Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ hai, 23/07/2018, 05:38(GMT+7)
 
Kinh tế - dân sự

Trao đổi về một số nội dung dự kiến sửa đổi, bổ sung Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp

Theo Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2013, Quốc hội sẽ cho ý kiến và thông qua Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN) tại Kỳ họp thứ 5. Trên cơ sở các dự kiến sửa đổi, bổ sung của cơ quan chủ trì soạn thảo, chúng tôi xin trao đổi về một số nội dung như sau:

I. Về quan điểm, định hướng sửa đổi

Ngoài các quan điểm, nguyên tắc thông thường trong xây dựng hay sửa đổi, bổ sung một đạo luật như: đường lối, chính sách của Đảng; sự kế thừa và phát triển; hội nhập; tương thích với thông lệ và điều ước quốc tế…, theo chúng tôi, việc sửa đổi, bổ sung Luật thuế TNDN ở thời điểm hiện nay cần chú ý các quan điểm sau:

- Việc sửa đổi, bổ sung lần này không phải là tổng thể, căn bản, nên cần bảo đảm giữ vững các nguyên tắc, bản chất cũng như mục tiêu dài hạn của Luật thuế TNDN, không vì những xử lý chính sách mang tính tình thế trong bối cảnh kinh tế ngắn hạn mà làm phá vỡ các mục tiêu, định hướng dài hạn của một sắc thuế trực thu rất quan trọng cả ở khía cạnh ngân sách, động viên thu nhập, cả về khía cạnh đầu tư, kinh doanh.

- Việc sửa đổi cần tập trung vào hướng tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế suy giảm hiện nay, không nên có những sửa đổi làm tăng thêm gánh nặng thuế hay tăng các thủ tục hành chính thuế đối với doanh nghiệp.

- Bảo đảm hài hòa giữa thu ngân sách với khuyến khích đầu tư phát triển và tăng trưởng, giữa thu với nuôi dưỡng nguồn thu; chú ý đến việc đánh giá tác động kinh tế - xã hội của các sửa đổi, bổ sung, đặc biệt là trên khía cạnh giảm số thu của ngân sách nhà nước, bảo đảm cân đối ngân sách trong những năm tới.

II. Về các nội dung dự kiến sửa đổi, bổ sung

1. Thu nhập chịu thuế

Việc bổ sung một số khoản thu nhập mới phát sinh vào diện thu nhập chịu thuế là cần thiết, do khoản 2 Điều 3 Luật thuế TNDN hiện hành quy định về các khoản thu nhập khác thuộc diện thu nhập chịu thuế chưa bao quát hết như: thu nhập từ chuyển nhượng dự án đầu tư; thu nhập từ chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản; thu nhập từ chuyển nhượng quyền góp vốn, quyền tham gia dự án đầu tư, quyền kinh doanh. Trên thực tế, các khoản thu nhập này đã được quy định tại Nghị định số 122/2011/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 124/2008/NĐ-CP của Chính phủ, cần được luật hóa để bảo đảm sự thống nhất, rõ ràng và minh bạch của Luật.

2. Thu nhập được miễn thuế

Dự kiến sẽ bổ sung vào Điều 4 Luật thuế TNDN hiện hành một số khoản thu nhập được miễn thuế, gồm: thu nhập từ chuyển nhượng chứng chỉ giảm phát thải (CERs), thu nhập từ hoạt động tín dụng đầu tư phát triển, tín dụng xuất khẩu của Nhà nước của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (Ngân hàng PTVN); thu nhập từ hoạt động tín dụng cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác của Ngân hàng Chính sách xã hội; thu nhập từ hoạt động tín dụng đầu tư theo chức năng, nhiệm vụ của Quỹ đầu tư phát triển địa phương.

- Đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng chỉ giảm phát thải, chúng tôi cho rằng, việc bổ sung khoản thu nhập này vào thu nhập được miễn thuế là hoàn toàn hợp lý để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ sản xuất sạch, sử dụng công nghệ cao, thân thiện với môi trường, hạn chế tình trạng ô nhiễm. Quy định này cũng là xu thế chung của nhiều nước trên thế giới, nhất là đối với các nước đang phát triển. Về phương thức miễn thuế, cần tham khảo thêm kinh nghiệm các nước, tuy nhiên, theo chúng tôi, để việc miễn thuế này phản ánh đúng bản chất của thuế thu nhập thì nên áp dụng phương thức miễn thuế trên phần thu nhập có được từ chuyển nhượng CERs mà không nên miễn thuế theo thời gian. Một vấn đề nữa là chỉ miễn thuế cho lần chuyển nhượng đầu tiên hay cho bất kỳ lần chuyển nhượng nào có phát sinh thu nhập? Chúng tôi cho rằng, để bảo đảm sự công bằng giữa các doanh nghiệp trong chính sách khuyến khích đầu tư công nghệ sạch thì việc miễn thuế đối với khoản thu nhập này chỉ dành cho doanh nghiệp được cấp chứng chỉ CERs, tức là chỉ miễn thuế cho lần chuyển nhượng đầu tiên, còn những doanh nghiệp mua chứng chỉ này sau đó chuyển nhượng lại chưa hẳn đã là doanh nghiệp có chi phí đầu tư công nghệ sạch, vì vậy, không nên cho miễn thuế đối với các lần chuyển nhượng sau đó.  

- Đối với phần thu nhập thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao của Ngân hàng PTVN, Ngân hàng Chính sách xã hội và Quỹ đầu tư phát triển địa phương, chúng tôi cho rằng, việc bổ sung quy định miễn thuế đối với các khoản thu nhập từ hoạt động tín dụng của Ngân hàng PTVN và Ngân hàng Chính sách xã hội là hợp lý, vì đây là những ngân hàng chính sách, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, thậm chí Nhà nước còn phải cấp bù chênh lệch lãi suất cho hai ngân hàng này. Tuy nhiên, cũng cần chú ý đến hoạt động của hai ngân hàng này, vì phạm vi hoạt động của hai ngân hàng này đang có xu hướng mở rộng, có thêm những nghiệp vụ tiệm cận gần với hoạt động của các ngân hàng thương mại. Vì vậy, cần cân nhắc thêm về định hướng chính sách, chỉ miễn thuế đối với thu nhập từ hoạt động tín dụng hay miễn thuế cho toàn bộ thu nhập của hai Ngân hàng trên? Chúng tôi cho rằng, đối với các hoạt động dịch vụ ngân hàng, tiền tệ khác có thể vẫn phải nộp thuế TNDN bình thường theo quy định.

Đối với thu nhập của các Quỹ đầu tư phát triển địa phương thì rất không nên, vì theo Nghị định 138/2007/NĐ-CP của Chính phủ thì Quỹ đầu tư phát triển địa phương là tổ chức tài chính nhà nước của địa phương, thực hiện chức năng đầu tư tài chính và đầu tư phát triển, Quỹ có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ và có bảng cân đối kế toán riêng. Nghị định 138/2007/NĐ-CP  cũng quy định rõ nguyên tắc hoạt động của Quỹ là tự chủ về tài chính, bảo toàn và phát triển vốn, tự bù đắp chi phí và tự chịu rủi ro; thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ với ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật, không có một quy định nào xác định mục tiêu phi lợi nhuận của Quỹ hay quy định về miễn giảm thuế TNDN cho các Quỹ này. Về hoạt động đầu tư, Quỹ chỉ đầu tư vào các dự án đầu tư thoả mãn điều kiện là có hiệu quả và có khả năng thu hồi vốn trực tiếp; về hoạt động cho vay tín dụng, Quỹ cho vay với lãi suất là về nguyên tắc không thấp hơn lãi suất tín dụng đầu tư của Nhà nước. Từ những lý do trên, chúng tôi đề nghị không nên bổ sung quy định miễn thuế TNDN đối với các Quỹ này.

- Về bổ sung quy định miễn thuế đối với phần lợi nhuận không chia của cơ sở giáo dục đại học (GDĐH) tư thục. Trên cơ sở quy định của Luật GDĐH năm 2012: các cơ sở GDĐH phải dành ít nhất 25% để đầu tư phát triển cơ sở GDĐH... phần thu nhập này được miễn thuế TNDN, Bộ Tài chính dự kiến bổ sung thêm một khoản mới vào Điều 4 Luật thuế TNDN quy định miễn thuế đối với phần thu nhập của cơ sở GDĐH tư thục để lại để đầu tư phát triển cơ sở GDĐH”. 

Tuy nhiên, hiện nay ở nước ta có một số cơ sở, tổ chức Hội có tham gia tích cực vào một số lĩnh vực của đời sống xã hội, cung cấp một số dịch vụ công mang tính tự nguyện, từ thiện (đào tạo, tư vấn đời sống, pháp luật, văn hoá, nghiên cứu khoa học...). Thu nhập từ hoạt động của các tổ chức này được sử dụng cho mục đích, tôn chỉ của tổ chức mà không phân chia cho chủ sở hữu. Theo Luật thuế TNDN hiện hành, các tổ chức hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận (tổ chức có thu nhập không chia) nếu phát sinh thu nhập vẫn thuộc đối tượng nộp thuế và thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định chung. Vì vậy, có ý kiến đề nghị cần có quy định đặc thù đối với các tổ chức phi lợi nhuận để khuyến khích, tạo thuận lợi cho sự phát triển loại hình các tổ chức này trong khi xã hội càng phát triển thì càng có nhu cầu hình thành nhiều loại hình tổ chức này để chia sẻ dịch vụ công với Nhà nước.

Cơ quan chủ trì soạn thảo cho rằng, hiện nay pháp luật liên quan chưa có quy định về tổ chức hoạt động phi lợi nhuận hay tổ chức có thu nhập không chia nên việc sửa đổi, bổ sung Luật thuế TNDN theo hướng miễn thuế cho các tổ chức này là khó khả thi và cũng sẽ phát sinh vướng mắc đối với trường hợp doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh giữ lợi nhuận tái đầu tư mở rộng sản xuất, mà không chia cho các chủ sở hữu. Chúng tôi cho rằng, việc bổ sung quy định miễn thuế đối với phần lợi nhuận không chia của cơ sở GDĐH tư thục vào Luật Thuế TNDN là lợi bất cập hi, vì chỉ đơn giản là thu hút quy định này của Luật GDĐH vào Luật Thuế TNDN, nhưng rất có thể sẽ tạo nên một câu hỏi lớn trong dư luận là: đối với các cơ sở giáo dục tư thục khác, các tổ chức phi lợi nhuận khác có thu nhập nhưng không chia thì sao? Chẳng lẽ các cơ sở đó lại không được hưởng ưu đãi này? Và thậm chí là cả các doanh nghiệp, nếu họ cũng dùng lợi nhuận thu được để tái đầu tư mà không chia cho chủ sở hữu?

Tuy nhiên, qua ý kiến của Chính phủ cũng như các cơ quan của Quốc hội, thì cơ quan chủ trì soạn thảo đang dự kiến tiếp thu theo hướng, rà soát và thu hút tất cả các quy định về ưu đãi thuế TNDN đã được quy định trong các luật chuyên ngành khác vào Dự thảo Luật sửa đổi để bảo đảm tính thống nhất và minh bạch của chính sách. Chúng tôi cho rằng, đây cũng là một cách làm tốt, nhưng việc rà soát và cập nhật thống nhất vào Luật này cũng chỉ mang tính kỹ thuật, vì chúng ta không có đủ thời gian để đánh giá, phân tích và chọn lựa chính sách một cách kỹ càng khi con số thống kê cho thấy, có tới khoảng 50 đạo luật chuyên ngành hiện có những quy định hoặc là cụ thể, hoặc là dẫn chiếu đến các ưu đãi thuế được quy định trong Luật thuế TNDN hiện hành. Tương lai sẽ phải nghiên cứu kỹ về chính sách thuế đối với các đơn vị, cơ sở sự nghiệp cả công lập và tư thục, cả những tổ chức phi lợi nhuận hoặc tổ chức có thu nhập không chia để có chính sách thuế đồng bộ, hợp lý.

 3. Bù trừ lỗ của hoạt động chuyển nhượng bất động sản, chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng dự án đầu tư… với lãi của hoạt động sản xuất kinh doanh

Cơ quan chủ trì soạn thảo đề nghị bổ sung quy định: thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản, chuyển nhượng dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền tham gia dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản phải xác định riêng để kê khai nộp thuế, được bù trừ lãi, lỗ của các hoạt động này với nhau; trường hợp sau khi bù trừ mà vẫn bị lỗ thì doanh nghiệp được bù trừ với lãi của hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ tính thuế.  

Việc bổ sung quy định này trong điều kiện hiện nay là cần thiết, phù hợp với thực tiễn hoạt động kinh doanh bất động sản hiện nay. Tuy nhiên, xét về lâu dài cần cần nhắc, các quy định để giải quyết các vấn đề có tính tình thế như thế này có thể phá vỡ các nguyên tắc cơ bản, các mục tiêu dài hạn của chính sách, pháp luật về thuế TNDN, vì các quy định mang tính ưu đãi đã đưa vào Luật sau này muốn bỏ sẽ rất khó. Do vậy, chúng tôi nhất trí với định hướng chính sách này ở thời điểm hiện nay nhưng quy định này cần xử lý được các vấn đề về mặt kỹ thuật, để sau này, khi thị trường bất động sản khôi phục, hoạt động bình thường thì không còn chính sách này nữa nhưng vẫn không cần thiết phải sửa Luật.

4. Khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN

4.1. Quy định điều kiện về chi phí được trừ phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt

Việc sửa đổi, bổ sung quy định này là cần thiết, phù hợp với chủ trương hạn chế kinh tế tiền mặt, kiểm soát được thu nhập của các doanh nghiệp, đồng thời tăng cường kỷ luật kế toán, kiểm toán doanh nghiệp. Tuy nhiên, thực tế một số doanh nghiệp ở vùng sâu, vùng xa, hải đảo; doanh nghiệp thu mua nông sản, nguyên liệu của nông dân khó thực hiện được thanh toán không dùng tiền mặt. Đề nghị nghiên cứu thêm các trường hợp đặc thù để bảo đảm thuận lợi, công bằng cho doanh nghiệp trên cơ sở các quy định của pháp luật về thanh toán không dùng tiền mặt.

4.2. Chi quảng cáo tiếp thị, khuyến mại, hoa hồng môi giới, tiếp tân, khánh tiết, hội nghị, chi hỗ trợ tiếp thị, hỗ trợ chi phí, chiết khấu thanh toán

Bộ Tài chính đề nghị sửa đổi nội dung điểm n khoản 2 Điều 9 Luật thuế TNDN, theo đó nâng tỷ lệ khống chế về chi phí quảng cáo, khuyến mại từ 10% lên 15% (bỏ quy định ưu đãi đối với doanh nghiệp mới thành lập (15%), đồng thời rà soát loại bỏ một số khoản chi ra khỏi diện chi phí khống chế.

Chúng tôi đồng tình với việc loại bỏ một số khoản chi như chiết khấu thanh toán, chi báo biếu, báo tặng. Tuy nhiên, đối với việc nâng tỷ lệ khống chế lên 15%, không phân biệt doanh nghiệp mới, cũ thì cần có sự cân nhắc thêm. Luật hiện hành quy định là 10%, doanh nghiệp mới thành lập là 15%. Việc sửa đổi này cũng sẽ tác động đến giảm thu ngân sách, nhất là khi đồng thời sửa đổi giảm thuế suất. Bộ Tài chính mới chỉ căn cứ vào thực tiễn ý kiến của doanh nghiệp, chưa có thông tin về kinh nghiệm quốc tế, về đánh giá tác động đến thu ngân sách, đề nghị Bộ Tài chính giải trình bổ sung để tăng thêm tính thuyết phục.

Cũng có ý kiến cho rằng, nên bỏ quy định khống chế này mà thực hiện khấu trừ thực tế theo hoá đơn, chứng từ. Chúng tôi cho rằng, vẫn nên duy trì quy định này, tuy nhiên nên thực hiện theo nguyên tắc khấu trừ theo thực tế trên hoá đơn, chứng từ để doanh nghiệp quen dần với kỷ luật kế toán, kiểm toán nhưng cũng cần phải khống chế mức tối đa. Quy định 10% như hiện hành là phù hợp, đồng thời cũng thể hiện được chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với các doanh nghiệp mới thành lập (được áp dụng mức 15%), vừa thể hiện chính sách khuyến khích đầu tư, vừa phản ánh đúng chi phí thực của doanh nghiệp mới thành lập so với doanh nghiệp cũ, đã ổn định.

4.3. Bỏ quy định về khoản chi không được trừ đối với chi vượt định mức tiêu hao nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, hàng hóa; bổ sung thêm các khoản tài trợ được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập tính thuế TNDN đối với các khoản tài trợ theo chương trình của Nhà nước đối với các địa phương thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đồng thời rà soát để bổ sung cụm từ "nhà tình thương, nhà đại đoàn kết" cho người nghèo để bao quát các trường hợp thực tế phát sinh. Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với đề nghị của cơ quan chủ trì soạn thảo.

5. Vấn đề vốn mỏng

Luật Thuế TNDN hiện hành không có quy định về vốn mỏng (là tình trạng doanh nghiệp hoạt động chủ yếu dựa vào vốn đi vay, trong khi tỷ lệ vốn chủ sở hữu rất ít). Để đảm bảo phản ánh đúng chi phí lãi vay phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần đảm bảo an toàn tài chính cho doanh nghiệp và cho nền kinh tế, chống chuyển giá, cơ quan chủ trì soạn thảo đề nghị bổ sung một điểm mới vào khoản 2 Điều 9 của Luật, theo đó quy định không tính vào chi phí được trừ đối với phần chi trả lãi vay của khoản vay vốn tương ứng với khoản vay vượt quá 4 lần vốn chủ sở hữu, đối với một số lĩnh vực đặc thù như tín dụng, ngân hàng được áp dụng tỷ lệ cao hơn: không quá 10 lần vốn chủ sở hữu. Đồng thời, để phù hợp với thực tiễn, Dự thảo Luật quy định rõ lộ trình thực hiện và chỉ áp dụng đối với các khoản vay phát sinh từ ngày 01/01/2016 để doanh nghiệp có thời gian chủ động trong việc tái cơ cấu và cân đối lại các nguồn vốn hoạt động.  

 Việc đề nghị phần lãi vay phải trả vượt quá tỷ lệ được coi là vốn mỏng thì không được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN, xét về lý thuyết là hợp lý, chủ yếu được áp dụng ở các nước có nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, thực tế đối với Việt Nam hiện nay, phần lớn các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, vốn chủ sở hữu còn thấp. Việc bổ sung quy định này tại thời điểm suy giảm kinh tế hiện nay cần phải hết sức cân nhắc về thời điểm áp dụng. Chúng tôi đề nghị có thể chọn một trong hai phương án: hoặc chưa nên bổ sung vào Luật trong lần sửa đổi này, hoặc đưa vào nhưng có thời gian chuyển tiếp dài hơn để các doanh nghiệp biết và chuẩn bị, nên bắt đầu áp dụng cho các khoản vay từ ngày 01/01/2018 (sau 04 năm Luật này có  hiệu lực).

6. Thuế suất

Luật hiện hành quy định thuế suất thuế TNDN là 25%, chúng tôi cho rằng, việc giảm thuế suất phổ thông từ 25% xuống 23% như đề xuất của Bộ Tài chính là phù hợp với lộ trình cải cách hệ thống thuế đến năm 2020 đã được Thủ tướng phê duyệt, phù hợp trong mối tương quan với thuế suất các nước trong khu vực, bảo đảm tính cạnh tranh trong môi trường đầu tư. Tuy nhiên, cũng có ý kiến đề nghị giảm thuế suất chung xuống 20% và thực hiện ngay trong năm 2014. Cũng có ý kiến đề nghị quy định trong Luật lộ trình áp dụng thuế suất 20% bắt đầu từ năm 2016, để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư và tạo thêm hấp dẫn cho môi trường đầu tư Việt Nam, nhất là đối với đầu tư nước ngoài.

Chúng tôi cho rằng, cần hết sức cân nhắc đến những tác động ngân sách của việc điều chỉnh thuế suất xuống 20%. Nếu áp dụng thuế suất phổ thông 20% ngay từ 01/01/2014 thì có ưu điểm là tăng mức độ hấp dẫn thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài do mức thuế suất này có tính cạnh tranh cao so với các nước trong khu vực, tuy nhiên phương án này có tác động quá lớn tới thu ngân sách của năm 2014 - 2015. Theo tính toán của Bộ Tài chính, chỉ riêng việc giảm thuế suất 25% xuống 20% thì dự kiến giảm thu ngân sách năm 2014 đã vào khoảng 30.160 tỷ đồng, cộng với giảm thu do bổ sung ưu đãi đối với đầu tư mở rộng khoảng 2.081 tỷ đồng; nếu tính cả số giảm thu do sửa Luật Thuế thu nhập cá nhân (khoảng 13.350 tỷ đồng), thì tổng số giảm thu ngân sách năm 2014 lên tới khoảng 45.591 tỷ đồng. Ngoài ra, việc đưa thuế suất xuống 20% còn gây áp lực phải điều chỉnh mặt bằng thuế suất ưu đãi xuống mức thấp hơn, do đó số giảm thu có thể còn nhiều hơn (trường hợp giảm mức thuế suất ưu đãi 20% xuống mức 15% thì dự kiến giảm thu ngân sách năm 2014 thêm khoảng 5.500 tỷ đồng, do đó tổng số giảm thu ngân sách năm 2014 có thể lên tới khoảng 51.000 tỷ đồng).

Xu hướng đang được nhiều người ủng hộ là quy định trong Luật lộ trình áp dụng thuế suất 20% từ 01/01/2016 và giữ nguyên không điều chỉnh các mức thuế suất ưu đãi, tất nhiên đến 2016 sẽ chỉ còn một mức thuế suất ưu đãi là 10% áp dụng cho lĩnh vực, địa bàn đặc biệt ưu đãi đầu tư. Vừa có tác dụng hấp dẫn, khuyến khích đầu tư vừa không gây tác động giảm thu ngân sách đột ngột của năm 2014 và 2015. Theo tính toán của phương án này, thì dự kiến năm 2016 giảm thu ngân sách vào khoảng 25.165 tỷ đồng so với mặt bằng thuế suất 23%. 

Chúng tôi cho rằng quy định lộ trình giảm thuế suất xuống 20% trong Luật là hợp lý. Tuy nhiên, nhìn vào bối cảnh kinh tế hiện nay, đặc biệt là bức tranh ngân sách thì không nên áp dụng lộ trình này quá sớm, nếu tình hình kinh tế chưa có những cải thiện thì sức ép về ngân sách sẽ vẫn rất lớn, chúng tôi cho rằng, sớm nhất cũng là vào năm 2018, trong khi Chiến lược cải cách thuế của chúng ta đã được phê duyệt thì lộ trình này là năm 2020.

Về việc bổ sung thuế suất 20% đối với doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa là hợp lý, phù hợp với định hướng chính sách ưu đãi phát triển trong khu vực doanh nghiệp này của Đảng và Nhà nước, nhất là trong điều kiện các chính sách ưu đãi khác về tín dụng, về đất đai rất khó được thực hiện. Kinh nghiệm các nước trên thế giới cũng rất quan tâm đến chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa. Về tiêu chí loại doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa, cần thống nhất theo các tiêu chí chung nhưng nên theo nguyên tắc thoả mãn đồng thời cả hai tiêu chí: lao động và doanh thu. Thực tế từ năm 2009 đến nay, do kinh tế khó khăn nên mức thuế suất áp dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chỉ ở mức 17,5% (do được giảm 30% thuế TNDN từ Nghị quyết của Quốc hội).

7. Ưu đãi đối với đầu tư mở rộng

Trước Luật thuế TNDN năm 2008 đã có quy định ưu đãi đối với đầu tư mở rộng. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng ưu đãi này gặp nhiều khó khăn, do quan niệm và cả trong các văn bản hướng dẫn thực hiện của Nhà nước về đầu tư mở rộng không rõ, dẫn đến cách hiểu, cách làm không thống nhất. Mặt khác, việc kiểm tra, giám sát đối với việc kê khai của doanh nghiệp, việc tính thuế của cán bộ thuế, kỹ thuật tính toán, xác định doanh thu, thu nhập chịu thuế từ đầu tư mở rộng gặp nhiều khó khăn, lúng túng, thậm chí tuỳ tiện, tiêu cực, gây mất công bằng, tạo ra phản ứng của doanh nghiệp. Chính vì vậy, Luật thuế TNDN 2008 đã bỏ ưu đãi này. Việc bổ sung áp dụng thuế suất ưu đãi đối với đầu tư mở rộng của lần sửa đổi này là cần thiết, để khuyến khích đầu tư. Các khó khăn về mặt kỹ thuật khi áp dụng quy định này phải có giải pháp xử lý, không vì thế mà loại bỏ chính sách này. Tuy nhiên, cần phải quy định rất cụ thể về khái niệm đầu tư mở rộng, các tiêu chí về vấn đề này để dễ hiểu, dễ áp dụng và áp dụng một cách thống nhất, tránh tùy tiện; đồng thời khắc phục được những bất cập từ việc thực hiện quy định này trước đây trong kỹ thuật, trong kiểm tra, giám sát khai thuế, thu thuế./.

PGS,TS. Đinh Dũng Sỹ - Vụ Pháp luật Văn phòng Chính phủ
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai theo Hiến pháp 1992 và các vấn đề đặt ra (15/10/2013)
Chức năng kinh tế của chính quyền địa phương (04/10/2013)
Tự do cam kết, thỏa thuận và giới hạn đối với tự do cam kết, thỏa thuận - nhìn từ góc độ Hiến pháp (27/08/2013)
Xây dựng thể chế kinh tế thị trường bình đẳng trong sự thống nhất với vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước (23/07/2013)
Chế độ kinh tế trong Hiến pháp phải bảo đảm nền kinh tế vận hành hiệu quả và dựa trên nền tảng quyền con người (11/06/2013)
Bảo đảm công bằng và điều chỉnh quan hệ lợi ích khi sửa đổi Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (16/05/2013)
Bảo đảm công bằng và điều chỉnh quan hệ lợi ích khi sửa đổi Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (16/05/2013)
3.jpg
Đồng chí Nguyễn Đình Quyền, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc UBTVQH và ông Rhee, Ik Hyeon, Viện trưởng Viện Nghiên cứu pháp luật thuộc Chính phủ Hàn Quốc ký thỏa thuận hợp tác giữa hai cơ quan nghiên cứu tại Hà Nội, ngày 7/6/2018
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em qua công tác xét xử ở khu vực miền Trung - Tây nguyên

Tổng quan và đánh giá các quy định của pháp luật về đại biểu Quốc hội ở Việt Nam

Đặc điểm, yêu cầu và thực trạng phân cấp quản lý đất đai hiện nay

Tổ chức thi hành pháp luật theo Hiến pháp năm 2013 - nhân tố đảm bảo thực hiện nguyên tắc pháp quyền trong đời sống nhà nước và xã hội

Đồng bộ hóa luật tư hiện nay trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường: sự cần thiết và định hướng

kinh nghiệm xây dựng thể chế tự quyết cho các thành phố văn minh

Một số góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật An ninh mạng

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách kiến quốc trên nền tảng dân chủ

Khai mạc Phiên họp thứ 25 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Vai trò của Toà Hành chính trong bảo đảm quyền công dân theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân