được một COC có giá trị ràng buộc và có cơ chế đảm bảo thi hành

Việc đạt được một COC có giá trị bắt buộc và có cơ chế bảo đảm thi hành cao như vậy hẳn sẽ là rất khó khăn. Việc đàm phán văn kiện đó trong khuôn khổ ASEAN-Trung Quốc như hiện nay hẳn sẽ khó khả thi, bởi lẽ các nước ASEAN sẽ không đủ mạnh để gây áp lực lên Trung Quốc và yêu cầu Trung Quốc phải chấp nhận những điều khoản ràng buộc nhiều như vậy.

Trong khi đó, những nước như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ, Úc và các nước khác trong khu vực rất quan ngại đến tình hình tranh chấp trên Biển Đông, và có khi là đối tượng bị chính Trung Quốc quấy nhiễu trên Biển Đông32. Do vậy, để có thể đạt được một COC như được đề xuất trong nghiên cứu này, chúng tôi cho rằng, nên đàm phán văn kiện đó trong một khuôn khổ mà có sự tham gia hay xúc tác của Hoa Kỳ, Ấn Độ, Nhật Bản, Úc. Thượng đỉnh Đông Á là một khuôn khổ lý tưởng để thực hiện điều này.

Thượng đỉnh Đông Á hiện bao gồm 18 thành viên. Ngoài ASEAN ra, khuôn khổ này bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật, Hàn Quốc, Úc, New Zeland, và có thêm Mỹ và Nga kể từ ngày 19/11/2011.

Nguyên nhân ra đời của Thượng đỉnh Đông Á xuất phát từ thất bại của Nhật trong việc đối trọng với Trung Quốc trong khuôn khổ ASEAN+3 (ASEAN, Nhật, Hàn Quốc và Trung Quốc). Nhằm để xây dựng một khu vực mậu dịch tự do Đông Á mà không nằm dưới sự thống trị của Trung Quốc, Nhật đã ra sức vận động ngoại giao để kết nạp thêm những nước còn lại nhằm đủ khả năng đối trọng với Trung Quốc33.

Đối với tranh chấp trên Biển Đông, trong số những thành viên của Thượng đỉnh Đông Á, Trung Quốc là một bên tranh chấp mạnh bạo nhất trên Biển Đông. Các nước khác thì có quyền lợi thiết thân liên quan đến hòa bình và an ninh trên Biển Đông. Riêng Mỹ thì đã từng tuyên bố rằng an ninh trên Biển Đông là lợi ích quốc gia của họ.

Do vậy, việc đưa COC ra đàm phán trong khuôn khổ Thượng đỉnh Đông Á là một điều hết sức cần thiết.

Việt Nam cần học hỏi kinh nghiệm của Nhật Bản trong việc đối trọng Trung Quốc khi xây dựng Thượng đỉnh Đông Á34, nhằm đưa vấn đề Biển Đông, trong đó có việc đám phán COC với nội dung như được đề xuất ở trên, vào chương trình nghị sự của khuôn khổ này, nhằm đối trọng Trung Quốc trong tranh chấp trên Biển Đông.

Chỉ thông qua Thượng đỉnh Đông Á, các bên liên quan mới có thể buộc Trung Quốc chấp nhận đưa vào COC những điều khoản nhằm vừa đảm bảo giá trị ràng buộc về mặt pháp lý của COC, vừa có cơ chế để có thể khởi kiện ra Tòa án Công lý Quốc tế một khi có tranh chấp liên quan đến việc giải thích và thực thi COC trên Biển Đông đó.

(1) Tác giả xin cảm ơn Giáo sư Nathalie ROS, Tổng thư ký Hiệp hội Quốc tế về Luật biển, đã có những ý kiến quý giá trong quá trình tác giả nghiên cứu vấn đề này. Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến Dương Danh Huy, Nguyễn Hồng Thao, Nguyễn Đăng Thắng, Vũ Hải Đăng về những trao đổi và nhận xét trong quá trình viết bài này.

(2) Linh Thư, Khởi động xây dựng bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông

   Vietnamnet,http://www.vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/56739/khoi-dong-xay-dung-bo-quy-tac-ung-xu-o-bien-dong.html, truy cập ngày 16/1/2012.

(3) Những hạn chế này cũng là lý do mà trong DOC (Khoản 10), các Bên cũng đã cam kết hướng đến việc ban hành một COC để bảo đảm hơn nữa hòa bình và bền vững trên Biển Đông.

 (4) Đối với hạn chế thứ nhất và thứ hai nêu trên, xem:  Nguyễn Thị Thanh Hà và Nguyễn Đăng Thắng, Một số suy nghĩ về Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông, trên mạng,   http://nghiencuubiendong.vn/toa-dam-hoi-thao/hoi-thao-quoc-gia-ve-bien-dong-lan-thu-hai-ha-noi-42011/1429-mt-s-suy-ngh-v-b-quy-tc-ng-x--bin-ong.

(5) Xem Jian Junbo, “China averts collision in South China Sea”, Asia Times, trên mạng http://www.atimes.com/atimes/China/MG29Ad01.html  (tất cả các đường dẫn trong bài viết này đều được truy cập lần cuối vào ngày 6/10/2011, trừ khi được nói rõ khác đi).

(6) Ví dụ: Lê Hồng Hiệp, “Đâu là giải pháp cho hòa bình Biển Đông?”, BBC Tiếng Việt, ngày 20/7/2011, trên mạng, http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/07/110720_asean_coc.shtml; Le Hong Hiep, “Law and the South China Sea”, The Diplomat Blog, ngày 19/7/2011, trên mạng http://the-diplomat.com/new-leaders-forum/2011/07/19/law-and-the-south-china-sea/.

(7) Cần phân biệt “giá trị pháp lý bắt buộc” với “giá trị pháp lý”. Một văn kiện có thể có giá trị pháp lý nhưng không có giá trị bắt buộc về mặt pháp lý.

(8) Công báo của Liên minh Châu Âu C176/8, ngày 28/7/2006.

(9) Trên mạng : http://www.fao.org/docrep/005/v9878e/v9878e00.HTM.

(10) Trên mạng : http://untreaty.un.org/ilc/texts/instruments/francais/traites/1_1_1969_francais.pdf.

(11) Nguyên bản tiếng Pháp : “L’expression “traité” s’entend d’un accord international conclu par écrit entre Etats et régi par le droit international, qu’il soit consigné dans un instrument unique ou dans deux ou plusieurs instruments connexes, et quelle que soit sa dénomination particulière”.

(12) Nguyên văn: “qu’il n’existait pas de règle de droit international interdisant qu’un communiqué conjoint constitue un accord international destiné à soumettre un différend à l’arbitrage ou au règlement judiciaire”. Xem CIJ, arrêt du 19 décembre 1978, CIJ Recueil 1978, p. 39.

(13) Chi tiết của vụ án này, xem tại:

          http://www.icj-cij.org/docket/index.php?p1=3&p2=1 &search=%22quatar =&case=87&code=qb&p3=5. Có trên mạng:           http://www.icj-cij.org/docket/index.php?sum=441&code=qb&p1=3&p2=3&case=87&k=61&p3=5

(14) Nguyên văn: “qu’un accord international peut prendre des formes variées et se présenter sous des dénominations diverses”, CIJ Recueil, 1994, tr. 120. (15) Nguyên văn: [The Court] “Finds that the exchanges of letters between the King of Saudi Arabia and the Amir of Qatar dated 19 and 21 December 1987, and between the King of Saudi Arabia and the Amir of Bahrain dated 19 and 26 December 1987, and the document headed “Minutes” and signed at Doha on 25 December 1990 by the Ministers for Foreign Affairs of Bahrain, Qatar and Saudi Arabia, are international agreements creating rights and obligations for the Parties”.

(16) Xem tại: http://www.icj-cij.org/docket/index.php?sum=441&code=qb&p1=3&p2=3&case=87&k=61&p3=5.

(17) Xem supra, tr. 3.

(18) Xem Jean-Paul Jacqué, Acte et norme en droit international public, Recueil des cours, Volume 227, Issue II, 1991, tr. 391.

(19) Để tránh sự rườm rà, từ COC trong bài viết này kể từ phần này trở đi cũng hàm ý chỉ văn kiện này. (20)
Theo UN, Status of the United Nations Convention on the Law of the Sea, of the Agreement relating to the implementation of Part XI of the Convention and of the Agreement for the implementation of the provisions of the Convention relating to the conservation and management of straddling fish stocks and highly migratory fish stocks, trên mạng, http://www.un.org/Depts/los/reference_files/status2010.pdf.

(21) Xem chi tiết về điều này tại Schaeffer Daniel, “Mer de Chine méridionale: Mythes et réalités du tracé en neuf traits”, Diplomatie, n° 36, 1-2/2009, tr. 72-82.

(22) Xem Phieu Le and Huy Duong, “China’s ‘Two No’s Policy’ on South China Sea disputes”, Sunday Times Magazine (The Manila Times), 17/4/2011, tr. B1 and A2, trên mạng, http://www.manilatimes.net/sunday-times/specialreport/china%E2%80%99s-%E2%80%98two-no%E2%80%99s-policy%E2%80%99-on-south-china-seadisputes/.

(23) Xem bản dịch của thư phản đối tại: http://www.un.org/depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/chn_2009re_mys_vnm_e.pdf 

(24)Chiến lược này của Trung Quốc càng ngày càng khó bảo đảm truớc sức ép của các nuớc trong tranh chấp và các nước quan tâm yêu cầu giải quyết tranh chấp trên Biển Đông bằng con đường đa phương.

(25)Susan L. Shirk, China Fragile Superpower, New York: Oxford University Press, 2007, p. 144; Phieu Le and Huy Duong, “China’s ‘Two No’s Policy’ on South China Sea disputes”, loc. cit.; Mark J. Valencia, Jon M. Van Dyke, Noel A. Ludwig, Sharing the Resources of the South China Sea, The Hague, Boston, London: Martinus Nijhoff Publishers, 1997, p. 77; Michaela P. del Callar, “China drags feet on formalizing Spratlys Code of Conduct”, The Daily Tribune, 31/10/2009, trên mạng, http://www.tribune.net.ph/nation/20091031nat5.html.

(26) Nguyên văn: “The Government of the People’s Republic of China does not accept any of the procedures provided for in Section 2 of Part XV of the Convention with respect to all the categories of disputes referred to in paragraph 1 (a) (b) and (c) of Article 298 of the Convention”. Xem UN – Division for Ocean Affairs and the Law of the Sea, Declarations and statements, trên mạng: 

http://www.un.org/depts/los/convention_agreements/convention_declarations.htm#China%20Upon%20ratification

(27) Xem ICJ, Frequently Asked Questions, trên http://www.icj-cij.org/information/index.php?p1=7&p2=2#2

(28) Ibid.

(29) Lý do chỉ chọn Tòa án Công lý Quốc tế mà không chọn các cơ quan tài phán theo UNCLOS là bởi vì COC trên Biển Đông liên quan đến nhiều vấn đề vượt ra ngoài phạm vi điều chỉnh của UNCLOS. Do vậy, các cơ quan tài phán của UNCLOS sẽ không có thẩm quyền để xét xử hết tất cả những tranh chấp có thể phát sinh từ việc giải thích và thực thi COC.

(30) Xem ICJ, Declarations Recognizing the Jurisdiction of the Court as Compulsory, trên mạng, http://www.icj-cij.org/jurisdiction/index.php?p1=5&p2=1&p3=3.

(31) Xem ICJ, Idem,  trên mạng, http://www.icj-cij.org/jurisdiction/index.php?p1=5&p2=1&p3=3&code=PH.

 (32) Ví dụ : sự kiện tàu USNS Impeccable của Mỹ bị Trung Quốc quấy nhiễu vào tháng 3 năm 2009, Xem Reuters, China-U.S. dispute called worst in 8 years, http://www.welt.de/english-news/article3353531/China-U-S-dispute-called-worst-in-8-years.html; hay sự kiện Trung Quốc yêu cầu tàu Airavat của Ấn Độ phải đổi hướng ngày 22/7/2011 trên Biển Đông, xem Ravi Velloor, “China warns off Indian ship in South China Sea”, The Straits Times,  http://www.asianewsnet.net/home/news.php?sec=1&id=21307

(33) Để xem phân tích về điều này, xem Lê Minh Phiếu, Le Vietnam et le principe de non-discrimination dans le commerce international des services, Luận án Tiến sĩ Luật, Bordeaux, 2011, 502 trang, từ trang 151 đến  trang 167.

(34) Ibid.


TS. Lê Minh Phiếu - Quỹ nghiên cứu Biển Đông.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo trong hai dự thảo luật

Công khai thông tin với việc thực hiện phản biện xã hội

Thư của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gửi Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

CÔNG BỐ VÀ TRAO NGHỊ QUYẾT BỔ NHIỆM VIỆN TRƯỞNG VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt Nam

Khai mạc trọng thể Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Lựa chọn chính sách cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay

Chất vấn và hậu chất vấn

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân